Tập
5
Cuốn
95
Giải
Thích: Phẩm Bảy Thí Thứ 85
(Kinh
Ma ha Bát Nhã ghi: Phẩm Bảy Dụ thứ 85;
Kinh
Đại Bát Nhã Hội 2 ghi: Phẩm Bảy Việc thứ 83)
Kinh:
Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu các
pháp tự tính không có sở hữu, chẳng phải Phật làm, chẳng
phải Bích chi Phật làm, chẳng phải A la hán làm, chẳng phải
A na hàm, Tư đà hàm, Tu đà hoàn làm, chẳng phải người hướng
đạo làm, chẳng phải người đắc quả làm, chẳng phải
các Bồ Tát làm, như vậy làm sao phân biệt có các pháp khác
nhau là địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ? Là người, là
trời Bốn thiên vương cho đến trời Phi hữu tưởng Phi vô
tưởng? Vì nhân duyên của nghiệp nên biết có kẻ sinh
địa ngục, kẻ sinh súc sinh, kẻ sinh ngạ quỷ; vì nhân duyên
của nghiệp nên biết có có kẻ sinh cõi người, sinh cõi trời
cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng Phi vô tường; do nhân
duyên nghiệp nên biết có người được Tu đà hoàn, Tư đà
hàm, A na hàm, A la hán, Bích chi Phật; do nhân duyên nghiệp
nên biết có các vị A la hán; do nhân duyên nghiệp nên biết
có Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến tri. Bạch đức Thế
Tôn, trong pháp không có tự tính thời không có nghiệp dụng;
vì nhân duyên tạo nghiệp nên hoặc đọa vào địa ngục,
ngạ quỷ, súc sinh; hoặc sinh vào cõi người cõi trời cho
đến trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng; do nhân duyên tạo
nghiệp nên được Tu đà hoàn cho đến A la hán, Bích chi Phật;
Bồ Tát hành đạo Bồ Tát nên được trí Nhất thiết chủng;
được trí Nhất thiết chủng nên có thể cứu vớt chúng
sinh ra khỏi sinh tử?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như vậy, như vậy. Trong pháp không
có tự tính thời không có nghiệp, không có quả báo.
Người phàm phu vì không vào thánh pháp, không biết các pháp
tướng không có tự tính, điên đảo ngu si nên khởi tạo
các nghiệp nhân duyên. Các chúng sinh ấy theo nghiệp
thọ thân: Hoặc thân địa ngục, thân súc sinh, thân ngạ
quỷ, thân người thân trời cho đến thân trời Phi hữu tường
Phi vô tường. pháp không có tự tính thường không có
nghiệp, không có quả báo; pháp không có tự tính thường
là không có tự tính. Như lời Tu Bồ Đề nói: Nếu
hết thảy pháp không có tự tính thời làm sao phân biệt đó
là Tu đà hoàn cho đến chư Phật được trí Nhất thiết chủng.
Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, đạo không có tự tính chăng?
Tu đà hoàn quả cho đến trí Nhất thiết chủng của chư Phật
là không có tự tính chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Bạch đức Thế Tôn, đạo không có
tự tính; quả Tu đà hoàn cũng không có tự tính, cho đến
trí Nhất thiết chủng của chư Phật cũng không có tự tính.
Này
Tu Bồ Đề, pháp không có tự tính có thể được pháp không
có tự tính chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Pháp có tự tính có thể được
pháp có tự tính chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn.
Này
Tu Bồ Đề, pháp không có tự tính và đạo đều không hợp,
không tán, không sắc, không hình, không đối, chỉ là một
tướng tức vô tướng. Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la
mật, dùng sức phương tiện thấy chúng sinh o điên đảo nên
đắm trước năm uẩn; trong vô thường tưởng thường, trong
khổ tưởng vui, trong không tịnh tưởng tịnh, trong vô ngã
tưởng ngã nên đắm trước vào chỗ không có sở hữu. Bồ
Tát nhờ dùng sức phương tiện nên ở trong chỗ không có
sở hữu mà kéo chúng sinh ra khỏi.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, chỗ phàm phu
đắm trước vả chăng có thật chẳng khác ư? Chỉ vì
đắm trước nên tạo nghiệp, do nhân duyên của nghiệp nên
không thoát khỏi năm đường sinh tử?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Chỗ phàm phu đắm trước, khởi
nghiệp thật sự không có mảy may như lông tóc, mà chỉ do
điên đảo nên thấy có. Nay Ta vì ông nói ví dụ, người
trí do ví dụ mà được hiểu. Này Tu Bồ Đề, ý ông
nghĩ sao, như trong mộng thấy người hưởng thọ cái vui năm
dục, thật có nơi chốn chăng?
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, mộng còn hư
dối, không thể có được, huống nữa là ở trong mộng hưởng
vui năm dục!
Này
Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, các pháp hoặc hữu lậu, vô lậu,
hoặc hữu vi, vô vi, vả chăng có pháp nào không như mộng?
Bạch
đức Thế Tôn, các pháp hoặc hữu lậu, vô lậu, hoặc hữu
vi, vô vi, không có pháp nào không như mộng.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao, trong mộng có qua
lại năm đường sinh tử chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn.
Ý
ông nghĩ sao, trong mộng có tu đạo, dùng tu đạo ấy hoặc
vướng nhơ, hoặc được sạch chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn, vì sao? Vì mộng không có thật
sự, không thể nói nhơ sạch.
Ý
ông nghĩ sao, tượng trong gương thật sự có khởi tạo nghiệp
nhân duyên, do nhân duyên của nghiệp ấy mà đọa vào địa
ngục, ngạ quỉ, , súc sinh; hoặc làm người, trời Bốn thiên
vương cho đến trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng xứ chăng?
Tu
Bồ Đề đáp: Thưa không, bạch Thế Tôn. Tượng
ấy không có thật sự, chỉ dối trẻ nít thời việc ấy
làm sao có nghiệp duyên, do nghiệp duyên ấy sẽ đọa vào
địa ngục cho đến sinh vào cõi trời Phi hữu tưởng Phi vô
tưởng được!
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, tượng trong gương có tu đạo, dùng
tu đạo ấy hoặc vướng nhơ, hoặc được sạch chăng?
Tu
Bồ Đề đáp: Thưa không, bạch Thế Tôn, vì sao?
Vì tượng trong gương là không, không có thật sự, không thể
nói là nhơ, sạch.
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao? Như trong hang sâu có tiếng vang,
tiếng vang ấy có nhân duyên tạo nghiệp, do nghiệp duyên ấy
hoặc đọa địa ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng,
Phi vô tưởng chăng?
Tu
Bồ Đề đáp: Thưa không, bạch Thế Tôn. Việc
ấy không, không thật có âm thanh, làm sao có nghiệp duyên,
do nghiệp duyên ấy đọa địa ngục cho đến sinh vào cõi
trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng?
Này
Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, tiếng vang ấy vả chăng có tu
đạo, dùng tu đạo ấy hoặc vướng nhơ, hoặc được sạch
chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Việc ấy không thật, không thể
có nhơ, sạch.
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, sóng nắng chẳng phải tướng nước,
chẳng phải tướng sông; sóng nắng ấy vả chăng có nhân
duyên tạo nghiệp, do nghiệp duyên ấy mà đọa vào địa ngục
cho đến sinh vào cõi trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Nước trong sóng nắng ấy rốt
ráo không thể có được, chỉ dối hoặc mắt người vô trí
thời làm sao có nghiệp nhân duyên, do nghiệp ấy đọa địa
ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng?
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, sóng nắng ấy có tu đạo, do tu đạo
ấy hoặc vấy nhơ hoặc được sạch chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Sóng nắng ấy không có thật sự,
không thể nói là nhơ sạch.
