Tập
5
Cuốn
98
KINH:
Khi ấy mười phương chư Phật an ủi Tát-đà-ba-luân rằng:
Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Chúng ta xưa khi hành
đạo Bồ-tát, cầu Bát-nhã Bát-nhã ba-la-mật, được các
tam-muội ấy cũng như nay ông được. Chúng ta được
các tam-muội ấy, khéo vào Bát-nhã ba-la-mật, thành tựu sức
phương tiện, an trú địa vị không thoái chuyển. Chúng
ta quán tính các tam-muội ấy không thấy có pháp ra tam-muội,
vào tam-muội cũng không thấy người hành Phật đạo, cũng
không thấy người được Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Này thiện nam tử, ấy gọi là Bát-nhã ba-la-mật; nghĩa là
không nghĩ rằng có các pháp ấy.
Này
thiện nam tử, chúng ta an trú nơi pháp vô niệm được thân
kim sắc, hào quang một trượng, ba mươi hai tướng, tám mươi
vẻ đẹp tùy hình và trí tuệ không thể nghĩ nghì, được
giới vô thượng, tam-muội vô thượng, trí tuệ vô thượng,
hết thảy công đức đều đầy đủ. Vì công đức đều
đầy đủ nên Phật còn không thể thủ tướng nói hết, huống
nữa là hàng Thanh văn, Bích-chi Phật và những người khác.
Vì thế, nên thiện nam tử, đối với Phật pháp nên cung kính
ái niệm, sinh tâm thanh tịnh gấp bội; đối với thiện
tri thức nên sinh tưởng như Phật, vì sao? Vì nhờ thiện
tri thức thủ hộ nên Bồ-tát mau được Vô thượng chánh
đẳng chánh giác.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân bạch mười phương Phật rằng: Thế nào
là thiện tri thức của con, người con nên gần gũi cúng dường?
Mười
phương Phật bảo với Tát-đà-ba-luân rằng: Này ông, thiện
nam tử, Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt đời đời giáo hóa thành tựu
cho ông Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt
thủ hộ ông, dạy ông Bát-nhã ba-la-mật và sức phương tiện;
ấy là thiện tri thức của ông. Ông cúng dường Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt hoặc một kiếp, hoặc hai, ba, cho đến quá trăm
kiếp, đầu đội, cung kính, đem hết thảy nhạc cụ, sắc,
tiếng, hương, vị, xúc thượng diệu của trong thế giới
ba ngàn để cúng dường còn chưa thể báo ân trong giây lát,
vì sao? Vì nhờ Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt nên làm cho ông
được các tam-muội như vậy, được Bát-nhã ba-la-mật và
sức phương tiện.
Chư
Phật giáo hóa an ủi Tát-đà-ba-luân như vậy, làm cho hoan
hỷ xong bỗng nhiên không hiện.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân từ tam-muội dậy không còn thấy Phật,
nghĩ rằng: Chư Phật từ đâu đến và đi đến
đâu?. Vì không thấy Phật nên lại rầu rỉ không vui,
suy nghĩ: Ai sẽ dứt nghi cho ta? Lại nghĩ rằng:
Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt lâu xa lại đây thường hành Bát-nhã
ba-la-mật. được sức phương tiện và được các định,
được tự tại đối với pháp Bồ-tát, đã nhiều lần cúng
dường chư Phật quá khứ, đời đời làm thầy ta, thường
làm lợi ích cho ta, ta sẽ gặp Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt và hỏi
Phật từ đâu đến và đi đến đâu?
Bấy
giờ Tát-đà-ba-luân đối với Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt sinh tâm
cung kính, ưa thích, tôn trọng, nghĩ rằng: Ta sẽ đem gì cúng
dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt? Ta nay nghèo cùng; hoa hương,
anh lạc, hương bột, hương xoa, y phục, phan lọng, vàng bạc
chơn châu, lưu ly, pha lê, mã não, xan hô, hổ phách, không có
các vật như vậy có thể đem cúng dường Bát-nhã ba-la-mật
và pháp sư thuyết pháp là Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt. Theo
phép ta không nên đi không đến chỗ Ðàm-vô-kiệt. Nếu
ta không có gì mà đi đến thời tâm không vui vẻ. Ta
sẽ bán thân lấy của, vì Bát-nhã ba-la-mật mà cúng dường
pháp sư Ðàm-vô-kiệt, vì sao? Vì ta đời đời đã mất
vô số thân, ở trong vô thỉ sinh tử hoặc chết hoặc bán,
hoặc vì dục lạc nên phải đời đời ở trong địa ngục
chịu vô lượng khổ não, chưa từng vì pháp thanh tịnh vì
để cúng dường thuyết pháp sư nên bán thân.
Bấy
giờ Tát-đà-ba-luân giữa đường đi vào một thành lớn,
đi đến chợ cất tiếng to rằng: Ai muốn cần người, ai
muốn mua người?
Lúc
ấy ác ma nghĩ rằng: Tát-đà-ba-luân này do mến pháp mà muốn
tự bán thân, vì Bát-nhã ba-la-mật nên cúng dường Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt; sẽ được hỏi ngay Bát-nhã ba-la-mật và sức
phương tiện: Làm so Bồ-tát hành Bát-nhã ba-la-mật mau được
Vô thượng chánh đẳng chánh giác và sẽ được đa văn đầy
đủ, như nước biển lớn, lúc đó không thể làm ngăn trở,
phá hoại, được đầy đủ hết thảy công đức, làm lợi
ích cho các Bồ-tát, vì Vô thượng chánh đẳng chánh giác
nên vượt qua cảnh giới ma của ta, cũng dạy người khác
ra khỏi cảnh giới ma của ta, được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Ta nay sẽ phá hoại việc ấy.
Bấy
giờ ác ma làm che lấp tâm các Bà-la-môn, cư sĩ để không
nghe tiếng rao tự bán mình ấy, trừ một người con gái của
trưởng giả, ma không thể ngăn che được, vì nhân duyên đời
trước của nó. Lúc ấy Tát-đà-ba-luân bán thân không
ai mua nên ưu sầu khóc lóc, đứng ở một bên, khóc rằng:
Ta tự bán thân là vì Bát-nhã ba-la-mật nên cúng dường Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt, mà vì ta tội lớn nên bán thân không có người
mua.
Lúc
ấy trời Ðế-thích nghĩ rằng: Tát-đà-ba-luân mến pháp nên
tự bán thân mình, vì Bát-nhã ba-la-mật nên muốn cúng dường
Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt, ta sẽ thử xem để biết thiện nam
tử ấy thực sự do tâm mến pháp nên xả bỏ thân chăng?
Bấy giờ trời Ðế-thích hóa làm người Bà-la-môn đi gần
bên Tát-đà-ba-luân hỏi rằng: Này anh, thiện nam tử, vì cớ
gì mà khóc lóc, nhan sắc tiều tụy, đứng ở một bên.
Ðáp rằng: Này Bà-la-môn, tôi kính yêu pháp nên tự bán thân,
vì Bát-nhã ba-la-mật, nên muốn cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt.
Nay tôi bán thân mà không có người mua, nên tôi tự nghĩ,
do mình phước mỏng nên muốn bán thân để cúng dường Bát-nhã
ba-la-mật và Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt mà không có người mua.
Khi
ấy Bà-la-môn nói với Tát-đà-ba-luân rằng: Này thiện nam
tử, ta không cần người, ta muốn tế trời nên chỉ cần
tim người, máu người, tủy người, ông có thể bán cho ta
chăng? Bấy giờ Tát-đà-ba-luân nghĩ rằng: Ta được
lợi lớn, ta được lợi lớn bậc nhất. Ta nay vì đầy
đủ Bát-nhã ba-la-mật và sức phương tiện, được bán tim,
máu và tủy. Khi ấy tâm rất hoan hỷ, vui vẻ, không lo
âu, đem tâm nhu hòa nói với Bà-la-môn rằng: Ðiều ông cần
dùng tôi đều chấp thuận. Bà-la-môn nói: Ông cần giá
bao nhiêu? Ðáp: Tùy ý ông trả.
