Chương
16
CẤU
TRÚC ĐỐI XỨNG QUARK- MỘT CÔNG ÁN MỚI
Thế
giới hạ nguyên tử là một thế giới của nhịp điệu,vận
hành và biến dịch liên tục. Thế nhưng nó không tùy tiện
và hỗn loạn mà luôn giữ một dạng nhất định và rõ ràng.
Trước hết là tất cả các hạt của một loại đều giống
nhau, chúng có một khối lượng như nhau, điện tích như nhau
và các tính chất đặc trưng khác cũng giống nhau. Hơn thế
nữa, các hạt mang điện tích đều có đúng điện tích của
một electron (hay có dấu ngược lại), hoặc có điện tích
gấp đôi của electron. Điều này cũng đúng với các đại
lượng mang tính chất khác, những trị số đó không tùy tiện
mà được giới hạn trong một số lượng có hạn. Qua đó
ta có thể xếp loại các hạt trong một số ít loại nhất
định hay những họ. Điều này dẫn đến câu hỏi, thế thì
những cấu trúc nhất định này làm sao có thể sinh thành
trong một thế giới động và liên tục thay đổi được.
Sự
xuất hiện các dạng nhất định trong cấu trúc của vật
chất thật ra không phải là hiện tượng mới, người ta đã
thấy nó trong thế giới nguyên tử. Cũng như các hạt hạ
nguyên tử, các nguyên tử của cùng một loại thì hoàn toàn
giống nhau và những nguyên tử khác nhau của các yếu tố
hóa tính được xếp loại trong những nhóm của bảng phân
loại tuần hoàn. Ngày nay ta hiểu rõ sự phân loại này, nó
dựa trên số lượng của proton và neutron trong nhân nguyên
tử và trên sự phân bố của electron trong các vân đạo. Tính
chất sóng của electron qui định các vân đạo đó cách xa
bao nhiêu và độ quay của một electron trên một vân đạo
cho sẵn. Tính chất sóng đó hạn chế các đại lượng này
trong vài con số nhất định, chúng liên hệ với sự dao động
nhất định của sóng electron. Thế nên trong cấu trúc nguyên
tử chỉ có một số mẫu hình nhất định, chúng được qui
định bởi một nhóm số lượng tử, mẫu hình đó thể hiện
bởi các dạng dao động của sóng electron trong các vân đạo.
Những dao động này quyết định các tình trạng tương tự
của một nguyên tử và vì thế mà hai nguyên tử hoàn toàn
giống nhau nếu chúng cùng ở trong trạng thái cơ bản hay trạng
thái kích thích như nhau.
Cấu
trúc của các hạt cơ bản cho thấy sự tương đồng lớn
với cấu trúc của nguyên tử, thí dụ phần lớn các hạt
đều quay quanh trục của mình như một con vụ. Độ quay nội
tại Spin của nó được hạn chế trên các đại lượng nhất
định, chúng được diễn tả bằng những số nguyên của
một đơn vị gốc. Thí dụ spin của baryon có thể là, 3/2,
5/20…, trong lúc đó thì spin của menson là 0, 1, 2… Điều
này nhắc ta nhớ nhiều đến các độ quay của các electron
trên vân đạo của chúng, các độ quay đó cũng được hạn
chế bởi các trị số được biểu diễn bằng số nguyên.
Tính
tương tự với các cấu trúc nguyên tử càng rõ hơn với thực
tế là, các hạt có tương tác mạnh hay hadron có thể được
xếp họ chung với nhau mà các thành viên có tính chất như
nhau, không kể khối lượng và spin của chúng. Các thành viên
cao của những họ này là những hạt cơ bản sống hết sức
ngắn ngủi, ta gọi chúng là resonance và được phát hiện
rất nhiều trong vài chục năm qua. Khối lượng spin của các
resonance tăng dần theo một cách có qui định trong các họ
và xem ra sẽ tiến tới vô cực. Tính chất có qui luật này
làm ta nhớ đến các mức độ của những tình trạng kích
thích các nguyên tử và làm cho nhà vật lý tiến đến cách
nhìn, là các thành viên cao (khối lượng nặng) của hadron
không hề là những hạt gì khác, mà chẳng qua chính là thành
viên có khối lượng thấp nhưng ở dạng bị kích thích. Cũng
như một nguyên tử, một hadron có thể lưu trú trong những
dạng bị kích thích, và sống rất ngắn ngủi, dạng kích
thích đó được biểu diễn bằng spin cao hơn hay năng lượng
(chính là khối lượng ) cao hơn.