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, thành Càn thát bà, như khi mặt trời
mọc có thành Càn thát bà; người vô trí nơi chỗ không có
thành tưởng có thành, nơi chỗ không có quán xá tưởng có
quán xá, nơi chỗ không có vườn tưởng có vườn; thành Càn
thát bà ấy vả chăng có tạo nghiệp nhân duyên, do nghiệp
ấy nên đọa địa ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Thành Càn Thát bà ấy rốt ráo không
thể có được, chỉ dối hoặc mắt người ngu, thời làm
sao có tạo nghiệp nhân duyên, do nghiệp ấy đọa địa
ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng Phi vô tưởng!
Này
Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, thành Càn thát bà ấy có tu đạo,
do tu đạo ấy hoặc vấy nhơ, hoặc được sạch chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Thành Càn thát bà ấy không có
thật sự nên không thể nói là có nhơ sạch.
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, vị thầy huyễn thuật huyễn làm
ra các vật hoặc voi ngựa, trâu dê, trai gái v.v... Ý ông nghĩ
sao, các vật huyễn ấy có tạo nghiệp nhân duyên, do nghiệp
ấy mà đọa địa ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Vật huyễn hóa ấy không có thật
sự thời làm sao có tạo nghiệp nhân duyên, do nghiệp ấy
nên đọa địa ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng!
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, các vật huyễn ấy có tu đạo, do
tu đạo ấy hoặc vấy nhơ hoặc được sạch chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Vật huyễn ấy không có thật sự,
nên không thể nói là nhơ sạch.
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, như người của Phật biến hóa,
người biến hóa ấy có tạo nghiệp nhân duyên, do nghiệp
ấy mà đọa địa ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Người biến hóa ấy không có thật
sự thời làm sao có tạo nghiệp nhân duyên, do nghiệp ấy
mà đọa địa ngục cho đến sinh cõi trời Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng.
Tu
Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, người biến hóa ấy có tu đạo,
do tu đạo ấy hoặc vấy nhơ hoặc được sạch chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Việc ấy không có thật nên không
thể nói là nhơ, sạch.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao, ở trong tướng
không ấy có kẻ nhơ, người sạch chăng?
Thưa
không, bạch Thế Tôn. Trong ấy không có sở hữu, không
có người vấy nhơ, không có người được sạch.
Này
Tu Bồ Đề, nếu không có kẻ vấy nhơ, không có người được
sạch, vì nhân duyên ấy nên cũng không có nhơ, sạch, vì sao?
Vì chúng sinh do chấp ngã và ngã sở nên có nhơ, có sạch,
chứ người thật thấy thời không nhơ, không sạch. Người
thật thấy không nhơ, không sạch như vậy cũng không có nhơ,
sạch.
Luận.
Hỏi: Ở nhiều nơi Phật đã đáp việc ấy, nay cớ sao
Tu Bồ Đề còn hỏi:
Đáp:
Nghĩa tuy một mà chỗ nhân duyên có sai khác. Nghĩa
là hết thảy pháp hoặc có Phật hay không có Phật thời thật
tính của các pháp vẫn thường trú: Không, không có sở
hữu, chẳng phải hiền thánh làm ra. Bát nhã ba la mật sâu
xa vi diệu, khó lường khó hiểu, không thể lấy hữu lường
mà biết được. Chư p, hiền thánh vì thương xót chúng
sinh nên dùng mỗi mỗi ngôn ngữ, danh từ, thí dụ để nói
cho họ hiểu. Người lợi căn thời hiểu ý thánh nhân
còn người độn căn thời mỗi mỗi sinh chấp trước. Chấp
trước nơi ngôn ngữ, văn tự nên hoặc nghe nói không thời
chấp trước không, nghe nói không cũng không thời sinh ra chấp
trước; hoặc nghe nói pháp tịch diệt bặt dứt đường ngôn
ngữ thời cũng lại chấp trước. Vì tự tâm không thanh
tịnh nên nghe pháp của thánh nhân cho là không thanh tịnh;
như người mắt lòa nhìn ngọc trong suốt, thấy bóng con mắt
lòa của mình trong ấy liền cho rằng ngọc không sạch.
Phật dùng mỗi mỗi nhân duyên thuyết pháp, chúng sinh thấy
có lỗi nên sinh nghi, nói rằng: Nếu hết thảy pháp không,
không cũng không, thời làm sao phân biệt có sáu đường?
Vì thường sinh nghi nạn như vậy nên Tu Bồ Đề do thấy thời
giảng kinh sắp hết, vì thương chúng sinh nên mỗi mỗi hỏi
việc ấy. Vì thế lập đi lập lại hỏi nhiều lần.
Phật hứa khả ý của Tu Bồ Đề.
Hỏi:
Tu Bồ Đề lấy có mà nạn không, cớ sao Phật hứa khả ý
ấy?
Đáp:
Phật chỉ hứa khả Tu Bồ Đề nói "Các pháp không, thường
trú, cù có Phật hay không có Phật vẫn không sai khác",
chứ không hứa khà Tu Bồ Đề về vấn nạn: "Làm sao
phân biệt có sáu đường", vì sao? Vì ông ấy vấn
nạn để muốn phá tính không vậy. Trong đây Phật giải
chỗ nạn vấn của Tu Bồ Đề rằng: Người phàm phu
không vào thánh pháp, chưa được thánh đạo, không biết tự
tính không có sở hữu, không khéo tu tập Không tam muội nên
phân biệt có sáu đường.
Điên
đảo là có bốn điên đảo.
Ngu
si là vô minh ràng buộc vào ba cõi.
Tuy
không nói các phiền não khác nhưng hai pháp điên đảo và
ngu si đều là hư dối không thật. Điên đảo tức là
vọng ngữ hư dối, như nghiệp và quả báo từ điên đảo
mà sinh ra. Vì căn gốc không có thật nên chúng sinh tuy
nhiễm trước cũng chắc chắn không có thật; vì thế nên
năm đạo đều không, chỉ có giả danh.
Lại,
ông nạn các hiền thánh. Các hiền thánh vì dứt điên
đảo sai biệt nên có tên gọi khác nhau, vì điên đảo không
có thật nên không có gì dứt. Lại, diệt mất không
có sở hữu nên gọi là dứt. Nếu có thật pháp có thể
dứt còn không có cách gì dứt được, huống nữa là điên
đảo! Thế nên tất cả quả vị của hiền thánh đều
không có sở hữu. Dứt điên đảo là quả hiền thánh,
nên quả tức là dứt. Vì quả của tu đạo cũng đồng
không có sở hữu, thế nên khi tu đạo, chắc chắn dùng không,
vô tướng, vô tác, vì đạo và quả phân biệt mà có hiền
và thánh sai khác. Nay đây pháp không có sở hữu thật
không thể có được; không có sở hữu thời làm sao có sai
khác? Thế nên không nên vấn nạn.
Ý
Tu Bồ Đề muốn nói: Nếu chỉ vì điên đảo nên có
thế gian, nếu đã có điên đảo thời cũng nên có sự thật,
vì hư và thật đối đãi nhau! Thế nên hỏi: Chỗ
phàm phu đắm trước vả chăng thật có sinh ra chấp trước,
tạo nghiệp, do nghiệp duyên ấy nên không giải thoát khỏi
sáu đường sinh tử?
Phật
đáp: Không, vì sao? Trong đây Phật tự nói nhân
duyên: Chỉ vì điên đảo nên sinh chấp trước; nếu
không có điên đảo thời làm sao có thật pháp đối đãi
nhau, cho đến thật sự mảy may không có, vì rốt ráo không
có.
Hỏi:
Đây là thật nghĩa sở hành của chư Phật, tức rốt ráo
không, vậy rốt ráo không ấy chẳng phải thật ư?
Đáp:
Đây là đệ nhất nghĩa không, cũng vì phàm phu điên đảo
mà nói. Nếu không có điên đảo, cũng không có đệ
nhất nghĩa; nếu cho rằng điên đảo của phàm phu ít nhiều
có thật thời đệ nhất nghĩa cũng nên có thật!