Tức
thời Tát-đà-ba-luân tay phải cầm dao bén chặt cánh tay trái
chảy máu, cắt thịt bắp vế phải, lại muốn phá xương
lấy tủy. Khi ấy có một người con gái của vị trưởng
giả ở trên gác cao trông thấy Tát-đà-ba-luân tự cắt thân
thể, không tiếc mạng sống, nghĩ rằng: Thiện nam tử ấy
vì nhân duyên gì mà làm khốn khổ thân mình như vậy, ta thử
đến hỏi xem. Người con gái của vị trưởng giả liền
xuống lầu, đi đến chỗ Tát-đà-ba-luân, hỏi rằng: Anh vì
nhân duyên gì làm khốn khổ thân như vậy? Anh lấy tim,
máu, tủy ấy để làm gì? Tát-đà-ba-luân đáp: Bán cho
Bà-la-môn. Vì cầu Bát-nhã ba-la-mật nên cúng dường
Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt.
Người
con gái của vị trưởng giả nói: Này thiện nam tử, vì việc
bán thân ấy mà muốn tự đem tim, máu, tủy của mình ra để
cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt, thời được công đức,
lợi lạc gì? Tát-đà-ba-luân nói: Này thiện nữ nhân,
vì Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt khéo học Bát-nhã ba-la-mật và sức
phương tiện, sẽ nói cho tôi việc nên làm của Bồ-tát, việc
hành đạo của Bồ-tát. Tôi học pháp ấy, học đạo
ấy, khi được Vô thượng chánh đẳng chánh giác thời vì
chúng sinh làm chỗ nương tựa, sẽ được thân kim sắc có
ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp tùy hình, hào quang
một trượng sáng vô lượng, đại từ đại bi, đại hỷ
đại xả, bốn điều không sợ, mười lực của Phật, bốn
trí không ngại, mười tám pháp không chung, sáu thần thông
và giới thanh tịnh, thiền tịnh, trí tuệ không thể nghĩ
nghì, được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, được thấy
biết không ngại đối với các pháp, đem pháp bảo vô thượng
mà phân bố cho hết thảy chúng sinh. Có công đức lợi
ích như vậy, tôi sẽ theo nơi Bồ-tát ấy mà được.
Khi
ấy người con gái trưởng giả nghe Phật pháp thượng diệu
thời tâm rất vui mừng, kinh hãi, dựng đứng lông tóc, tán
thán Tát-đà-ba-luân rằng: Thưa thiện nam tử, thật hiếm
có! Những điều ông nói vi diệu, khó gặp, vì mỗi mỗi pháp
ấy nên xả bỏ thân mạng như số cát sông Hằng, vì sao?
Vì như lời ông nói thật vi diệu. Thưa thiện nam tử,
nay ông cần gì, tôi sẽ cho hết: Nào là vàng bạc, chơn châu,
lưu ly, pha lê, san hô, hổ phách, các vật trân báu và hoa hương,
anh lạc, hương xoa, hương đốt, phan lọng, y phục, kỹ nhạc,
các đồ cúng dường để cúng dường Bát-nhã ba-la-mật và
Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt. Thưa thiện nam tử, chớ tự làm
khốn khổ thân mình nữa, tôi cũng muốn đi đến chỗ Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt, cùng với ông gieo trồng căn lành vì được
pháp vi diệu như vậy, như lời ông nói.
Bấy
giờ trời Ðế-thích liền biến trở lại thân cũ mà tán
thán Tát-đà-ba-luân rằng: Lành thay, lành thay, thiện nam tử!
Ông kiên trì chấp nhận việc ấy mà tâm không lay động.
Chư Phật quá khứ khi hành đạo Bồ-tát cũng cầu Bát-nhã
ba-la-mật và sức phương tiện như vậy mà được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Tôi thật không cần dùng tim người,
máu tủy người, mà chỉ đến thử cho biết thôi. Ông
ước nguyện điều gì tôi sẽ cho hết. Tát-đà-ba-luân
đáp: Hãy cho tôi Vô thượng chánh đẳng chánh giác. Trời
Ðế-thích nói: Việc ấy chẳng phải sức tôi làm được,
đó là cảnh giới của chư Phật, nếu cần cúng dường hãy
yêu cầu việc khác. Tát-đà-ba-luân nói: Ông nếu đối
với Vô thượng chánh đẳng chánh giác không có sức thời
ông chắc thấy sự cúng dường của tôi, nên hãy làm cho thân
tôi bình phục như cũ. Thân Tát-đà-ba-luân liền bình
phục, không có thương tích, như cũ không khác. Trời
Ðế-thích giúp cho ước nguyện xong bỗng nhiên không hiện.
Bấy
giờ người con gái của vị trưởng giả nói với Tát-đà-ba-luân
rằng: Thưa thiện nam tử, hãy đến nhà tôi, có cần dùng
gì, tôi xin cha mẹ tôi, đều cho hết. Tôi cũng sẽ từ
giã cha mẹ tôi và cùng những người hầu hạ đi với ông,
đến cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt để cầu đạo.
Tức thời Tát-đà-ba-luân cùng với người con gái của vị
trưởng giả đi đến nhà cô ấy, đứng ở ngoài cửa.
Người con gái của trưởng giả thưa với cha mẹ cho con các
thứ hương hoa, anh lạc, hương xoa, hương đốt, phan lọng,
y phục, vàng bạc, lưu ly, pha lê, chơn châu, san hô, hổ phách,
các đồ kỷ nhạc cúng dường, cũng cho phép chính con và năm
trăm người hầu gái đã hầu hạ trước đây đi cùng Tát-đà-ba-luân
đến chỗ Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt để cúng dường Bát-nhã
ba-la-mật. Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt sẽ thuyết pháp cho chúng
con, chúng con sẽ thực hành đúng như pháp, sẽ được đầy
đủ các phật pháp.
Cha
mẹ của cô gái nói rằng: Bồ-tát Tát-đà-ba-luân là người
nào?
Cô
gái đáp: Người ấy đang ở ngoài cửa. Người ấy vì
tâm sâu xa cầu Vô thượng chánh đẳng chánh giác, muốn độ
thoát chúng sinh khỏi khổ sinh tử. Người ấy vì pháp
nên tự bán thân mình để cúng dường Bát-nhã ba-la-mật.
Bát-nhã ba-la-mật là đạo của Bồ-tát tu học. Vì cúng
dường Bát-nhã ba-la-mật và cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt
nên người ấy ở giữa chợ cất lớn tiếng rằng, ai cần
người, ai muốn mua người. Người ấy muốn bán thân
mà không có người mua nên đứng ở bên đường, ưu sầu
khóc lóc. Bấy giờ trời Ðế-thích hóa làm Bà-la-môn
đi đến muốn thử lòng, hỏi rằng: Này thiện nam tử, vì
cớ gì mà ưu sầu khóc lóc, đứng ở bên đường vậy?
Ðáp: Này Bà-la-môn, tôi muốn bán thân để cúng dường Bát-nhã
ba-la-mật và Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt, song vì tôi phước mỏng
nên bán thân không có người mua. Bà-la-môn nói với thiện
nam tử rằng, ta không cần người, ta muốn tế trời nên cần
tim người, máu người, tủy người, ông có thể bán chăng?
Khi ấy thiện nam tử không còn ưu sầu, tâm rất nhu hòa, vui
vẻ, nói với Bà-la-môn rằng: Ðiều ông cần thiết ta liền
cho hết. Bà-la-môn nói: Ông cần giá bao nhiêu? Ðáp:
Tùy ý ông trả. Tức thời thiện nam tử ấy tay phải
cầm dao bén chặt cánh tay trái ra máu, cắt thịt bắp vế
phải. Lại muốn phá xương lấy tủy, con ở trên gác
xa thấy việc ấy, bấy giờ con liền nghĩ: Người ấy vì
cớ gì mà làm khốn khổ thân mình như vậy, ta thử đến
hỏi xem. Con liền xuống lầu đi đến hỏi: Này thiện
nam tử, vì nhân duyên gì mà ông tự làm khốn khổ thân mình
như vậy? Thiện nam tử ấy đáp lại con rằng: Này chị,
tôi vì cầu pháp nên muốn cúng dường Bát-nhã ba-la-mật và
người thuyết pháp là Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt. Nhưng tôi
nghèo cùng, không có của cải, không có vàng bạc, lưu ly,
xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, pha lê, chân châu, hoa hương,
kỹ nhạc. Này chị, tôi vì muốn cúng dường pháp nên
tự bán thân mình, nay đây gặp được người mua cần tim
người, máu người, tủy người, tôi cần được giá để
cúng dường Bát-nhã ba-la-mật và người thuyết pháp là Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt. Con hỏi người con trai ấy: Nay ông tự
bán tim, máu, tủy của mình để cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt
thời được công đức gì? Thiện nam tử ấy đáp: Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt sẽ vì tôi nói Bát-nhã ba-la-mật và sức phương
tiện, đó là đạo Bồ-tát nên học, Bồ-tát nên làm, Bồ-tát
nên thực hành. Tôi sẽ học đạo ấy được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác, làm chỗ nương tựa cho chúng sinh.