Sự
tương tự giữa những tình trạng lượng tử của nguyên tử
và những hạt hadron cho thấy, bản thân hadron cũng có thể
là những vật thể được tạo thành bởi cấu trúc nội tại,
cấu trúc đó có thể bị kích thích, tức là chúng hấp thụ
năng lượng để làm thành một cấu trúc khác. Tuy nhiên hiện
nay ta chưa hiểu được các cấu trúc đó hình thành như thế
nào. Trong vật lý nguyên tử, ta có thể lý giải chúng dựa
trên tính chất và sự tương tác với các hạt cấu thành
nguyên tử (proton, neutron, và electron), nhưng trong nền vật
lý hạt thì chưa lý giải được. Các cấu trúc tìm thấy
được trong thế giới hạt chỉ được xác định và phân
loại một cách thuần tịnh thực nghiệm chứ chưa được
suy luận từ các chi tiết của cấu trúc hạt.
Khó
khăn chủ yếu mà nhà vật lý hạt gặp phải là khái niệm
của vật thể do các phần tử khác tạo thành khái niệm đó
không còn ứng dụng được trong hạt hạ nguyên tử nữa.
Khả năng duy nhất để tìm phần tử tạo thành của một
hạt cơ bản là phá vỡ nó bằng tiến trình va chạm với
năng lượng cao. Thế nhưng các hạt vỡ ra đó lại không hề
nhỏ hơn hạt cơ bản ban đầu. Thí dụ hai hạt proton va chạm
với nhau với vận tốc lớn sẽ sinh ra một loạt các mảnh,
thế nhưng không có mảnh nào có thể được gọi là mảnh
vỡ của proton. Các mảnh đó luôn luôn đều là hadron toàn
vẹn, chúng được sinh ra từ động năng và khối lượng của
các proton ban đầu. Vì thế mà việc tách một hạt để tìm
phần tử cấu thành của nó là điều rất không rõ ràng,
vì chúng tùy thuộc nơi năng lượng tham gia trong các tiến
trình va chạm. Nơi đây ta có tình trạng của tương đối,
trong đó một cấu trúc năng lượng biến mất, một cấu trúc
khác sinh ra và khái niệm tĩnh tại về vật thể do nhiều
phần tử hợp thành không còn áp dụng được nữa trong những
cấu trúc đó. Cấu trúc của một hạt chỉ có thể hiểu
theo nghĩa động: đó là tiến trình và sự tương tác.
Khi
hạt bị vỡ thành những mảnh trong tiến trình va chạm, điều
đó có qui định nhất định và vì các mảnh lại là các
hạt cùng loại nên ta có thể dùng các qui luật đó để mô
tả những tính chất nhất định được quan sát trong thế
giới hạt. Trong những năm sáu mươi, khi phần lớn các hạt
ngày nay ta biết đến được phát hiện và các họ của các
hạt bắt đầu xuất hiện thì phần lớn các nhà vật lý
đều tìm hiểu các tính chất nói trên, số ít khác lại tìm
hiểu vấn đề khó khăn do nguyên nhân động của cấu trúc
hạt sinh ra. Với cách làm như thế họ rất thành công.
Khái
niệm của đối xứng đóng một vai trò quan trọng trong những
nghiên cứu này. Nhà vật lý tổng quát hóa nó lên và cho nó
một ý nghĩa trừu tượng và qua đó mà khái niệm này trở
thành hữu dụng khi phân loại các hạt. Trong đời sống hàng
ngày, sự đối xứng trục là trường hợp thông thường nhất
của đối xứng. Một dạng hình là đối xứng trục khi ta
có thể vẽ một đường thẳng và chia hình ra hai phần như
nhau.