Hỏi:
Nếu cả hai đều không thật thời làm thế nào được giải
thoát? Như người tay nhơ lại rửa nước nhơ, làm sao
sạch được?
Đáp:
Thật tướng các pháp rốt ráo không, đó là thật thanh tịnh
bậc nhất. Vì có pháp điên đảo không thanh tịnh của
phàm phu nên có pháp thanh tịnh này; không thể phá hoại, không
thể đổi khác. Vì người đối với thật tướng các pháp
sinh chấp trước, muốn sinh phiền não, nên nói pháp tính
ấy không, không có sở hữu, do không có sở hữu nên không
thật. Tuy hai pháp đều không thật mà trong sự không
thật có sai khác; như mười điều thiện và mười điều
bất thiện, hai việc đều là pháp hữu vi nên hư dối không
thật. Nhưng thiện và bất thiện có sai khác: Bất
thiện là sát sinh v.v... nên đọa ác đạo; thiện là không
sát sinh v.v... nên sinh cõi trời. Như bố thí và trộm
cắp hai việc, tuy đều là tâm chấp thủ tướng, hư dối
không thật, mà cũng có sai khác. Như chúng sinh cho đến
kẻ biết, kè thấy, không có sở hữu, mà bức não đối với
chúng sinh thời có tội lớn và từ bi với chúng sinh thời
có phước lớn. Như từ bi phá sân hận, bố thí phá
xan tham, tuy hai việc đều không thật mà có thể phá nhau.
Thế nên Phật nói các pháp không có sở hữu căn bản chắc
thật như mảy lông. Để chứng minh việc ấy nên Phật
ví dụ: Như ở trong mộng mà hưởng thọ cái vui năm
dục.
Ý
Tu Bồ Đề muốn nói: Nếu hết thảy pháp rốt ráo không,
không có tính sở hữu, cớ sao nay hiện có mắt thấy, tai
nghe pháp? Vì thế mà Phật nói ví dụ như mộng:
Như người do sức mộng nên tuy việc không thật mà mỗi mỗi
có nghe, thấy; chỗ giận, chỗ mừng v.v... người thức ở
một bên thời cũng không thấy gì. Như vậy, phàm phu
do sức vô minh điên đảo nên vọng thấy có, còn thánh nhân
giác ngộ thời không thấy gì. Hết thảy pháp hoặc hữu
lậu vô lậu, hoặc hữu vi, vô vi đều không thật; vì hư
dối nên có nghe, thấy. Lại như trong mộng thấy qua lại
sáu đường sinh tử, thấy Tu đà hoàn cho đến A la hán, trong
mộng không thật có các việc ấy mà mộng vẫn thấy; trong
mộng không thật có sạch nhơ, nghiệp quả báo sáu đường
cũng như vậy. Vì nhân duyên điên đảo nên tạo nghiệp; nghiệp
và quả báo cũng không, chỉ vì trừ điên đảo mà gọi là
đạo. Điên đảo không thật nên đạo cũng không thật.
Tượng trong gương, tiếng vang, sóng nắng cho đến như huyễn
hóa cũng vậy. Phật hỏi ngược lại Tu Bồ Đề:
Trong pháp ấy có kẻ nhơ kẻ sạch chăng? Ý Tu Bồ Đề nói:
Hết thảy pháp vô ngã thời làm sao có kẻ nhơ, kẻ sạch;
thế cho nên trả lời không. Phật dạy: Nếu không
có người chịu nhơ, sạch, vậy nên nhơ sạch cũng không có!
Hỏi:
Nếu phân biệt các pháp theo như trong A Tỳ Đàm nói thời
có nhơ có sạch, chỉ người chịu nhơ chịu sạch không có:
Phiền não ba độc là nhơ; ba môn giải thoát, các pháp trợ
đạo là sạch?
Đáp:
Tuy có nói như vậy mà việc ấy không đúng. Vì
nếu không có chúng sinh thời pháp nhơ, sạch thuộc về cái
gì? Cũng không có người làm? Nếu không có người
làm, cũng không có pháp làm, nên không trói không mở?
Như người sợ bị lửa đốt mà tránh xa, chứ chẳng phải
lửa tránh lửa. Chúng sinh cũng như vậy, sợ khổ
năm uẩn nên lìa bỏ, chẳng phải khổ lìa khổ. Nếu
không có người nhơ, người sạch thời giải thoát cũng không
có.
*Lại
nữa, trong đây Phật tự nói nhân duyên: Vì ở trong ngã
và ngã sở mà chúng sinh chịu nhơ chịu sạch; vì ngã rốt
ráo không có nên nhơ sạch không có chỗ trú; chỗ trú không
có nên không nhơ, không sạch.
Hỏi:
Ngã tuy không có mà ngã kiến thật có, phàm phu ở nơi đó
khởi lên các phiền não?
Đáp:
Nếu không có ngã thời ngã kiến không có chỗ duyên; không
có chỗ duyên thời làm sao phát sinh ngã kiến?
Hỏi:
Tuy không có ngã, song đối với năm uẩn có tà hạnh cho là
có ngã nên sinh ngã kiến, và năm uẩn là ngã, ngã sở?
Đáp:
Nếu cho năm uẩn chắc chắn là nhân duyên sinh ra ngã kiến,
vậy đối với năm uẩn của thân người khác cớ sao không
sinh ra ngã kiến? Nếu đối với thân người khác sinh
ngã kiến thời là rối loạn lớn! Thế nên ngã kiến
không có nơi chốn nhất định, chỉ vì điên đảo mà phát
sinh.
Hỏi:
Nếu vì điên đảo mà phát sinh, thời cớ sao chỉ đối với
thân mình sinh ra ngã kiến?
Đáp:
Vì điên đảo cuồng quấy nên không nên tìm sự thật của
nó. Lại, từ sinh tử vô thỉ lại đây tự mình đối
với thân năm uẩn tương tục mà sinh ra chấp trước, thế
nên Phật nói chúng sinh tâm trụ vào chấp ngã nên chịu nhơ,
sạch. Lại, thật thấy là không có nhơ, không có sạch.
Nếu ngã chắc chắn thấy thật có thời nên có nhơ sạch,
còn như thật thấy là không nhơ không sạch. Vì nhân
duyên ấy nên không nhơ không sạch, thấy không nhơ không sạch
là thấy thật tướng các pháp. Lại, vì đối với thật
tướng các pháp không có chấp trước, thế nên không nhơ;
thật tướng các pháp không có tướng có thể chấp thủ,
nên cũng không sạch.
*Lại
nữa, đối với tám phần thánh đạo v.v... không chấp trước,
ấy gọi là không sạch; trừ các phiền não như chấp trước
điên đảo v.v..., ấy gọi là không nhơ.
Giải
Thích: Phẩm Bình Đẳng Thứ 86
(Có
bản ghi phẩm Kiến Thật;kinh Đại Bát Nhã, hội 2 ghi:
Phẩm Thật Thuyết thứ 84)
Kinh:
Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, thấy như
thật là không có nhơ, không có sạch, thấy không như thật
cũng không có nhơ, không có sạch, vì sao? Vì hết thảy
pháp tính không có sở hữu. Bạch đức Thế Tôn, trong
pháp không có sở hữu không có nhơ, không có sạch; trong pháp
có sở hữu cũng không có nhơ, không có sạch; trong pháp không
có sở hữu, có sở hữu cũng không có nhơ, không có sạch.
Bạch đức Thế Tôn, vì sao nói như thật là không nhơ, không
sạch, nói không như thật cũng không nhơ, không sạch?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Vì các pháp ấy tướng bình đẳng
nên Ta nói sạch. Thế nào là các pháp bình đẳng?