Tôi sẽ được thân kim sắc đủ ba mươi hai tướng, tám mươi
vẻ đẹp tùy hình, hào quang một trượng, ánh sáng vô lượng,
đại từ đại bi, đại hỷ đại xả, bốn điều không sợ,
bốn trí không ngại, mười lực của Phật, mười tám pháp
không chung, sáu thần thông, giới thanh tịnh, thiền định,
trí tuệ không thể nghĩ nghì, được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác, thấy biết hết thảy không ngại đối với các
pháp, đem pháp báu vô thượng phân bố cho chúng sinh.
Pháp lớn vi diệu như vậy tôi sẽ theo Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt
mà có được. Con nghe công đức vi diệu không thể nghĩ
nghì của chư Phật và nghe nguyện lớn của Tát-đà-ba-luân
như vậy nên tâm con vui mừng, nghĩ rằng: Nguyện lớn vi diệu,
thanh tịnh ấy thật hiếm có, cho đến vì mỗi mỗi pháp như
vậy mà xả bỏ thân mạng như số cát sông Hằng. Thiện
nam tử ấy vì pháp mà có thể chịu khổ hạnh, làm việc
khó làm là không tiếc thân mạng. Con có nhiều châu báu,
cớ gì không phát nguyện siêng cầu pháp như vậy mà cúng
dường Bát-nhã ba-la-mật và Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt? Con
suy nghĩ như vậy rồi, nói với Bồ-tát Tát-đà-ba-luân rằng:
Này ông, thiện nam tử, chớ làm khốn khổ thân mình nữa!
Tôi sẽ thưa với bố mẹ tôi cho ông nhiều vàng bạc, lưu
ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, pha lê, chân châu, hoa
hương, chuỗi anh lạc, hương xoa, hương bột, y phục, phan
lọng cùng các đồ kỹ nhạc để cúng dường Bát-nhã ba-la-mật
và người thuyết pháp là Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt. Tôi
cũng xin bố mẹ thêm các người hầu cùng tôi đi đến cúng
dường người thuyết pháp là Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt, cùng
tôi gieo trồng căn lành, vì để được pháp thanh tịnh ấy,
như lời nói. Bố mẹ nay hãy cho con 500 người hầu trước
đã cung cấp, hầu hạ con, cũng cho phép con đem các hương
hoa, anh lạc, hương bột, hương xoa, y phục, phan lọng, kỹ
nhạc, vàng bạc, lưu ly, đồ cúng dường cùng với Tát-đà-ba-luân
đi đến cúng dường Bát-nhã ba-la-mật và người thuyết pháp
là Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt, vì để được pháp Phật thanh tịnh
vi diệu như vậy.
Bấy
giờ cha mẹ bảo với con gái rằng: Ðiều con ca tụng thật
là hiếm có, khó có ai sánh kịp, nói rằng: Thiện nam tử
ấy siêng năng vì pháp, rất ưa vui pháp và các Phật pháp
không thể nghĩ nghì, là tối thượng bậc nhất giữa hết
thảy thế gian, là nhân duyên vui mừng cho hết thảy chúng
sinh. Thiện nam tử ấy vì pháp nên trang nghiêm lớn.
Cha mẹ cho phép con đi đến gặp Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt để
gần gũi cúng dường. Con phát tâm lớn vì Phật pháp
nên tinh tấn như vậy, thời cha mẹ làm sao không tùy hỷ được?
Cô
gái ấy vì cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt nên được cha
mẹ cho phép, trả lời cha mẹ rằng: Cha mẹ cũng tùy hỷ tâm
nguyện ấy, chúng con trọn không làm mất nhân duyên pháp thiện
của cha mẹ.
Khi
ấy người con gái của vị trưởng giả trang hoàng năm trăm
cỗ xe bảy báu, tự thân mình cùng các người hầu gái đem
các vật báu cúng dường, các loại hoa sinh dưới nước, sinh
trên đất và vàng bạc, hoa báu, áo báu đủ màu, hương thơm,
hương giã, hương nước, anh lạc và các mùi vị ăn uống
cùng với Bồ-tát Tát-đà-ba-luân và 500 người hầu gái, mỗi
người cưỡi một xe vây quanh cung kính, dần dần đi về phương
đông. Thấy thành Chúng Hương trang nghiêm bằng bảy báu,
ao bảy báu bao quanh bảy lớp, hàng cây bảy báu đều cũng
bảy lớp. Thành kia ngang dọc mười hai do tuần, giàu
vui yên lặng thật là vui vẻ, nhân dân thịnh vượng.
Năm trăm làng chợ, đường ngõ ngang nhau đoan nghiêm như bức
họa; cầu đò như đất, rộng rãi trong sạch.
Từ
xa trông thấy thành Chúng Hương, khi vào trong thành, thấy Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt ngồi trên tòa ở đài cao thuyết pháp, có vô
lượng trăm ngàn vạn ức chúng cung kính vây quanh. Tát-đà-ba-luân
khi thấy Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt, tâm rất vui mừng; thí như
Tỳ-kheo khi vào thiền thứ ba, nhiếp tâm yên ổn. Thấy
rồi nghĩ rằng: Theo lẽ, chúng ta không nên cưỡi xe đi đến
chỗ Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt. Nghĩ rồi, xuống xe đi bộ
đến. Người con gái của vị trưởng giả và 500 người
hầu cũng đều xuống xe. Tát-đà-ba-luân cùng với người
con gái của vị trưởng giả và 500 người hầu gái đủ các
báu đẹp đẽ cung kính vây quanh, cùng đi đến chỗ Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt. Bấy giờ Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt có đài
bảy báu, có hương Chiên-đàn sinh ở núi Xích Ngưu đầu để
trang nghiêm, có lưới chân châu che trên đài, bốn góc đều
treo ngọc báu Ma-ni để làm đèn sáng và có lò hương bốn
báu, thường đốt hương thơm có tiếng để cúng dường Bát-nhã
ba-la-mật. Trong đài có giường lớn bảy báu, giường
nhỏ bốn báu trải chồng trên đó; lấy là vàng ròng chép
Bát-nhã ba-la-mật đặt trên giường nhỏ và các thứ phan
lọng trang nghiêm che lên trên. Tát-đà-ba-luân và các
cô gái thấy đài báu trang nghiêm và thấy trời Ðế-thích
cùng với trăm ngàn vạn chư thiên lấy hoa Mạn-đà-la trời,
bột hương Chiên-đàn; mài châu báu thành từng mạt nhỏ để
rải trên đài; đánh kỹ nhạc trời ở giữa hư không làm
vui đài ấy.
Bấy
giờ Tát-đà-ba-luân hỏi trời Ðế-thích rằng: Thưa Kiều-thi-ca,
vì nhân duyên gì mà ông cùng với vô lượng trăm ngày vạn
chư thiên, lấy hoa Mạn-đà-la trời, bột hương chiên đàn,
mài châu báu thành từng mạt nhỏ để rải lên trên đài;
đánh kỹ nhạc trời ở giữa hư không để làm vui đài ấy?
Trời Ðế-thích đáp: Này thiện nam tử, không biết ư?
Ðây là Bát-nhã ba-la-mật lớn, là mẹ của các Bồ-tát lớn,
có thể sinh ra chư Phật và nắm giữ các Bồ-tát. Bồ-tát
học Bát-nhã ba-la-mật ấy thời thành tựu tất cả công đức,
được trí Nhất thiết chủng của chư Phật.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân rất vui mừng, hoan hỷ hỏi trời Ðế-thích
rằng: Thưa Kiều-thi-ca, Bát-nhã ba-la-mật là mẹ của các
Bồ-tát, hay sinh ra chư Phật và nắm giữ Bồ-tát; Bồ-tát
học Bát-nhã ba-la-mật ấy thời thành tựu hết thảy công
đức, được trí Nhất thiết chủng của Phật nay ở chỗ
nào?
Trời
Ðế-thích đáp: Này thiện nam tử, trong đài ấy có giường
lớn bảy báu, giường nhỏ bốn báu trải chồng trên ấy;
dùng lá vàng ròng chép Bát-nhã ba-la-mật để trên giường
nhỏ. Do Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt lấy ấn bảy báu ấn vào
nên chúng tôi không thể mở ra để chỉ bày cho ông.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân cùng với người con gái của vị trưởng
giả và 500 người hầu gái lấy đồ cúng dường, hương hoa,
chuỗi anh lạc, phan lọng chia làm hai phần: Một phần cúng
dường Bát-nhã ba-la-mật, một phần cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt
ngồi trên pháp tòa.