Loại
đối xứng cao cấp hơn là dạng hình, trong đó có nhiều trục
đối xứng như hình dưới đây của một biểu tượng Phật
giáo. Tuy nhiên sự phản chiều không phải là cách duy nhất
liên quan tới đối xứng. Một dạng hình cũng có thể gọi
là đối xứng sau khi quay một góc nhất định, nó sẽ trở
về vị trí cũ. Thí dụ đồ hình âm dương của Trung quốc
dựa trên loại đối xứng quay này.
Trong
vật lý hạt, tính đối xứng, ngoài loại phản chiếu và
quay, còn có mối liên hệ với nhiều phương pháp khác và
chúng không những chỉ xảy ra trong không gian bình thường
(và trong thời gian) mà cả trong không gian toán học trừu tượng.
Chúng được áp dụng cho hạt và nhóm các hạt , và vì tính
chất hạt không thể tách rời khỏi sự tương tác lẫn nhau
giữa chúng, nên tính đối xứng cũng có thể áp dụng cho
sự tương tác, tức là cho những tiến trình có hạt tham dự.
Các tính đối xứng này hữu ích, vì lẽ chúng liên hệ chặt
chẽ với qui luật bảo toàn. Một khi một tiến trình trong
phạm vi hạt có một sự đối xứng thì nơi đó có một đại
lượng đo được, đại lượng đó được bảo toàn, tức
là một đại lượng bất biến trong suốt quá trình. Những
đại lượng này cho ta những yếu tố bất biến trong quá
trình chuyển biến phức tạp của hạt vật chất hạ nguyên
tử và chúng phù hợp một cách lý tưởng cho việc mô tả
sự tương tác các hạt. Một số đại lượng thì bất biến
xuyên qua mọi tương tác, một số khác chỉ bất biến qua
một số tương tác, thế nên mỗi tiến trình tương tác đều
được liên hệ với một nhóm đại lượng bảo toàn nhất
định. Do đó tính đối xứng hiện ra trong tính chất của
hạt với tính cách là qui luật bảo toàn trong liên hệ tương
tác của chúng. Trong ngôn ngữ của nhà vật lý thì hai khái
niệm này hoán chuyển được. Trong một số trường hợp,
ta gọi là sự đối xứng của tiến trình, trường hợp khác
ta gọi là luật bảo toàn, tùy theo lúc nào hữu
ích hơn.
Có
bốn luật bảo toàn cơ bản, chúng được quan sát trong tất
cả mọi tiến trình. Trong số đó thì đã có ba loại liên
hệ với điều kiện đối xứng đơn giản trong không gian
thông thường và thời gian thông thường.
Tất
cả mọi tương tác giữa hạt đều đối xứng trong không
gian - chúng giống hệt nhau, dù chúng xảy ra ở London hay New
York, về mặt thời gian thì chúng cũng đối xứng, tức là
chúng xảy ra bất kỳ, dù ngày thứ hai hay ngày thứ tư trong
tuần. Tính đối xứng đầu tiên liên hệ với sự bảo toàn
năng lượng. Điều đó có nghĩa là toàn bộ xung lực của
các hạt tham gia vào một quá trình tương tác và toàn bộ
năng lượng của chúng (kể cả khối lượng) không thay đổi
trước và sau tiến trình. Tính đối xứng cơ bản thứ ba
nói về định hướng trong không gian. Thí dụ trong một tiến
trình va chạm thì bất kỳ, dù các hạt va chạm nhau có chuyển
động theo trục tung hay hoành. Kết quả của tính đối xứng
này là tổng trị số của xung lượng quay (kể cả spin của
các hạt) được bảo toàn trong một tiến trình. Cuối cùng
là sự bảo toàn của điện tích. Điều này liên hệ với
một điều kiện đối xứng phức tạp, nhưng nếu phát biểu
như tính bảo toàn thì nó rất đơn giản, đó là tổng số
điện tích của mọi hạt trong một tương tác được bảo
toàn. Ngoài ra còn có vài luật bảo toàn khác nữa, chúng được
phát biểu bằng tính đối xứng trong không gian toán học trừu
tượng như trường hợp của bảo toàn điện tích. Đến nay
ta biết, một vài luật trong đó có giá trị cho tất cả mọi
tương tác, một số khác chỉ có giá tị trong một số tương
tác (thí dụ chỉ đúng cho tương tác yếu). Những đại lượng
bảo toàn liên hệ có thể được gọi là điện tích ảo
của hạt. Vì chúng là những số nguyên (± 1, ± 2…) hay có
số chia đôi (± 1/2, ± 3/2, ± 5/2…), nên người ta gọi nó
là số lượng tử, tương tự như số lượng tử trong vật
lý nguyên tử. Mỗi hạt như thế được chỉ định bởi một
nhóm số lượng, nhóm số này cùng với khối lượng của
hạt xác định toàn bộ tính chất của hạt.