Đó là như như, không khác, không cuống, pháp tướng, pháp
tính, pháp trụ, pháp vị, thật tế, dù có Phật hay không
có Phật thời pháp tính ấy vẫn thường trú; ấy gọi là
sạch, vì đây theo thế đế nên nói, chẳng phải theo đệ
nhất nghĩa. Đệ nhất nghĩa thời vượt qua hết thảy
ngôn ngữ, âm thanh, luận nghị.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu hết thảy
pháp không, không thể nói, như mộng, như tiếng vang, như sóng
nắng, như ảnh, như huyễn, như hóa thời Bồ Tát làm thế
nào dùng pháp như mộng, như tiếng vang, như sóng nắng, như
ảnh, như huyễn, như hóa ấy? Căn gốc chắc thật không
có thời làm sao phát tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác,
nguyện rằng ta sẽ đầy đủ Thí Ba la mật cho đến Bát nhã
ba la mật; ta sẽ đầy đủ thần thông Ba la mật, Thí Ba la
mật, bốn thiền, bốn tâm vô lượng, bốn định vô sắc,
bốn niệm xứ cho đến tám phần thánh đạo; ta sẽ đầy
đủ ba môn giải thoát, tám bội xả cho đến mười tám pháp
không chung; ta sẽ đầy đủ ba mươi hai tướng, tám mươi
vẻ đẹp tùy hình, các môn Đà la ni, các môn tam muội; ta
sẽ phóng hào quang lớn chiếu khắp mười phương, biết tâm
các chúng sinh theo điều thích ứng thuyết pháp?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Ý ông nghĩ sao, các pháp ông nói
đó như mộng, như tiếng vang, như sóng nắng, như ảnh chăng?
Năm thần thông, bốn niệm xứ cho đến tám phần Thánh đạo
như huyễn như hóa chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Phải vậy, bạch Thế Tôn.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như vậy, như vậy. Pháp hư
vọng không thật không thể đầy đủ Thí Ba la mật cho đến
mười tám pháp không chung; hành pháp hư vọng không thật ấy
không thể được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Này Tu Bồ Đề, hết thảy pháp đều do ức tưởng, suy nghĩ,
tạo tác, dùng pháp tạo tác và suy nghĩ ức tưởng ấy không
thể được trí Nhất thiết chủng. Này Tu Bồ Đề, hết
thảy pháp có thể làm trợ đạo, không thể tăng ích quả
vị kia; nghĩa là các pháp ấy không sinh, không xuất, không
tướng. Bồ Tát từ khi mới phát tâm lại đây làm các
nghiệp lành: Hoặc bố thí, cho đến trí Nhất thiết
chủng, vì sao? Vì biết các pháp đều như mộng
cho đến như hóa. Các pháp như vậy không đầy đủ Thí
Ba la mật cho đến trí Nhất thiết chủng; không thể thành
tựu được tuệ giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh cõi Phật,
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ Tát làm
các nghiệp lành như Thí Ba la mật cho đến trí Nhất thiết
chủng, biết như mộng cho đến như hóa, cũng biết chúng sinh
như đi trong mộng cho đến biết như đi trong hóa. Bồ
Tát không chấp thủ Bát nhã ba la mật là pháp có, dùng không
chấp thủ ấy nên được trí Nhất thiết chủng; biết các
pháp như mộng, không có chỗ chấp thủ, cho đến các pháp
như hóa, không có chỗ chấp thủ, vì sao? Vì Bát nhã
ba la mật là tướng không thể chấp thủ; Thiền Ba la mật
cho đến mười tám pháp không chung là tướng không thể chấp
thủ. Bồ Tát biết hết thảy pháp là tướng không thể
chấp thủ rồi phát tâm cầu Vô thượng chánh đẳng chánh
giác, vì sao? Vì hết thảy pháp tướng không thể chấp
thủ, không có căn bản chắc thật nên như mộng cho đến
như hóa. Dùng pháp tướng không thể chấp thủ không
thể được pháp tướng không thể chấp thủ, chỉ vì chúng
sinh không biết không thấy các pháp tướng như vậy, nên Bồ
Tát cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ Tát từ
khi mới phát tâm lại đây có bố thí gì đều vì hết thảy
chúng sinh, cho đến có tu tập trí tuệ đều vì hết thảy
chúng sinh, không vì thân mình. Bồ Tát không vì việc
gì khác nên cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác, mà chỉ
vì chúng sinh. Bồ Tát khi hành Bát nhã ba la mật thấy
chúng sinh không có chúng sinh, trú trong tướng chúng sinh, cho
đến không có kẻ biết kẻ thấy, trú trong tướng biết thấy,
khiến chúng sinh xa lìa điên đảo, xa lìa rồi an trú trong
tính cam lồ; an trú trong ấy không có vọng tưởng; cho rằng
đó là tướng chúng sinh cho đến tướng kẻ biết kẻ thấy.
Khi ấy Bồ Tát đều xả hết tâm động, tâm nhớ nghĩ, tâm
hý luận; thường hành tâm không động, tâm không nhớ nghĩ,
tâm không hý luận. Nhờ sức Phật ấy nên Bồ Tát khi
hành Bát nhã ba la mật tự mình không có dính mắc, cũng dạy
hết thảy chúng sinh khiến không được dính mắc. Ở
đây nói theo nghĩa thế đế, chẳng phải theo đệ nhất nghĩa.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, khi Thế Tôn
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, được các Phật
pháp, do thế đế nên được hay do đệ nhất nghĩa nên được?
Phật
dạy: Do thế đế mà nói Phật được pháp ấy, chứ
trong pháp ấy không có pháp có thể được và không có người
ấy được pháp ấy, vì sao? Có người ấy được pháp
ấy thời là có sở đắc lớn; dùng hai sở đắc ấy thời
không có đạo, không có quả.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu hành hai
pháp ấy không có đạo, không có quả thời hành không hai
pháp có đạo, có quả chăng?
Phật
dạy: Hành hai pháp không có đạo không có quả, hành
không hai pháp cũng không có đạo không có quả. Nếu
không có hai pháp và không có không hai pháp tức là đạo,
tức là quả, vì sao? Vì dùng pháp như vậy được đạo,
được quả, hay dùng pháp như vậy không được đạo, không
được quả, đều là hý luận. Trong các pháp bình đẳng
không có hý luận, tướng không có hý luận là tướng bình
đẳng của các pháp.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu các pháp
không có tính sở hữu thời trong ấy cái gì là bình đằng?
Phật
dạy: Nếu không có pháp có, không có pháp không, cũng
không nói tướng các pháp bình đẳng, trừ bình đẳng lại
không có pháp khác, lìa ngoài tướng bình đẳng của hết
thảy pháp. Bình đẳng là hoặc phàm phu, hoặc thánh
nhân không thể hành, không thể đến.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, cho đến Phật
cũng không thể hành, không thể đến ư?
Phật
dạy: Các pháp ấy bình đẳng. Hết thảy thánh nhân đều
không thể hành, cũng không thể đến; đó là các Tu đà hoàn
cho đến A la hán, Bích chi Phật, các Bồ Tát và Phật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, Phật là bậc
có sức tự tại hành đối với tất cà pháp, vì sao nói Phật
không thể hành không thể đến?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Nếu chư Phật với pháp bình đẳng
có khác nhau thời ông nên hỏi như vậy. Nay người phàm
phu bình đẳng, các Tu đà hoàn cho đến A la hán, Bích chi Phật,
các Bồ Tát, chư Phật và thánh pháp đều bình đẳng, một
bình đẳng không có hai. Nghĩa là người phàm phu và Tu
đà hoàn cho đến Phật, hết thảy pháp ấy trọn đều không
thể có được.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, nếu trong các
pháp bình đẳng đều không thể có được đây là phàm phu
cho đến đây là Phật, như vậy thời người phàm phu, Tu đà
hoàn cho đến Phật không có phân biệt.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như vậy, như vậy. Trong các pháp
bình đẳng, không có phân biệt đây là phàm phu, là Tu đà
hoàn cho đến Phật.
Bạch
đức Thế Tôn, nếu không có phân biệt những người phàm
phu, Tu đà hoàn, Bích chi Phật v.v... thời vì sao phân biệt
có Tam bảo xuất hiện ở thế gian là Phật bảo, Pháp bảo,
và Tăng bảo?