Bấy
giờ Tát-đà-ba-luân cùng với 500 người nữ đem hương hoa,
chuỗi anh lạc, phan lọng, kỹ nhạc, các châu báu cúng dường
Bát-nhã ba-la-mật xong, sau đó đến chỗ Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt.
Ðến rồi, trông thấy Ðàm-vô-kiệt ngồi trên pháp tòa bèn
đem hương hoa, anh lạc, hương giã, hương nước, vàng bạc,
hoa báu, phan lọng, áo báu rải lên trên ấy, vì pháp nên cúng
dường. Khi ấy hoa hương, áo báu ở giữa hư không phía
trên Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt biến thành đài hoa; bột hương
chiên đàn, mảnh báu, vàng bạc, hoa báu biến thành trướng
báu. Trên màn báu, các áo báu biến làm lọng báu, bốn
phía lọng báu treo các phan báu. Tát-đà-ba-luân và các
cô gái thấy sự biến hóa của Ðàm-vô-kiệt thời rất vui
mừng nghĩ rằng chưa từng có, không ngờ đại sư Ðàm-vô-kiệt
có thần lực và uy đức như vậy. Khi hành đạo Bồ-tát
còn có sức thần thông như thế, huống gì khi được Vô thượng
chánh đẳng chánh giác?
Bây
giờ người con gái của vị trưởng giả và 500 người hầu
gái lòng tin trong sạch, cung kính Ðàm-vô-kiệt mà đều phát
tâm Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nguyện rằng: Như Ðàm-vô-kiệt
được pháp Bồ-tát sâu xa, vi diệu, như Ðàm-vô-kiệt cúng
dường Bát-nhã ba-la-mật, như Ðàm-vô-kiệt ở giữa đại
chúng diễn nói, phô bày Bát-nhã ba-la-mật, như Ðàm-vô-kiệt
được Bát-nhã ba-la-mật và sức phương tiện, thành tựu
thần thông, được tự tại đối với việc của Bồ-tát,
thời chúng con đây cũng sẽ như vậy.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân và 500 người hầu gái dùng hương hoa,
vật báu cúng dường Bát-nhã ba-la-mật và Ðàm-vô-kiệt xong,
đầu mặt cúi lễ Ðàm-vô-kiệt rồi chấp tay cung kính đứng
một bên, thưa với Ðàm-vô-kiệt rằng: Con vốn khi cầu Bát-nhã
ba-la-mật, ở chỗ núi rừng trống vắng nghe giữa hư không
có tiếng nói rằng: Này thiện nam tử, ông nên đi về phương
đông sẽ được nghe Bát-nhã ba-la-mật. Con lãnh thọ
lời ấy liền đi về phương đông. Ði chưa bao lâu, nghĩ
rằng: Cớ sao con không hỏi tiếng nói giữa hư không rằng,
con sẽ đi đến chỗ nào? Ði xa hay gần? Sẽ theo
ai nghe? Khi ấy con thật ưu sầu mà khóc lóc, ở chỗ
ấy bảy ngày bảy đêm ưu sầu cho đến không nghĩ đến ăn
uống, chỉ nghĩ đến lúc nào con sẽ được nghe Bát-nhã ba-la-mật.
Con ưu sầu như vậy, một lòng nghĩ tới Bát-nhã ba-la-mật,
thời bỗng thấy thân Phật hiện ra giữa hư không, nói với
con rằng: Này thiện nam tử, con có ước nguyên lớn,
tâm tinh tấn lớn. Chớ buông bỏ ước nguyện lớn ấy,
tâm tinh tấn lớn ấy, ông cứ đi về phương đông, cách 500
do tuần có thành tên là Chúng Hương, trong đó có vị Bồ-tát
tên là Ðàm-vô-kiệt, đến chỗ người ấy sẽ được nghe
Bát-nhã ba-la-mật. Bồ-tát ấy đời đời là thiện tri
thức của ông, thường ủng hộ ông. Con theo Phật thọ
giáo xong liền đi về phương đông, không nghĩ đến chuyện
khác, chỉ nghĩ đến khi nào con sẽ thấy Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt
vì con thuyết Bát-nhã ba-la-mật. Bấy giờ đang ở giữa
đường con được trí thấy không ngại đối với hết thảy
pháp, quán các pháp tính, được các tam-muội hiện ra trước
mắt. Trú trong các tam-muội ấy thấy mười phương vô
lượng vô số chư Phật nói Bát-nhã ba-la-mật. Chư Phật
khen con rằng: Lành thay, lành thay, thiện nam tử! Ta xưa khi
cầu Bát-nhã ba-la-mật được các tam-muội cũng giống như
ông ngày nay. Ðược tam-muội ấy rồi thời khắp được
Phật pháp. Khi Phật vì con thuyết pháp, an ủi con rồi,
bỗng nhiên không hiện. Con từ tam-muội dậy nghĩ rằng:
Chư Phật từ đâu đến và đi đến đâu? Con vì không thấy
chư Phật nên rất ưu sầu, lại nghĩ rằng: Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt
cúng dường Phật trước, gieo trồng căn lành, hành Bát-nhã
ba-la-mật sâu xa, khéo biết sức phương tiện, đối với đạo
Bồ-tát được tự tại, là thiện tri thức của ta, thủ hộ
cho ta. Ta sẽ hỏi Ðàm-vô-kiệt việc ấy: Chư Phật từ
đâu đến và đi đến đâu? Con nay xin hỏi đại sư:
Chư Phật từ đâu đến và đi đến đâu. Nguyện đại
sư vì con nói rõ chư Phật từ đâu đến và đi đến đâu,
khiến con được biết. Biết rồi con cũng thường không
xa lìa thấy Phật.
LUẬN:
Tát-đà-ba-luân khát ngưỡng muốn nghe Bát-nhã nên thấy mười
phương chư Phật vì đại chúng thuyết pháp thời tâm rất
hoan hỷ, được mãn ý nguyện. Chư Phật vì thấy sức
tin của người đó bền chắc, tinh tấn, chịu khó nhọc nên
an ủi tâm người đó, khen rằng: Lành thay! Ta xưa khi mới
hành đạo Bồ-tát cầu Bát-nhã cũng như ông hôm nay, ông chớ
ưu sầu mà tự cho mình phước mỏng.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân thật được sức các tam-muội, tâm ông
ấy đắm sâu. Thế nên chư Phật dạy rằng: Hãy tìm
thật tính các tam-muội thời không thấy thật thể, cũng không
thấy người vào tam-muội và ra tam-muội, vì chúng sinh không,
pháp không. Chư Phật lượt nói cho tướng Bát-nhã ba-la-mật:
Không nghĩ rằng có pháp ấy; nghĩa là hết thảy pháp không
có tướng nên không thể nghĩ tướng hay chấp trước.
Chúng ta ở trong pháp vô niệm ấy, có thể đầy đủ sáu
Ba-la-mật. Vì sáu Ba-la-mật đầy đủ nên được thân
kim sắc như trong kinh này nói. Chư Phật giáo hóa, vì
lợi ích vui mừng mà an ủi tâm Bồ-tát ấy.
Hỏi:
Trên kia hóa Phật đã nói cho biết rằng “Ðàm-vô-kiệt đời
đời là thiện tri thức của ông”, cớ sao nay còn hỏi “ai
là thiện tri thức của con”?
Ðáp:
Vì Phật dạy đối với thiện tri thức hãy ái niệm cung kính
gấp bội. Lại vì muốn ở chỗ mười phương Phật mà
nghe công đức của Ðàm-vô-kiệt. Vì muốn làm cho lòng
tin mình bền chắc nên không nghi mà vẫn hỏi. Mười
phương Phật đáp như trong kinh đây nói. Tát-đà-ba-luân
là người có nhân duyên được Ðàm-vô-kiệt hóa độ, nên
được chư Phật giúp đỡ, chỉ bày; hoặc được các Bồ-tát
giúp đỡ. Vì người đáng được Phật độ nên khiến
đi đến chỗ Phật.
Hỏi:
Trên kia nghe tiếng nói giữa hư không mà không hỏi, nên bảy
ngày khóc than; nay không thấy mười phương Phật cớ sao không
ưu sầu, mà lại cầu thấy Phật, chỉ muốn đến chỗ Ðàm-vô-kiệt
hỏi việc Phật đến, Phật đi?