Thí
dụ hadron có những trị số rõ rệt “Isospin” và “Hypercharge”
hai trị số lượng tử, chúng không thay đổi trong các tương
tác mạnh. khi tám menson của bảng trình bày trong chương trước
được xếp theo hai trị số lượng tử này, chúng tạo ra
một cấu trúc có hình bát giác cân đối, được gọi là
“Menson octet”. Hình này cho thấy một sự đối xứng rõ
rệt, thí dụ, những hạt và đối hạt giữ các vị trí đối
nghịch trong hình bát giác, hai hạt ở trung tâm lại chính
là đối hạt của bản thân mình.
Tám
hạt baryon nhẹ nhất cũng tạo nên cấu trúc như thế, nó
được gọi là “Baryon octet”. Thế nhưng lần này, các đối
hạt không còn được chứa đựng trong hình bát giác, mà chúng
tạo nên một “Đối octet” có dạng như vậy.
Các
baryon còn lại trong bảng các hạt, các omega thì thuộc về
cấu trúc khác mang tên là “Baryon decuplet”, đứng chung với
chín resonance.
Tất
cả các hạt nằm trong một cấu trúc đối xứng nhất định
đều có những trị số lượng tử như nhau, chỉ trừ isospin
và hypercharge là những số cho chúng các vị trí khác nhau trong
cấu trúc. Thí dụ, tất cả mọi menson trong đó octet đều
có spin bằng không (tức chúng không quay gì cả); những baryon
trong octet thì có spin bằng 1/2 và các baryon trong decuplet có
spin bằng 3/2.
Thế
nên, các trị số lượng tử vốn được sử dụng để xếp
hạt trong họ của chúng, tạo nên những cấu trúc đối xứng
rõ ràng, chúng cũng chỉ định vị trí của các hạt riêng
lẻ trong mỗi cấu trúc đồng thời cũng phân loại các tương
tác khác nhau của hạt đúng theo luật bảo toàn. Nhờ thế
mà hai tính chất liên hệ giữa đối xứng và bảo toàn được
xem là hết sức hữu ích nhằm trình bày có tính qui luật
trong thế giới hạt.
Điều
đáng ngạc nhiên là phần lớn các qui luật này lại được
diễn tả một cách rất đơn giản, nếu ta giả định rằng
tất cả hadron được tạo bởi một số ít những đơn vị,
đơn vị đó hiện nay chưa phát hiện được.
Những
đơn vị (hay hạt) đó được Murray Gell-Mann gọi bằng một
cái tên giả tưởng là “Quark”, là người đã lấy những
dòng của James Joyce trong tác phẩm Finnergarn’s Wake, khi ông
giả định chúng hiện hữu. Gell-Mann thành công trong việc
suy ra một loạt các cấu trúc hadron, như các octet hay decuplet
nói trên, bằng cách cho những trị số lượng tử phù hợp
gắn vào ba hạt quark và ba đối hạt antiquark, rồi ông biết
để những viên gạch đó ở những vị trí tương quan với
nhau để tạo nên baryon và menson, trong đó các trị số lượng
tử của chúng chỉ do các trị số của các hạt quark cộng
lại. Với nghĩa này thì baryon được gọi gồm có ba quark,
có ba đối hạt antiquark và menson gồm một quark và một antiquark.
Tính
đơn giản và hữu dụng của mô hình này thì thật đáng kinh
ngạc, thế nhưng nó sẽ mang lại khó khăn trầm trọng nếu
quark thật sự được xem là thành phần vật chất của hadron.