Phật
dạy: Ý ông nghĩ sao, Tam bảo và các pháp bình đẳng
có khác nhau chăng?
Tu
Bồ Đề đáp: Như con theo Phật được nghe Phật
bảo, Pháp bảo, Tăng bảo cùng với các pháp bình đẳng không
có sai khác. Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo là bình đẳng,
pháp ấy đều không hợp, không tán, không sắc, không hình,
không đối, chỉ một tướng tức là vô tướng. Phật
có lực ấy nên có thể phân biệt xứ sở các pháp vô tướng:
Đây là phàm phu, đây là Tu đà hoàn cho đến đây là Bích
chi Phật, đây là Bồ Tát, đây là chư Phật.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như vậy, như vậy. Chư Phật
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác không phân biệt
các pháp nên biết đây là địa ngục, đây là ngạ quỷ,
súc sinh, người, trời, trời Bốn thiên vương cho đến trời
Tha hóa tự tại, trời Phạm thiên cho đến trời Phi hữu tưởng
Phi vô tưởng; là bốn niệm xứ cho đến tám phần thánh đạo,
là nội không cho đến vô pháp hữu pháp không, là mười lực
của Phật cho đến mười tám pháp không chung chăng?
Tu
Bồ Đề đáp: Không biết, bạch Thế Tôn.
Vì
thế, này Tu Bồ Đề, nên biết Phật có ân lớn, Phật đối
với các pháp bình đẳng, không lay động, mà phân biệt các
pháp.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bạch đức Thế Tôn, như Phật đối
với các pháp bình đẳng không lay động, người phàm phu đối
với các pháp bình đẳng không lay động; Tu đà hoàn cho đến
Bích chi Phật cũng đối với các pháp bình đẳng không lay
động; nếu tướng các pháp bình đẳng tức là tướng phàm
phu, tức là tướng Tu đà hoàn cho đến chư Phật, tức là
tướng bình đẳng, nhưng nay các pháp mỗi mỗi tướng có
sai khác: Sắc tướng khác; thọ, tưởng, hành thức tướng
khác; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý tướng khác; đất tướng
khác; nước, lửa, gió, không, thức tướng khác; tham dục
tướng khác; sân nhuế, ngu si, tà kiến tướng khác; thiền
tướng khác; tâm vô lượng tướng khác, định vô sắc tướng
khác, bốn niệm xứ tướng khác, cho đến tám phần thánh
đạo tướng khác; Thí Ba la mật tướng khác, cho đến Bát
nhã ba la mật tướng khác; ba môn giải thoát, mười tám không,
mười lực của Phật, bốn điều không sợ, bốn trí không
ngại, mười tám pháp không chung, tính pháp hữu vi, tính pháp
vô vi tướng khác; phàm phu tướng khác, cho đến Phật tướng
khác. Các pháp có mỗi mỗi tướng khác, thời làm
thế nào Bồ Tát khi tu Bát nhã ba la mật, phân biệt đối
với các pháp tướng khác mà không khởi phân biệt?
Nếu không khởi, thời không thể hành Bát nhã? Nếu không
hành Bát nhã thời không thể từ một địa đến một địa?
Nếu không thể từ một địa đến một địa thời không
thể vào Bồ Tát vị? Nếu không vào Bồ Tát vị thời
không thể vượt quá địa vị Thanh văn, Bích chi Phật? Vì
không thể vượt qua địa vị Thanh văn, Bích chi Phật nên
không thể đầy đủ thần thông Ba la mật? Không thể
đầy đủ thần thông Ba la mật nên không thể đầy đủ Thí
Ba la mật cho đến Bát nhã ba la mật, từ một cõi Phật đến
một cõi Phật cúng dường chư Phật, ở chỗ chư Phật gieo
trồng căn lành, dùng căn lành ấy có thể thành tựu tuệ
giác cho chúng sinh, nghiêm tịnh cõi Phật?
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Như lời ông hỏi, tướng các pháp
ấy cũng là tướng phàm phu, cũng là tướng Tu đà hoàn cho
đến Phật.
Bạch
đức Thế Tôn, các pháp ấy mỗi mỗi tướng khác nhau, nghĩa
là tướng sắc khác cho đến tướng pháp hữu vi, vô vi khác,
làm thế nào Bồ Tát quán một tướng mà không khởi phân
biệt?
Phật
dạy: Này Tu Bồ Đề, ý ông nghĩ sao, tướng sắc không
chăng? Cho đến tướng Phật không chăng?
Thật
không, bạch Thế Tôn.
Này
Tu Bồ Đề, trong không, tướng mỗi mỗi pháp có thể có được
chăng? Nghĩa là có thể có được tướng sắc cho đến
tướng chư Phật?
Tu
Bồ Đề thưa: không có thể được.
Phật
dạy: Vì nhân duyên ấy nên biết trong các pháp bình đẳng,
chẳng phải phàm phu, cũng chẳng phải lìa phàm phu, cho đến
chẳng phải Phật cũng chẳng phải lìa Phật.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Bình đẳng ấy là pháp hữu vi hay
pháp vô vi?
Phật
dạy: Chẳng phải hữu vi, cũng chẳng phải pháp vô vi,
vì sao? Vì lìa pháp hữu vi thời pháp vô vi không thể
có được; lìa pháp vô vi thời pháp hữu vi không thể có
được. Này Tu Bồ Đề, tính hữu vi, vô vi, hai pháp ấy
không hợp không tán, không sắc, không hình, không đối, chỉ
một tướng tức là vô tướng. Phật do thế đế nên
nói; chẳng phải do đệ nhất nghĩa đế, vì trong đệ nhất
nghĩa không có thân hành, không có miệng hành, không có ý
hành; cũng chẳng lìa thân, miệng, ý hành mà được đệ nhất
nghĩa. Các pháp hữu vi, vô vi ấy tướng bình
đẳng, tức là đệ nhất nghĩa.
Bồ
Tát khi hành Bát nhã ba la mật, đối với đệ nhất nghĩa
không lay động mà hành việc của Bồ Tát, lợi ích chúng
sinh.
Luận:
Tu Bồ Đề suy nghĩ: Phật đáp người thật thấy và
người vọng thấy không khác nhau, vì nhơ hay sạch đều thấy
không có. Suy nghĩ rồi hỏi Phật rằng: Người thấy
thật không nhơ không sạch; người thấy không thật cũng không
nhơ không sạch, vì hết thảy pháp tính không có sở hữu.
Trong không có sở hữu, không nhơ, không sạch, trong có sở
hữu cũng không nhơ, không sạch? Vì trong không có
sở hữu là đoạn diệt kiến nên chẳng nên có nhơ sạch,
trong sở hữu là thường kiến chẳng nên có nhơ sạch.
Nếu trong sở hữu chắc chắn là có, thời không từ nhân
duyên sinh. Vì không từ nhân duyên sinh nên thường, vì
thường nên không có nhơ, sạch?
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Thật thấy và không thật thấy,
nghĩa ấy thế nào?
Phật
dạy: Nhơ và sạch tuy không có tướng riêng có thể nói,
song vì các pháp bình đẳng nên gọi là sạch; nếu phân biệt
nói tướng nhơ sạch việc ấy không đúng. Vì hết thảy
pháp bình đẳng nên ta nói là sạch.
Phật
bảo Tu Bồ Đề: Thật tướng các pháp là như như,
pháp tính, pháp trụ, pháp vị, thật tế là bình đẳng.
Bồ Tát vào trong bình đẳng ấy thời tâm không thương ghét.
Pháp ấy dù có Phật hay không có Phật vẫn thường trú.
Các pháp tạo tác đều là hư vọng, thế nên nói pháp không
có tạo tác dù có Phật hay không có Phật vẫn thường trú.
Người nghe tâm liền sinh ra chấp thù tướng, chấp trước
các bình đẳng ấy; như người lấy tay chỉ mặt trăng, kẻ
không biết chỉ xem ngón tay mà cho là xem mặt trăng.