Ðáp:
Tát-đà-ba-luân khi trước chỉ có mắt thịt, chưa được
tam-muội, song vì tâm sâu xa tin đắm thiện pháp nên rất khóc
than. Nay được các sức tam-muội, lại thấy mười phương
chư Phật, các phiền não mỏng ít, tâm đắm trước đã xa
lìa, nên một lòng nghĩ rằng: Lúc nào ta sẽ thấy Bồ-tát
Ðàm-vô-kiệt?
Hỏi:
Nếu Tát-đà-ba-luân được sức tam-muội, cớ gì không trở
lại vào tam-muội để hỏi mười phương chư Phật từ đâu
đến và đi đến đâu, mà lại muốn thấy Ðàm-vô-kiệt để
hỏi?
Ðáp:
Mười phương Phật cũng dùng mỗi mỗi nhân duyên khen ngợi
Ðàm-vô-kiệt là “đời đời làm thầy ông”. Thế
nên muốn hỏi Ðàm-vô-kiệt.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân nghĩ rằng, Ðàm-vô-kiệt là nhân duyên
đời trước của ta, thế nên sinh tâm cung kính tôn trọng.
Do có công đức lớn nên tôn trọng, vì là nhân duyên đời
trước nên cung kính, ái mộ.
Hỏi:
Trước nói Tát-đà-ba-luân không quá đắm việc thế gian mà
thật yêu Bát-nhã ba-la-mật nên ưu sầu, khóc than. Nay
cớ gì tự chê mình nghèo cùng, không có gì để cúng dường?
Chỉ đem tâm đi theo thầy, ấy cũng là pháp cúng dường, cần
gì phải dùng hương hoa?
Ðáp:
Pháp cúng dường tuy cao thượng, song chúng sinh ở thế gian
thấy từ xa đi đến cầu pháp mà hai tay không có gì, thời
tâm không hoan hỷ. Vì theo pháp thế gian nên tìm vật
cúng dường.
*
Lại nữa, năm Ba-la-mật là trợ giúp Bát-nhã ba-la-mật.
Trong pháp trợ giúp, bố thí là đứng đầu. Tát-đà-ba-luân
suy nghĩ: Ta được ruộng phước tôn trọng là Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt.
Hãy lấy pháp trợ đạo căn bản cúng dường; cũng muốn vì
phát khởi tâm hoan hỷ của đại chúng rằng: Tát-đà-ba-luân
là người trí, người lành; nghèo cùng mà còn có thể cúng
dường, huống nữa là chúng ta!
Lại
nữa, khi thực hành các pháp lành mà khi suy nghĩ ý vị của
nó khác nhau. Tát-đà-ba-luân muốn thực hành ý vị bố
thí nên tìm vật cúng dường.
Hỏi:
Tát-đà-ba-luân là Bồ-tát lớn, có thể thấy mười phương
Phật, lại được các tam-muội sâu xa, cớ gì bị nghèo cùng?
Ðáp:
Có người nói: vị ấy bỏ nhà cầu Phật đạo, tuy sinh trong
nhà giàu mà xóm làng cách xa, nên đi một mình mà không mang
theo tài vật. Có người nói: Tuy là đại nhân nhưng vì
tội nhỏ của đời trước nên sinh vào nhà nghèo cùng.
Có người tuy là tiểu nhân nhưng do chút ít nhân duyên đời
trước nên sinh vào nhà giàu; như Tô-đà-di, Mi-tha v.v... là
người được chư thiên cúng dường mà sinh vào tiểu gia.
Nghèo là hai: Một là nghèo của; hai là nghèo công đức của
pháp. Nghèo công đức của pháp là cái nghèo rất lớn,
đáng hổ thẹn. Nghèo của, người tốt cũng có; nghèo
pháp, người tốt không có.
Không
có hương hoa là không có hoa báu thượng diệu, lại vì ít
nên nói không có. Ta nếu tay không mà đến, thầy tuy
không cần vật cúng nhưng tâm ta không được vui, vì thế
nên muốn bán thân.
Hỏi:
Nếu bán thân mình cho người khác thời ai đem vật ấy đến
cúng dường thầy?
Ðáp:
Xả bỏ thân tức là cúng dường lớn; dù có đi đến hay
không đi đến không đáng kể. Có người nói: Người
ấy bán thân lấy của, nhân nơi thân người để cúng dường:
Ta vì cúng dường mà bán thân làm nô tì. Lại có người
nói: Lúc bấy giời nhằm đời tốt đẹp, mọi người
đều biết pháp, tuy tự bán thân, mà người mua chắc chắn
có thể nghe nói để cúng dường, mà trả lại.
*
Lại nữa, người ấy phát tâm sâu xa, muốn thực hành bố
thí để vì cúng dường pháp và pháp sư mà không có vật
bên ngoài, chỉ có thân mình là vật bên trong nên bán vật
bên trong. Ðối với các vật trong, ngoài, vật trong là
nặng, mến tiếc rất sâu, vì muốn không phá hạnh nguyện
bố thí nên bán thân để cúng dường. Trong kinh đây
nói nhân duyên không hối hận: Ta đời đời mất mạng nhiều
vô số mà chưa từng vì pháp thanh tịnh. Nên nay vì cúng
dường người thuyết pháp mà bỏ thân này thời được lợi
ích Phật pháp rất lớn.
Tát-đà-ba-luân
định tâm, dứt ý nghĩ tham tiếc thân, ở giữa đường đi
vào một thành lớn muốn bán cho người mua tùy ý sử dụng.
Nhất tâm muốn bán thân vì trừ hổ thẹn, phá kiêu mạn nên
xướng to rằng: Ai cần người?
Hỏi:
Ác ma cớ gì muốn phá hoại ý nghĩ của người ấy?
Ðáp:
Ma thường là oan gia của chư Phật và Bồ-tát, nên muốn đến
phá.
*
Lại nữa, các Bồ-tát nhỏ chưa được thật tướng các pháp
nên ma và người ác có thể phá. Nếu được vô sinh
pháp nhẫn, trú trong sức thần thông của Bồ-tát thời không
ai phá nỗi. Như trồng cây nhỏ thời trẻ con phá được,
cây lớn thời không thể phá.
*
Lại nữa, trong đây tự nói nhân duyên ma phá rằng: Tát-đà-ba-luân
yêu kính pháp nên tự bán thân để cúng dường Bát-nhã ba-la-mật
và Bồ-tát thuyết pháp, sẽ được hỏi ngay Bát-nhã ba-la-mật,
nói rộng như trong kinh này.
Hỏi:
Nếu ma muốn phá Tát-đà-ba-luân thời nên trước tiên đi
đến nghe giữa hư không có tiếng, và khi thấy mười phương
Phật cớ gì không phá hoại, mà nay mới ngăn che các Bà-la-môn,
cư sĩ khiến không nghe được tiếng rao bán?
Ðáp:
Tát-đà-ba-luân lúc trước tâm chưa định nên còn tiếc thân.
Khi thấy mười phương Phật và được các tam-muội thời
tâm kia mới định. Nay tướng định tâm hiện ra nên
ma kinh sợ. Nếu Bồ-tát tâm chưa định thời chưa thể
động đến ma; nếu Bồ-tát tâm đã định thời ma cũng không
đến được. Tát-đà-ba-luân nay muốn định tâm, thoát
ra khỏi cảnh giới của ma nên ma đi đến. Thí như người
mắc nợ chưa muốn đi xa, chủ nợ không ngăn cản; khi muốn
ra khỏi ranh giới thời chủ nợ không để cho đi.
Hỏi:
Ma có sức lớn, vì cớ gì không giết Bồ-tát ấy, mà chỉ
phá hoại?
Ðáp:
Ma vốn không ganh tị mạng sống của người ấy, chỉ ghét
tâm làm Phật kia, thế nên muốn phá. Lại, pháp của
các thiên thần đối với người không có tội nặng thời
không thể giết càn, chỉ có thể phá loạn, khủng bố.
Nếu thiên thần không có khuôn phép ấy thời người không
có ai được sống; thế nên không giết.
Sinh
vào dòng Bà-la-môn, vì thọ giới nên gọi là Bà-la-môn, ngoài
ra gọi chung là cư sĩ.
