Tập 05
Lời
nói đầu
Cuốn
81
Giải
thích Phẩm Sáu độ tương nhiếp thứ 68
Cuốn
82
Giải
thích Phẩm Phương Tiện thứ 69
Cuốn
83
Giải
thích Phẩm Ba Tuệ thứ 70
Cuốn
84
Giải
thích Phẩm Ba Tuệ thứ 70
Cuốn
85
Giải
thích Phẩm Đạo Thọ thứ 71
Giải
thích Phẩm Bồ Tát hạnh thứ 72
Giải
thích Phẩm Gieo trồng căn lành thứ 73
Cuốn
86
Giải
thích Phẩm Biến Học thứ 74
Giải
thích Phẩm Ba thứ lớp học thứ 75
Cuốn
87
Giải
thích Phẩm Một niệm đủ muôn hạnh thứ 76
Cuốn
88
Giải
thích Phẩm Sáu dụ thứ 77
Giải
thích Phẩm Bốn Nhiếp thứ 78
Cuốn
89
Giải
thích Phẩm Khéo thông suốt thứ 79
Cuốn
90
Giải
thích Phẩm Thật tế thứ 80
Cuốn
91
Giải
thích Phẩm Cụ túc thứ 81
Cuốn
92
Giải
thích Phẩm Tịnh Phật quốc độ thứ 82
Cuốn
93
Giải
thích Phẩm Chắc chắn thứ 83
Cuốn
94
Giải
thích Phẩm Bốn Đế thứ 84
Cuốn
95
Giải
thích Phẩm Bảy Dụ thứ 85
Giải
thích Phẩm Bình đẳng thứ 86
Cuốn
96
Giải
thích Phẩm Như Hóa thứ 87
Giải
thích Phẩm Tát đà ba luân thứ 88
Cuốn
97
Cuốn
98
Cuốn
99
Giải
thích Phẩm Đàm vô kiệt thứ 89
Cuốn
100
Giải
thích Phẩm Chúc Lụy thứ 90
Lời
Nói Đầu
Đây
là tập thứ 5, gồm từ cuốn 81 đến cuốn 100 luận Đại
Trí Độ. Trước sau trọn bộ luận Đại Trí Độ gồm
5 tập trong đó có 100 cuốn.
Luận
thuyết minh về tính không trong mọi sinh hoạt tin tường,
học hỏi, quán chiếu, tu tập, độ sinh, chứng quả.
Những sinh hoạt này nếu rời tính không, thời không thể
đạt đến kết quả giải thoát hoàn toàn mọi ràng buộc
của tâm phân biệt chấp trước, tức còn phải vướng mắc
trong vòng sinh tử, hoặc phân đoạn, hoặc biến dịch.
Tính
không cũng tức là tính vô ngã, vô tự tính, vô sở hữu tính.
Chỉ một tính không mà vì đối tượng quán chiếu khác nhau
nên trong luận này có chỗ phân biệt làm hai là chúng sanh
không và pháp không; nói theo luận Thành Duy Thức là ngã không,
pháp không; nói theo kinh Lăng già là nhân vô ngã, pháp vô ngã
(năm pháp, ba tự tính, tám thức, hai vô ngã); có khi phân
biệt làm mười tám không, từ nội không, ngoại không, nội
ngoại không cho đến vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp
hữu pháp không.
Bát
nhã tính không, có nhiều lợi ích, kéo chúng sinh ra khỏi vọng
tưởng hý luận, nhưng khó lãnh hội, tu tập; ví như thỏi
vàng cháy đỏ rất đẹp, có nhiều lợi ích, nhưng không thể
lấy tay cầm; nếu lấy tay cầm ắt bị cháy tay. Cũng
vậy, nếu nghe nói không mà chấp không, như là trống không,
bác hết tất cả, ắt bị sa đọa. Vì vậy, Phật
vì chúng sinh thuyết pháp, luôn luôn nương theo hai đế là
tục đế và chơn đế. Có khi vì chúng sinh chấp trước
không, nên nói có để phá; có khi vì chúng sinh chấp
trước có, nên nói không để phá. Nhưng nói có, nói
không đều là phương tiện, là thuốc trị bệnh chấp trước;
bệnh hết thời thuốc cũng không còn; hết thảy pháp không
và tướng không cũng không.
Nếu
hết thảy các pháp đều không, thời nương vào đâu để
được giải hoát? Nếu ngộ được hết thảy pháp đều
không thời tức là không còn vọng tưởng chấp trước; không
còn vọng tưởng chấp trước tức không khởi lên phiền não,
tạo nghiệp luân hồi; ấy là giải thoát. Ở trong giải
thoát thì hoàn toàn không còn vọng tưởng chấp ngã, nên không
có tướng người năng chứng và tướng pháp sở chứng, vô
trí và vô đắc.
Nhờ
ơn Tam bảo hộ trì, hội đủ duyên lành, nên tôi may mắn
dịch xong trọn bộ luận Đại Trí Độ này. Nguyện hồi
hướng công đức ấy đến mọi người, mong được thấm
nhuần, chứng nghiệm giáo nghĩa Bát nhã sâu xa, hầu giải
thoát mọi sầu muộn khổ đau vì vọng tưởng điên đảo
chấp trước cố hữu, mà khó có thể có cách gì khác hơn
để giải thoát được.
PL.
2544 - Từ Đàm, 10-01-2001
Thích
Thiện Siêu