Thế nên Phật nói tướng các pháp bình đẳng cũng như vậy,
đều là theo thế đế mà nói. Thế đế chẳng thật,
chỉ vì muốn được việc nên nói; thí như lấy vàng đổi
cỏ, người không biết nói vì sao lấy quý đổi hèn?
Đáp rằng: Vì tôi cần dùng nói. Nghĩa bình
đẳng ấy không thể nói; hết thảy ngôn ngữ, danh từ, âm
thanh đều dứt, vì sao? Vì các pháp bình đẳng, là tướng
tịch diệt, không có hý luận, chỉ ở trong tâm tán loạn
giác quán, vì có ngữ ngôn nên có nói. Tu Bồ Đề theo
Phật nghe nói tướng các pháp bình đẳng, hiểu được ý
chỉ nên vì các hàng Bồ Tát mới phát tâm mà hỏi rằng:
Bạch đức Thế Tôn, nếu hết thảy pháp không, không thể
nói, như mộng cho đến như hóa, thời Bồ Tát làm thế nào
ở trong pháp không có căn bản ấy mà sinh tâm nguyện rằng:
Tôi sẽ đầy đủ Thí Ba la mật cho đến sẽ vì chúng sinh
như điều họ mong muốn mà thuyết pháp?
Phật
đáp băng cách hỏi ngược lại Tu Bồ Đề rằng: bố
thí, cho đến môn Đà la ni nói là bình đẳng, thời các pháp
ấy chẳng phải như huyễn, như mộng chăng?
Tu
Bồ Đề thưa: Thật vậy. Các pháp ấy tuy lợi
ích mà không ra khỏi như mộng.
Lại
hỏi: Bạch đức Thế Tôn, mộng đều hư dối không thật,
Bồ Tát vì cầu thật pháp nên hành Bát nhã được Phật đạo,
cớ sao lại hành pháp không thật; vì pháp không thật không
thể hành Thí Ba la mật?
Phật
chấp nhận lời Tu Bồ Đề nói: "Như vậy, như vậy,
pháp bố thí v.v... đều là do suy nghĩ ức tưởng phân biệt
mà sinh khởi, thành pháp có tạo tác, không được trú trong
pháp như vậy mà thành trí Nhất thiết chủng" Tức thời
thính chúng tâm sinh giải đãi. Thế nên Phật lại nói:
Hết thảy pháp ấy đều là nhân duyên trợ đạo; nếu đối
với pháp mà tà hạnh sai quấy, ấy gọi là không thật; nếu
chánh hành không sai quấy, tức là pháp trợ đạo. Pháp
ấy là trợ đạo, không phải là đạo quả... là pháp hữu
vi, đạo cũng là hữu vi, đồng tướng nên giúp ích nhau.
Đạo
quả là các pháp thật; không xuất, không sinh, một tướng
là vô tướng, tịch diệt Niết bàn; thế nên đối với
Niết bàn, pháp ấy không có giúp ích; như mưa đúng thời
giúp ích cây cỏ, không giúp ích hư không. Do vậy Bồ
Tát biết pháp trợ đạo và đạo quả ấy, từ khi mới phát
tâm lại đây tu các pháp lành bố thí v.v.. biết đều là
rốt ráo không, như mộng cho đến như hóa.
Hỏi:
Nếu Bồ Tát biết thật tướng các pháp thời cần gì tu bố
thí?
Đáp:
Trong đây Phật tự nói: bố thí v.v.. không đầy đủ
thì không thể thành tựu tuệ giác cho chúng sinh. Bồ
Tát trang nghiêm thân và dùng âm thanh ngôn ngữ, được sức
thần thông của Phật, dùng các sức phương tiện mới có
thể dẫn dắt chúng sinh. Thế nên Bồ Tát vì thành tựu
tuệ giác cho chúng sinh nên hành Thí Ba la mật, cũng không thủ
tướng Thí Ba la mật hoặc có hoặc không có tướng, cũng
không hý luận các pháp như mộng, chánh hành cho đến được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, vì sao? Vì Bát nhã
ba la mật không thể thủ tướng, cho đến mười tám pháp
không chung cũng không thể thủ tướng. Vì biết hết
thảy pháp không thể thủ tướng nên phát tâm cầu Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, nghĩ rằng: Hết thảy không
có căn gốc không thể thủ tướng như mộng cho đến như
hóa. Vì pháp không thể thủ tướng không thể được
pháp không thể thủ tướng, chỉ do chúng sinh không biết pháp
ấy nên ta vì chúng sinh ấy cầu Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Bồ Tát ấy từ khi mới phát tâm lại đây,
có bố thí gì đều vì chúng sinh, nghĩa là làm pháp lành bố
thí vì hết thảy chúng sinh nên tu, chứ không vì thân mình.
Trong
đây Phật tự nói nhân duyên: không vì các việc khác
mà cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác, mà chỉ vì chúng
sinh, vì sao? Vì nếu Bồ Tát xa lìa tâm thương xót chúng
sinh, chỉ hành Bát nhã ba la mật mà cầu thật tướng các
pháp, thời hoặc bị rơi vào tà kiến, người ấy chưa được
Nhất thiết trí mà cầu việc Nhất thiết trí, tâm chư a nhu
nhuyến nên bị rơi vào hai bên, khó được thật tướng các
pháp. Thế nên Phật nói: Bồ Tát từ khi mới phát
tâm, vì thương xót chúng sinh nên tâm chấp trước dần dần
mỏng, không hý luận về rốt ráo không; nếu như bảo không
thời có lỗi này, nếu chẳng không thời có lỗi kia.
Hỏi:
Như các chỗ khác nói Bồ Tát tự mình làm lợi ích, cũng
làm lợi ích chúng sinh, cớ gì trong đây chỉ nói lợi ích
chúng sinh, không nói lợi ích mình; vậy làm lợi ích mình,
lợi ích người có lỗi gì?
Đáp:
Bồ Tát hành các pháp lành đều vì hết thảy chúng sinh, điều
ấy là thật. Các nơi khác nói tự mình làm lợi ích,
cũng lợi chúng sinh là vì đối với người phàm phu nên nói
lời ấy, sau đó họ mới có thể dạy hành đạo Bồ Tát.
Người vào đạo có ba bậc hạ, trung và thượng. Bậc
hạ chỉ vì tự độ nên hành pháp lành; bậc trung vì mình
cũng
vì người; bậc thượng chỉ vì người khác nên hành pháp
lành.
Hỏi:
Việc ấy không đúng. Bậc hạ chỉ tự vì mình; bậc
trung chỉ vì chúng sinh; bậc thượng vì lợi mình và lợi
người; nếu chỉ làm lợi người, không thể tự làm
lợi mình thời sao nói là bậc thượng?
Đáp:
Không phải vậy. Pháp của thế gian như vầy: Tự
cúng dường mình không có phước đức và tự hại thân mình
cũng không mắc tội; vì lẽ ấy nên tự làm lợi mình mà
hành đạo gọi là bậc hạ. Tất cả người đời chỉ
vì tự lợi thân mình, không thể lợi người. Nếu tự
vì thân mình mà hành đạo ấy thời là sút giảm, vì tự
ưa đắm mình. Nếu có thể tự xả cái vui của mình,
chỉ vì chúng sinh nên hành pháp lành mới là người bậc thượng,
vì khác với chúng sinh vậy. Nếu chỉ vì chúng sinh nên
hành pháp lành mà chúng sinh chưa được thuần thục, thời
cũng là đầy đủ tự lợi. Nếu lợi ích mình, lại
cũng vì chúng sinh, ấy là hành tạp hành.