Cư
sĩ là chỉ cho ông chủ ở nhà, chẳng phải cư sĩ trong bốn
giai cấp, ngoại trừ người con gái trưởng giả. Do người
ấy vì Phật đạo mà đời đời chứa nhóm công đức nên
ma không thể ngăn che. Lại có người nói: Tát-đà-ba-luân
không đáng chết nên khiến một người con gái nghe tiếng
rao bán. Có người nói: Nhờ thần lực của Ðàm-vô-kiệt
nên khiến người con gái của vị trưởng giả nghe tiếng
rao bán. Rao bán như vậy ba lần, không có người mua nên
rất ưu sầu.
Hỏi:
Tát-đà-ba-luân đã không tiếc thân, thời tuy không có ai mua
cũng không nên ưu sầu?
Ðáp:
Ðã phát tâm lớn mà không được mãn nguyện thế nên rất
sầu.
Trời
Ðế-thích nghĩ rằng: Tát-đà-ba-luân muốn bán thân mà không
có ai mua, nói rộng như trong kinh đây.
Hỏi:
Trời Ðế-thích có sức biết tâm người khác do quả báo
được, nên biết tâm Tát-đà-ba-luân đã quyết định, cớ
gì nay đi đến thử?
Ðáp:
Chư thiên chỉ biết tâm người thế gian, còn tâm làm Phật,
không làm Phật thời không thể biết được; trừ Phật, không
có ai biết được người ấy vì Phật đạo, nên thọ ký
cho.
*
Lại nữa, trời Ðế-thích muốn được dẫn đường nhiều
người cho nên đến thử, ai nghe thấy cũng đều phát tâm
cầu làm Phật. Lại như các báu vàng, bạc không vì khinh
hèn nó mà đốt nấu, mài dũa; Bồ-tát cũng như vậy, nếu
có thể cắt thịt ra máu, phá xương lấy tủy mà tâm kia bất
động; ấy là chính định của Bồ-tát. Thế nên Ðế-thích
đến thử.
Hỏi:
Ðế-thích là thiên vương lớn, cớ gì nói dối rằng: Ta muốn
tế trời, cần dùng tim, máu, tủy người?
Ðáp:
Nếu vì phiền não, xan tham, sân giận, muốn cầu tự lợi
mà nói dối như thế thời là tội. Song nếu trời Ðế-thích
đem thân thật, lời thật ra thử thời Bồ-tát không tin.
Thế nên như phép của nước người ấy cần tế trời, vì
người ấy tin thọ như vậy.
Khi
ấy Tát-đà-ba-luân rất hoan hỷ, nói rằng: Ta được lợi
lớn.
Lợi
lớn là được địa vị không thoái chuyển, còn lợi bậc
nhất là Phật đạo. Lợi lớn là năm Ba-la-mật; lợi
bậc nhất là Bát-nhã ba-la-mật. Lợi lớn là Bát-nhã
ba-la-mật; lợi bậc nhất là sức phương tiện của Bát-nhã
ba-la-mật. Lợi lớn là sơ địa Bồ-tát; lợi bậc nhất
là thập địa. Lợi lớn là từ sơ địa đến thập
địa; lợi bậc nhất là địa thứ mười. Lợi lớn
là Bồ-tát địa, lợi bậc nhất là Phật địa; phân biệt
như vậy. Tuy chưa đầy đủ nhưng đã là nhân duyên đầy
đủ, thế nên nói là đầy đủ.
Hỏi:
Nếu trời Ðế-thích hóa thân đi đến, cớ gì hỏi “ông
cần giá bao nhiêu”?
Ðáp:
Vì biết người kia muốn cúng dường Ðàm-vô-kiệt nên muốn
làm mãn nguyện người đó. Lại, trời Ðế-thích làm
khốn khổ Tát-đà-ba-luân, sợ ông ấy đòi nhiều nên hỏi
cần giá bao nhiêu.
Tùy
ý ông trả cho tôi là, nói rằng: Theo ý ông nên trả cho tôi,
chừng nào mà đối với ông không tham tiếc nhiều, không gây
ra hối hận. Tát-đà-ba-luân không có thế lực nên không
thể bảo hạng Chiên-đà-la mà tự mình cầm dao cắt lấy.
Bà-la-môn vì cũng sợ tội nên không cắt lấy. Vì thế
Tát-đà-ba-luân tự cầm dao cắt xẻ thân mình.
Hỏi:
Nếu người con gái trưởng giả nghe tiếng, cớ sao không đi
đến hỏi rằng: “Ông vì sao tự bán thân”?
Ðáp:
Việc bán thân mà chỉ nói suông thời là việc nhẹ.
Phá thân, lấy tim, tủy là việc nặng nên con gái của vị
trưởng giả phát tâm. Người con gái của vị trưởng
giả ở trên lầu từ xa trông thấy người ấy tự cắt xẻ
mà nghĩ rằng: Hết thảy chúng sinh đều tìm vui sợ khổ,
tham tiếc thân mình, còn Tát-đà-ba-luân lại tự cắt xẻ
thân mình, thật là hiếm có. Lại do nhân duyên phước
đức đời trước dắt dẫn nên đi đến chỗ kia mà hỏi.
Tát-đà-ba-luân đáp: Muốn cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt.
Lại hỏi: Ðược lợi ích gì? Ðáp: Ðược Bát-nhã ba-la-mật,
là chỗ học của Bồ-tát. Nên từ nơi Tát-đà-ba-luân
nghe được: Tôi học đạo ấy sẽ được làm Phật, làm chỗ
nương dựa cho hết thảy chúng sinh. Thí như cây lá rậm
dày thời che mát nhiều. Lại như khi nóng, giữa đồng
trống, đường hiểm mà gặp được ao lớn trong mát; để
làm cho phát tâm nên nói công đức hiện tại của Phật là
thân kim sắc, 32 rướng, hào quang một trượng, ánh sáng vô
lượng.
Hào
quang một trượng là, vì chúng sinh trong đời ác cõi Diêm-phù-đề
trông thấy, chứ ánh sáng thật của chư Phật không có hạn
lượng.
Ðại
từ đại bi cho đến ý nghĩa sáu thần thông như trước đã
nói.
Giới
thanh tịnh, thiền định, trí tuệ không thể nghĩ nghì như
đã nói trong phần giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải
thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn của Phật.
Ðược
thấy biết hết thảy không ngại đối với các pháp là chư
Phật có giải thoát không ngại, tri kiến tương ưng với giải
thoát ấy, đối với hết thảy pháp không bị chướng ngại.
Phân biệt tri và kiến như trước đã nói.
Tát-đà-ba-luân
nói: Tôi được vô lượng công đức Phật như vậy, do đem
pháp báu vô thượng phân bố cho hết thảy chúng sinh.
Pháp
báu vô thượng là có người nói pháp báu trong ba ngôi báu.
Có
người nói: Tám vạn bốn ngàn pháp tụ, ấy là pháp
báu. Ðược pháp bảo ấy nên trừ các phiền não, dứt
các hí luận, giải thoát các khổ.
Có
người nói: Pháp báu vô thượng tức là Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, không có pháp nào vượt qua hơn nữa.
Có
người nói: Niết-bàn là pháp báu vô thượng, vì sao?
Vì hết thảy pháp hữu vi đều hữu thượng, như trong A-tỳ-đàm
nói: Hết thảy pháp hữu vi và pháp hư không, chẳng phải
số duyên tận, gọi là pháp hữu thượng, số duyên tận gọi
là pháp vô thượng. Số duyên tận tức là tên khác của
Niết-bàn. Có người nói: Ðạo Niết-bàn tuy là hữu
vi, song vì nó vì Niết-bàn nên trong pháp hữu vi, nó là vô
thượng. Pháp báu trong như vậy phân bố làm ba thừa
cho chúng sinh. Vô lượng Phật pháp như vậy phải theo
thầy mới có được, nên ta phải xả bỏ cái thân hôi hám,
bất tịnh, là trú xứ của già, bệnh, chết mà vì cúng dường
Bát-nhã ba-la-mật, sẽ được thân Phật.
Người
con gái của vị trưởng giả đời đời cúng dường chư Phật,
gieo trồng căn lành, trí tuệ sáng suốt, nghe Phật pháp nên
tâm ấy vào sâu, được pháp hỷ lớn, cho đến tâm kinh sợ
đến dựng lông, nói với Tát-đà-ba-luân rằng: Thật
là hiếm có. Ông tán thán pháp rất vi diệu, vì mỗi
mỗi pháp ấy nên xả bỏ thân như số cát sông Hằng, huống
nữa là một thân! Người con gái của vị trưởng giả khi
trước không biết nhân duyên gì mà người ấy tự làm khốn
khổ thân, nên thương xót, cho rằng việc làm không đáng.