Người
cầu Phật đạo có ba hạng: Một là chỉ ưa niệm Phật,
tự cầu lợi mình, được thành Phật; hai là vì thân mình,
cũng vì chúng sinh; ba là chỉ vì chúng sinh, người ấy thanh
tịnh hành đạo, phá được điên đảo chấp ngã. Bồ
Tát khi hành Bát nhã ba la mật không thấy có chúng sinh cho
đến không có kẻ biết kẻ thấy, an trú trong ấy kéo chúng
sinh đưa đén trú trong tính cam lồ. Tính cam lồ là hết
thảy pháp trợ đạo, vì sao? Vì hành pháp ấy được
đến Niết bàn, Niết bàn gọi là tính cam lồ. Trong tính
cam lồ ấy các vọng tường chấp ngã v.v... không còn sinh
trở lại. Bồ Tát tự mình được không dính mắc,
cũng khiến chúng sinh được không dính mắc, ấy gọi là lợi
ích chúng sinh bậc nhất.
Hỏi:
Ở trên chỉ nói lợi ích chúng sinh nên hành đạo, đây cớ
gì nói tự mình được không dính mắc và khiến chúng sinh
được không dính mắc?
Đáp:
Vì bất đắc dĩ. Nếu tự mình không có trí tuệ thời
làm sao làm lợi người? Thế nên trước phải tự
mình được có trí tuệ không dính mắc vậy sau mới dạy
người. Nếu công đức có thể đem cho người khác như
của cải v.v.. thời chư Phật Bồ Tát đã đem công đức cho
chúng sinh cho đến những người oán tặc như Đề Bà
Đạt Đa v.v.. vậy sau mới tự mình tu tập công đức.
Nhưng việc ấy không thể làm được; không thể mình làm
mà người khác được công đức. Đây cũng là nói theo
thế tục đế, chẳng phải theo đệ nhất nghĩa, vì trong đệ
nhất nghĩa không có chúng sinh, không có một, không có khác,
không có phân biệt các pháp tướng. Trong đây nói
không có chỗ dính mắc.
*Lại
nữa, như trước đã nói, tướng không thể nói là đệ nhất
nghĩa. Ở đây tướng có thể nói là thế tục.
Tu
Bồ Đề hỏi: Phật ở đạo tràng được pháp là
dùng thế đế được hay dùng đệ nhất nghĩa đế được?
Ý Tu Bồ Đề là: Nếu dùng thế đế được tức là
hư dối không thật; nếu dùng đệ nhất nghĩa đế được
thời trong đệ nhất nghĩa không có được, không có người
được, nên không thể nói, không thể lãnh thọ?
Phật
dạy: Vì theo ngôn ngữ thế tục nên nói Phật được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác, trong ấy không có người
được, không có pháp được, vì sao? Vì nếu người
ấy được pháp ấy tức là có hai pháp, mà trong hai pháp thời
không có đạo, không có quả! Hai pháp là Bồ Tát và
được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, hai pháp như vậy
đều nói theo thế đế. Nếu là hai thời Phật pháp đâu
được không hư dối? Nếu có người không được đệ
nhất nghĩa mà chỉ do hai pháp phân biệt, ấy thời là hư
vọng. Chư Phật, Bồ Tát do được đệ nhất nghĩa nên
vì độ chúng sinh mà khiến được đệ nhất, tuy phân biệt
các pháp mà chẳng phải hư vọng.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu dùng pháp hai thời không có đạo,
không có quả; nay dùng pháp không hai nên có đạo, có quả
chăng?
Phật
dạy: Pháp hai không có đạo không có quả; pháp không
hai cũng không có đạo không có quả.
Hỏi:
Chỗ khác nói, pháp hai là pháp phàm phu, pháp không hai là pháp
hiền thánh, như phẩm pháp môn Vào không hai nói ở kinh Tỳ
ma la cật?
Đáp:
Pháp không hai là pháp chơn thật của bậc thánh.
Hoặc có Bồ Tát mới phát tâm chưa ngộ được thật tướng
các pháp, nghe pháp không hai ấy liền thủ tướng sinh chấp
trước, nên hoặc khen ngợi, hoặc chê bai pháp không hai.
Lại,
Phật ngăn chặn hai bên mà nói trung đạo; nghĩa là chẳng
phải hai, chẳng phải không hai. Pháp hai gọi là mỗi
mỗi tướng sai khác, pháp không hai gọi là một tướng không.
Vì một tướng không ấy phá mỗi mỗi tướng sai khác, phá
xong lại bỏ luôn tướng không hai; ấy tức là đạo, là quả,
vì sao? Vì các hiền thánh tuy tán thán pháp không hai,
song không chấp trước rằng dùng pháp ấy được đạo được
quả, hay dùng pháp ấy không có đạo không có quả, tức là
hí luận; mà không hí luận là pháp bình đẳng.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Nếu các pháp không có tính sở
hữu thời làm thế nào bình đẳng?
Phật
dạy: Như lìa hữu tính và vô tính nên giả gọi là bình
đẳng. Nếu Bồ Tát không nói hết thảy pháp có, không
nói hết thảy pháp tính, không nói hết thảy pháp tướng,
để chỉ bày cho chúng sinh; cũng không nói không có pháp, không
có pháp tính, không có pháp tướng, để chỉ bày cho chúng
sinh; cũng không nói lìa hai bên ấy lại có tướng bình đẳng.
Đối với hết thảy chỗ không thủ tướng bình đẳng cũng
không lo buồn nói rằng không có bình đẳng mà không ngại
tu các pháp thiện; ấy gọi là các pháp bình đẳng.
*Lại
nữa, các pháp bình đẳng là vượt qua hết thảy pháp.
Hỏi:
Trước đây mọi nơi đều nói các pháp tức là tướng bình
đẳng, bình đẳng tức là thật tướng các pháp, tên khác
mà nghĩa đồng; như sắc như như, chẳng phải sắc chẳng
phải lìa sắc, nay cớ sao nói bình đẳng vượt qua hết thảy
pháp?
Đáp:
Hết thảy pháp có hai thứ: Một là thể của sắc pháp
v.v..., hai là hành trong sắc pháp; thánh nhân hành chơn chánh,
phàm phu hành tà vạy. Trong đây nói bình đẳng là nói
vượt ra ngoài phàm phu chứ không nói ra ngoài sắc pháp v.v...
Lại, bình đẳng không thể hành, không thể đến.
Bấy
giờ Tu Bồ Đề kinh ngạc hỏi: Phật cũng không thể
hành, không thể đến ư? Ý Tu Bồ Đề là, pháp ấy tuy
sâu xa, vi diệu, khó hành, song việc đó Phật có thể hành
được?
Phật
đáp: Từ Tu đà hoàn cho đến Phật đều không thể hành,
không thể đến. Ý Phật là, ba đời mười phương Phật
không thể hành, không thể đến, huống nữa là một đức
Phật, vì tính bình đẳng tự nó như vậy!
Tu
Bồ Đề hỏi: Phật có sức tự tại hành đối
với hết thảy pháp và có trí tuệ không ngại, không chỗ
nào không đến, cớ sao nói Phật không thể hành, không thể
đến?
Phật
đáp: Nếu Phật với bình đẳng khác nhau thời nên có
vấn nạn cớ sao không thể hành, không thể đến. Nay
phàm phu bình đẳng, Tu đà hoàn bình đẳng, Phật bình đẳng,
đều là một bình đẳng, không hai, không phân biệt.
Phàm phu cho đến Phật, tự tính không thể hành trong tự tính,
không thể đến trong tự tính, mà tự tính nên hành trong tha
tính. Thế nên Phật nói: Nếu Phật với bình đẳng
sai khác, thời Phật nên hành bình đẳng. Nhưng vì Phật
tức là bình đẳng nên không hành, không đến chẳng phải
vì trí tuệ ít.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Nếu bình đẳng, thời phàm phu cho
đến Phật không thể được khác nhau, nên nay phàm phu và
thánh nhân không thể có sai khác? Phật hứa khả câu
của Tu Bồ Đề hỏi: Trong bình đẳng không có sai khác,
mà vì theo thế đế nên đối với phàm phu có sai khác.
Tu
Bồ Đề hỏi: Nếu phàm phu cho đến Phật không
có sai khác, thời vì sao hiện có Tam bảo khác nhau ở giữa
thế gian làm lợi ích cho chúng sinh?
Phật
đáp: Bình đẳng tức là Pháp bảo; mà Pháp bảo tức
là Phật bảo và Tăng bảo, vì sao? Vì khi chưa được
pháp bình đẳng thời không gọi là Phật; khi được pháp
bình đẳng rồi nên gọi là Phật. Và vì được pháp
bình đẳng ấy nên phân biệt có Tu đà hoàn v.v... sai khác.
Tu
Bồ Đề lãnh thọ lời Phật dạy: Pháp ấy đều không
hợp, không tán, không sắc, không hình, không đối, chỉ một
tướng và vô tướng. Duy chỉ có Phật mới có lực đối
với không, vô tướng mà phân biệt đây là phàm phu, đây
là thánh nhân.
Này
Tu Bồ Đề, nếu chư Phật không phân biệt có pháp ấy, thời
làm sao biết địa ngục cho đến mười tám pháp không chung!
Hỏi:
Như mặt trời mọc không thể làm cho chỗ cao thành thấp,
chỗ thấp thành cao, mà chỉ có thể chiếu sáng vạn vật
khiến người có mắt thấy biết. Chư Phật cũng như
vậy, không thể chuyển tướng các pháp thế này ra thế khác,
chỉ dùng Nhất thiết trí chiếu rõ, vì người diễn nói cho
họ biết; cớ sao ông nói nếu không phân biệt các pháp thời
làm sao biết có địa ngục cho đến mười tám pháp không
chung? Như nay mắt hiện thấy có súc sinh v.v.. người
đều biết rõ, cần gì Phật nói?
Đáp:
Phật tuy không làm ra các việc xấu tốt mà diễn nói việc
tốt xấu để chỉ bày cho người. Song hiểu biết có
hai: Một là người phàm phu hiểu biết một cách hư vọng;
hai là hiểu biết một cách như thật. Tướng súc sinh
v.v... là phàm phu hiểu biết hư vọng; Phật vì hiểu biết
thật tướng nên nói Phật không phân biệt các pháp, cớ sao
biết có địa ngục v.v...!
*Lại
nữa, pháp của chư Phật, tướng thường tịch diệt, không
có hý luận. Trong đây nếu phân biệt có tướng địa
ngục v.v... thời không gọi là tướng tịch diệt, không hai,
không có hý luận. Nên biết, tuy Phật biết tướng tịch
diệt, không hai, cũng có thể từ trong tướng tịch diệt phân
biệt các pháp mà không rời vào hý luận. Lìa thật tướng
các pháp thời tuy mắt thấy súc sinh v.v.. cũng không thể như
thật biết tướng đó. Như trâu, sừng, chân, đuôi, các
phần ấy hòa hợp có tướng trâu sinh ra là một, các phần
kia là nhiều. Trâu là một, một không thể làm nhiều,
nhiều không thể làm một!
Có
người nói: Nói vậy là sai, vì trừ các phần ra
ngoài nên còn có trâu, có sức cử động, có thể thấy được.
Các phần của trâu hòa hợp sinh ra, mà trâu không khác với
các phần ấy, vì sao? Vì thấy các phần ấy hợp gọi
là thấy trâu, chứ không thấy vật khác gọi là thấy trạu.
Khác là phá một, một là phá khác, chẵng một chẳng khác
là phá một, khác. Nếu không có một, khác thời
làm sao có chẳng một, chẳng khác? Nếu vào trong các
pháp bình đẳng thời bấy giờ mới như thật biết được
các pháp, không nói hai đế, thời làm sao khéo nói tướng
súc sinh v.v...? Nghĩa là đối với pháp bình đẳng bất
động mà phân biệt các pháp.
Bất
động là khi phân biệt các pháp không chấp trước tướng
một, tướng khác.
Tu
Bồ Đề bạch Phật: Như Phật đối với các pháp bình
đẳng bất động, Bích chi Phật đối với các pháp bình đẳng
cũng bất động, vì sao? Vì tướng chư Phật bình đẳng
cho đến tướng phàm phu cũng bình đẳng? Bạch đức
Thế Tôn, nếu như vậy Phật làm thế nào phân biệt các pháp:
Sắc khác, tính sắc khác; thọ tính khác, cho đến tính hữu
vi, vô vi khác; nếu không phân biệt các pháp khác, thời Bồ
Tát khi hành Bát nhã, không được từ một địa đến một
địa, cho đến làm nghiêm tịnh cõi Phật?
Phật
dạy: Ý ông nghĩ sao, suy tìm tướng sắc là không chăng?
Bạch
đức Thế Tôn, thật không.
Trong
không có pháp khác chăng?
Thưa
không, vì sao? Vì rốt ráo không. Vì trí tuệ
vô tướng có thể hiểu được thời trong ấy làm sao có tướng
khác?
Này
Tu Bồ Đề, nếu trong không, không có tướng khác, không bèn
là thật; thế thời ông vì sao đối với không, phân biệt
tướng các pháp mà vấn nạn? Trong rốt ráo không, không
cũng không thể có được, mỗi mỗi tướng cũng không thể
có được, cớ sao ông đem các không mỗi mỗi tướng mà vấn
nạn? Do nhân duyên ấy, nên biết, trong các pháp bình
đằng vì không có phân biệt nên không có người phàm phu,
chỉ vì người phàm phu không phải là thật tướng, cũng không
lìa thật tướng, mà thật tướng phàm phu tức là tướng
thánh nhân. Thế nên nói không chỉ phàm phu không lìa
phàm phu, cho đến Phật cũng như vậy.
Tu
Bồ Đề vì tướng bình đẳng mà có lợi ích lớn nên muốn
biết tướng nhất định của bình đẳng mà hỏi Phật:
Tướng bình đẳng ấy là hữu vi hay vô vi?
Phật
dạy: Chẳng phải hữu vi, cũng chẳng phải vô vi, vì
sao? Vì nếu là hữu vi thời đều là pháp tạo tác
hư vọng; nếu là vô vi thời pháp vô vi không có sinh, trụ,
diệt, cho nên không có pháp! Vì không có pháp nên không
được gọi là vô vi, mà nhân hữu vi nên có vô vi! Như
trong Kinh đây nói: Lìa hữu vi, thời vô vi không thể
có được, như lìa dài không có ngắn; đó là nghĩa đối
đãi.
Hỏi:
Pháp hữu vi là vô thường, pháp vô vi là thường, cớ sao
nói lìa hữu vi thời vô vi không thể có được?
Đáp:
Vì pháp vô vi không có phân biệt nên không có tướng.
Nếu nói tướng thường thời không được nói là không tướng!
Phá pháp hữu vi nên gọi là vô vi, chứ không phải có pháp
vô vi riêng biệt. Như người bị nhốt trong lao ngục
nên đục vách thoát ra. Chỗ vách đục trống là trống
không, chứ không có trống không nào khác. Chỗ trống
không ấy cũng chẳng từ nhân duyên sinh; pháp vô vi cũng như
vậy. Trong pháp hữu vi trước có tính hữu vi, mà phá
hữu vi tức là vô vi! Thế nên nói, lìa hữu vi thời
vô vi không thể có được. Tính hữu vi, vô vi ấy đều
không hợp, không tán, chỉ một tướng tức là vô tướng.
Phật theo nghĩa thế đế nên nói việc ấy, chẳng phải theo
đệ nhất nghĩa, vì sao? Vì Phật tự nói nhân duyên:
Trong đệ nhất nghĩa không có thân hành, miệng hành, ý hành.
Pháp hữu vi, vô vi bình đẳng ấy, cũng không chấp trước
tướng một, nên Bồ Tát đối với đệ nhất nghĩa bất động
mà làm lợi ích chúng sinh, vì sức phương tiện nên dùng mỗi
mỗi nhân duyên vì chúng sinh thuyết pháp.
(Hết
cuốn 95 theo bản Hán)