Song nay nghe vô lượng vô biên Phật pháp thanh tịnh không gì
sánh bằng, vì thế mà xứng đáng, nên rất hoan hỷ, nói:
Vì pháp ấy nên xả bỏ thân như số cát sông Hằng.
Cô gái lại nói: Ông vì nghèo mà tự làm khốn khổ thân,
nay có thể ngưng lại. Ông cần dùng gì tôi sẽ cung cấp
cho, tôi cũng theo ông mà cầu đạo.
Hỏi:
Bồ-tát ấy đã tự cắt xẻ thân thể, làm sao có thể nói
nhiều Phật pháp cho người con gái của vị trưởng giả?
Ðáp:
Tâm lực của bồ tát ấy rất lớn, tuy bị khổ nhọc mà
không thể che lấp tâm. Bồ-tát ấy mới cầm dao cắt
thịt chảy máu, sắp muốn phá xương lấy tủy, thì người
con gái trưởng giả đi đến, chưa buồn bực lắm nên có
thể thuyết pháp. Trời Ðế-thích biết tâm người kia
chắc chắn, thử xong mà không nói gì nữa, liền biến trở
lại thân cũ, khen ngợi rằng: Lành thay! Tâm ông đã kiên quyến
nhận chịu việc ấy. Ý trời Ðế-thích muốn nói: Như
thân xác thịt sinh tử của ông nay chưa được Phật đạo,
mà có thể không tiếc thân như vậy, thời ông không bao lâu
sẽ đối với hết thảy pháp không còn vướng mắc gì, trú
trong vô sinh pháp nhẫn mà mau được Vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Ðem chư Phật quá khứ ra làm chứng và các
nhân duyên như vậy để an ủi tâm người ấy: Ta là vua trời,
ưa vui Phật đạo cho nên đi đến thử để muốn biết tâm
ông mềm cứng thế nào. Muốn làm cho ông tin nên nói
rằng, ta cần tim, tủy người để tế trời, chứ thật ra
chẳng cần. Ông có ước mong gì ta sẽ cung cấp cho.
Ông là người tốt, là giống Phật, ta sẽ ủng hộ ông.
Tát-đà-ba-luân
tin ngay, nên tâm rất nhu nhuyến, rất ham mê Phật đạo mà
không phân biệt chúng sinh. Nghe lời Ðế-thích nên liền
nói rằng: Nguyện giúp cho tôi Vô thượng chánh đẳng chánh
giác. Trời Ðế-thích nói: Việc ấy sức tôi không thể
làm được, đó là cảnh giới của Phật.
*
Lại nữa, có người nói: Ðế-thích thật làm khốn khổ Tát-đà-ba-luân
nên nay dùng lời ấy để tạ tội. Ý trời Ðế-thích
cho rằng người ấy chỉ cần cầu vật báu, vàng bạc chứ
không biết rằng đòi xin Vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Ðã không cho được nên chỉ biết hổ thẹn mà tôi.
Lại nói rằng: Hễ cùng nhau cúng dường thời nên ước nguyện
đòi thứ khác. Ý Ðế-thích nói: Tôi đã làm khổ ông
nhiều nên tôi không được bỏ đi ngay, mà phải cúng dường
ông. Tát-đà-ba-luân tuy không tiếc thân, song muốn đem
thân này cúng dường Ðàm-vô-kiệt để nghe Bát-nhã ba-la-mật
nên nói rằng: Nếu ông không có sức cho tôi Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, thời hãy làm cho thân thể tôi bình phục
như cũ. Trời Ðế-thích nói: Theo như lời ông. Vết
thương liền bình phục như cũ không khác.
Hỏi:
Trước đã cắt thịt thời làm sao làm cho bình phục đầy
đủ?
Ðáp:
Phật nói có năm điều không thể nghĩ nghì, trong đó việc
của rồng làm còn không thể nghĩ nghì, huống nữa là việc
trời làm!
Lại,
giữa hư không bụi bặm đầy khắp, trời Ðế-thích nhờ
phước đức nên hễ sinh tâm là có thể hòa hợp đầy đủ
thành thân. Như thân trong chư thiên và địa ngục chẳng
phải là thân sinh ra bằng bào thai, do nhân duyên của tội
phước mà hòa hợp có thân.
Khi
ấy trời Ðế-thích biết tâm người kia kiên cố nên làm
cho mãn nguyện rồi, liền biến mất.
Bấy
giờ, Tát-đà-ba-luân tội nhỏ của đời trước đã sạch
hết, phước đức sáng suốt đầy đủ. Thế nên người
con gái của vị trưởng giả đem về nhà, có cần dùng gì
đều xin cha mẹ cho, như trong kinh này nói rộng.
Hỏi:
Cô gái ấy trước nói “ông cần vật gì hãy hỏi xin ở
nơi tôi”, nay cớ gì lại nói “xin nơi cha mẹ tôi”?
Ðáp:
Vì nay cô gái đã dẫn về đến nhà. Và vì Tát-đà-ba-luân
mắt đã nhìn vào nhà, mà bấy giờ từ cha mẹ xin được
nên hổ thẹn không xứng với lời trước kia, cho nên cô tự
nói trước rằng ‘theo cha mẹ xin cho”.
Lại,
cô gái có thể có được của báu, song phép của người con
gái là phải xin cha mẹ. Cô gái đã vào nhà như lời
hứa trước, theo cha mẹ xin cho. Vì nước kia không có
Phật pháp, nên cha mẹ mới hỏi con gái: Ai là Bồ-tát Tát-đà-ba-luân?
Người con gái theo như điều đã nghe, đã thấy mà nói hết
thảy việc của Tát-đà-ba-luân với cha mẹ: Nay cha mẹ
hãy cho phép con cùng với Tát-đà-ba-luân và 500 người hầu
gái đem đồ cúng dường đến cúng dường Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt.
Cha mẹ nghe lời kia liền theo như ý của con gái mình.
Hỏi:
Vị trưởng giả giàu sang mà lại có thế lực, cớ sao trước
đó không biết Tát-đà-ba-luân, để đến khi nghe nói công
đức mới khiến con gái và quyến thuộc và cho vật báu đem
đi đến cúng dường?
Ðáp:
Trưởng giả cũng gieo trồng cội phúc, song vì ít nhân duyên
nên sinh vào nước không có Phật. Khi tạm nghe công đức
Phật thời phát khởi tâm thức cũ mà liền khai ngộ, cho nên
khiến đi. Thí như hoa sen sinh trưởng đầy đủ, gặp
ánh mặt trời thời nở ra. Cha mẹ biết tâm con gái mình
thuần thục, không có hạnh bất tịnh, giữ gìn tiết tháo
không mất, không ưa cái vui thế gian, chỉ cầu lợi ích của
Phật pháp và biết tâm kia chí thiết nên không thể ngăn chặn;
nếu trái ý con, sợ sẽ tự hại. Suy nghĩ trù lượng
xong, hoàn toàn theo ý con mình mà tự được công đức, hoan
hỷ khiến đi. Nhân duyên thế gian do vì đắm sâu nên
khó mở. Lòng tham ái sâu xa còn không thể trái, huống
nữa là con mình vì Phật đạo! Tâm nó thanh tịnh không
có nhiễm trước mà không chấp thuận cho sao? Người
con gái thấy cha mẹ vì pháp nên cho phép, không tiếc vật
báu, cũng do tâm tùy hỷ mà làm cho tùy hỷ.
Bấy
giờ tâm mọi người đã định nên trang hoàng xe bảy báu
cùng mọi người vây quanh, dần dần đi đến phương đông.
Khi ấy năm trăm người con gái thân thuộc và mọi người
trong thành thấy việc hiếm có khó sánh kịp nên cũng đều
đi theo. Mọi người tập hợp, vui vẻ đi cùng, khác ngưỡng
đến thành Chúng Hương. Như người khát nước nghĩ tới
uống nước, dần dần tiến bước lên đường. Từ xa
trông thấy thành Chúng Hương, cho đến cùng với người con
gái của vị trưởng giả và 500 người con gái cung kính vây
quanh để đi đến chỗ Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt.
Hỏi:
Ðàm-vô-kiệt là vị Bồ-tát lớn, được các Ðà-la-ni Văn
trì v.v... được hiểu nghĩa Bát-nhã ba-la-mật, đã tự đọc
tụng thông lợi, nhớ nghĩ, thọ trì, còn cần gì đài bảy
báu mà chép kinh Bát-nhã để vào trong đó cúng dường?
Ðáp:
Tuy có các nhân duyên lược nói có hai nghĩa: Một là, tâm
hành của chúng sinh không giống nhau, hoặc ưa xem quyển kinh,
hoặc ưa nghe diễn thuyết; hai, thân Ðàm-vô-kiệt là cư sĩ,
hiện có gia đình, thân thuộc. Chúng sinh căn độn hoặc
nghĩ rằng Ðàm-vô-kiệt ở nhà chắc chắn có nhiễm đắm,
làm sao có thể đem Bát-nhã rốt ráo thanh tịnh vô cấu mà
làm lợi ích chúng sinh? Tự mình còn chưa không nhiễm
đắm thời làm sao có thể đem pháp không nhiễm đắm giáo
hóa? Vì vậy mà chép văn kinh ấy để vào trên đài bảy
báu mà cúng dường các báu. Hàng trời, rồng, quỷ, thần
cũng đều đến cung kính, cúng dường hương hoa, phan lọng,
mưa xuống bảy báu. Chúng sinh trông thấy thời tăng ích
lòng tin mà đem pháp ấy chỉ bày, truyền dạy lời Phật,
lấy án văn diễn giảng giáo lý, khuyến khích phát tâm.
Ðồ trang nghiêm tất cả đài báu và nhân duyên Tát-đà-ba-luân
hỏi trời Ðế-thích như trong kinh này đã nói.
Bảy
ấn ấn là, ấn chơn thật của Ðàm-vô-kiệt, thường tự
tay cầm lấy ấn vào kinh. Có người nói: Bảy ấn là
có bảy thần lớn cầu Phật đạo cầm loại kim cang, thường
cung cấp cho Bồ-tát Ðàm-vô-kiệt khiến thủ hộ kinh văn,
không để ma và ma dân biến cải tạp loạn, vì quý kính Bát-nhã.
Có người chỉ nghe diễn nói mà phát tâm. Có người
thấy văn tự trang nghiêm mà hoan hỷ phát tâm nên trang nghiêm
đài báu, dùng lá vàng chép và lấy bảy ấn ấn vào.
Hỏi:
Trên đài viết chép Bát-nhã, Ðàm-vô-kiệt miệng diễn thuyết
Bát-nhã, tuy hai nơi đều có mà nơi viết chép không thể ích
lợi người, cớ gì trước tiên đi đến đài báo?
Ðáp:
Bát-nhã được chép thuộc vào trong pháp báu, vì sau Phật
bảo thứ lớp có pháp bảo, nên trước tiên cúng dường.
Ðàm-vô-kiệt, một người không thuộc về Tăng bảo, nên
trước tiên cúng dường Pháp bảo. Lại, Ðàm-vô-kiệt nói
ra tuy là pháp mà chúng sinh chấp thủ tướng người nói nên
phần nhiều sinh tâm đắm trước. Nếu thấy sách Bát-nhã
thời không sinh chấp thủ tướng người, tuy chấp thủ tướng
khác mà tâm đắm trước ít hơn đắm trước tướng người;
thế nên trước tiên cúng dường quyển kinh. Chư Phật
còn cúng dường kinh pháp, huống nữa là Ðàm-vô-kiệt và
Tát-đà-ba-luân! Ðàm-vô-kiệt nhân nơi Bát-nhã ba-la-mật nên
được cúng dường. Kinh Bát-nhã là cái gốc của sở
nhân, sao không cúng dường trước được? Thế nên chia
đồ cúng dường làm hai phần.
Hỏi:
Ðàm-vô-kiệt có sáu vạn thể nữ, cung điện, năm dục, làm
sao có thể có thần lực dùng hoa đã rải hóa làm đài hoa?
Ðáp:
Có người nói: Do thần lực chư Phật mà nhân nơi vật cúng
dường của Tát-đà-ba-luân lấy làm biến hóa. Có người
nói: Ðàm-vô-kiệt là vị Bồ-tát lớn, thân do pháp tính sinh,
song vì độ chúng sinh nên thọ năm dục.
Hỏi:
Phép của Bồ-tát trước tiên đối vớichúng sinh là khởi
tâm bi, vì muốn độ chúng sinh hết khổ nên cầu Vô thượng
chánh đẳng chánh giác. Nay chỉ thấy uy đức thần lực
của Ðàm-vô-kiệt làm sao phát tâm?
Ðáp:
Phát tâm có nhiều cách. Có người nghe thuyết pháp mà
phát tâm. Có người đối với chúng sinh khởi từ bi
mà phát tâm. Có người thấy sức thần thông oai đức
lớn mà phát tâm, vậy sau dần dần sinh tâm bi lớn; như trong
kinh Trì Ấn nói: “Nương ái mà dứt ái, nương kiêu mạn
mà dứt kiêu mạn”. Như người nghe đạo pháp, vì ái
trước pháp ấy nên bỏ năm dục mà xuất gia. Lại như
nghe người kia được quả A-la-hán mà sinh tâm cao ngạo, rằnng:
Người kia đối với ta không hơn, mà còn có thể như vậy,
ta sao không được như thế? Vì thế nên sinh tâm tinh
tấn lớn, được đạo A-la-hán; đối với Phật đạo cũng
như vậy. Người con gái của vị trưởng giả và 500
người hầu gái thường đắm chặt cái vui tự do của thế
tục, nghe ngày xưa có người do thần lực biến hóa mà đầy
đủ vật báu, hưởng thọ cái vui trời ở giữa loài người,
sau thấy đài quán, cung điện của Ðàm-vô-kiệt, ngồi trên
pháp tòa lớn được trời người cúng dường. Lại thấy
vật cúng dường ở giữa hư không hoá thành đài lớn, tâm
rất vui mừng, phát sinh ý tưởng khó gặp, biết việc ấy
đều từ nhân duyên phước đức mà có được, nên phát tâm
muốn làm Phật. Nghe người phát tâm tu hành đều thứ
lớp như trong kinh Tỳ-ma-la-cật nói: “Các phiền não ái và
mạn đều là căn bản Phật đạo”. Thế nên người
con gái thấy việc ấy rồi sinh tâm ưa thích, biết do nhân
duyên phước đức có thể được các việc ấy nên đều
phát tâm. Nhân nơi ái và mạn mà sau được tâm tốt
trong sạch nên nói ái và mạn là căn bản của Phật đạo;
thí như hoa sen sinh trong bùn. Phát tâm rồi thề nguyện:
Như Ðàm-vô-kiệt làm được, chúng ta cũng sẽ làm được.
Bấy
giờ Tát-đà-ba-luân đầu mặt đãnh lễ Ðàm-vô-kiệt.
Vì cúng dường hoa hương không quý nên đem cúng dường trước
tiên; còn thân quý trọng nên tiếp sau lễ bái. Lễ bái
rồi nói ly do vốn cầu Bát-nhã, như trong kinh nay nói: Con xưa
khi cầu Bát-nhã, nghe ở giữa hư không có tiếng nói cho đến
con nay hỏi đại sư: chư Phật từ đâu đến và đi về đâu?
Hỏi:
Tát-đà-ba-luân đã được các tam-muội lớn là tam-muội Phá
vô minh, tam-muội Quán các pháp tính v.v... vì sao không biết
Không mà còn chấp thủ tướng Phật, sinh tâm đắm trước?
Ðáp:
Bồ-tát mới phát tâm tuy có thể biết tướng chung của các
pháp không, vô tướng, song vì đối với chư Phật ưa đắm
sâu dày nên không thể hiểu được tướng Phật rốt ráo
không. Tuy biết không mà không thể hợp với không, vì
sao? Vì chư Phật có vô lượng vô biên công đức chơn
thật. Bồ-tát ấy lợi căn nên vào sâu đắm sâu.
Nếu Phật không vì Bồ-tát ấy thuyết giảng Không, thời
Bồ-tát ấy vì ưa đắm Phật mà có thể tự hủy diệt thân
tộc, huống nữa là người khác. Chỉ nhờ hiểu Không
nên không có việc ấy. Tát-đà-ba-luân rất ưa đắm
chư Phật nên không thể biết mà phải hỏi đại sư: Nay vì
con nói chư Phật từ đâu đến và đi về đâu. Con thấy
thân Phật không nhàm chán nên thường không lìa việc thấy
Phật.
(Hết
cuốn 98 theo bản Hán)