Tới nay, chưa hadron nào được phá vỡ mà thành ra các quark
cả, mặc dù ta bắn phá chúng với các nguồn năng lượng
lớn nhất có thể có, điều đó có nghĩa là các quark phải
được giữ chặt với nhau bằng những lực liên kết cực
mạnh. Theo hiểu biết hiện nay của chúng ta về hạt và tương
tác của chúng thì những lực này phải bao gồm luôn cả những
hạt khác và như thế quark cũng phải có những cấu trúc,
cũng như tất cả các hạt có tương tác mạnh khác.
Thế
mà mô hình quark chủ yếu gồm các điểm, phi cơ cấu. Vì
sự khó khăn cơ bản này, tới nay không thể phát biểu mô
hình quark dưới dạng động để phù hợp với đối xứng
và các lực liên kết.
Về
mặt thực nghiệm, trong những thập niên qua người ta có những
cuộc săn lùng kiếm quark quyết liệt nhưng không thành công.
Nếu các quark thật sự hiện hữu thì nó phải dễ thấy vì
mô hình Gell-Mann cho chúng những tính chất rất bất thường,
như điện tích bằng 1/3 và 2/3 điện tích electron, điều không
đâu có trong thế giới hạt. Tới nay người ta không quan sát
hạt nào có tính chất đó mặc dù có những nỗ lực rất
lớn. Vì thực nghiệm không phát hiện ra chúng, cộng thêm
những phản đối lý thuyết về thực tại của chúng, tất
cả những điều đó làm sự hiện hữu của quark rất đáng
nghi ngờ.
Mặt
khác, mô hình quark vẫn rất thành công nếu tính thêm những
qui luật được phát hiện trong thế giới hạt, mặc dù mô
hình đó không còn được sử dụng một cách đơn giản nữa.
Trong mô hình Gell-Mann nguyên thủy, tất cả hadron có thể được
xây dựng bằng ba loại quark và ba đối hạt antiquark. Nhưng
trong thời gian qua, nhà vật lý giả định rằng có thêm những
hạt khác để đáp ứng nhiều dạng khác nhau của cấu hadron.
Ba hạt quark nguyên thủy được tạm đặt tên là u, d và s,
viết tắt của up, down và strange. Sự mở rộng đầu tiên
của mô hình quark trên toàn bộ thông tin có được của hạt,
là đòi mỗi quark phải xuất hiện trong ba cách khác nhau, hay
ba màu. Từ màu được sử dụng nơi đây một cách tùy tiện,
không liên hệ gì với màu sắc bình thường. Dựa trên mô
hình quark có màu, baryon gồm có ba quark có màu khác nhau, trong
lúc đó thì menson gồm có một quark và một đối hạt cùng
một màu.
Việc
sử dụng các màu đã nâng số lượng của quark lên chín(ba
màu của ba loại u, d, s), và trong thời gian gần đây người
ta giả định có thêm một quark, nó cũng xuất hiện trong ba
màu. Với khuynh hướng ưa đặt tên giả tưởng của nhà vật
lý, hạt quark mới này mang tên c, viết tắt của “charm”.
Điều này mang tổng số các hạt lên mười hai, gồm có bốn
loại, mỗi loại xuất hiện trong ba màu. Để phân biệt các
loại quark với các màu khác nhau, nhà vật lý đưa từ vị
và ngày nay người ta nói về những quark có màu và vị khác
nhau.
Các
qui luật nói trên được mô tả bằng mười hai quark này một
cách hùng hồn. Không còn nghi ngờ nữa, hadron cho thấy một
sự đối xứng quark. Mặc dù hiểu biết đến nay của chúng
ta về hạt và sự tương tác của chúng loại bỏ sự hiện
diện một hạt quark vật chất, hadron vẫn thường có tính
chất hầu như nó gồm có những phần tử điểm tạo thành.
Tính chất nghịch lý này của mô hình quark làm ta nhớ đến
những ngày đầu tiên của vật lý nguyên tử khi những mâu
thuẫn kỳ lạ đã dẫn nhà vật lý đến sự bừng tỉnh lớn
lao để hiểu được nguyên tử. Những hạt quark có tất cả
tính chất của một công án mới, mà ngày nay đến phiên nó,
có thể dẫn đến một sự bừng tỉnh để hiểu hạt hạ
nguyên tử. Thực tế là sự bừng tỉnh này đã trên đường
đi đến, và chúng ta sẽ thấy chúng trong những chương sau.
Một số ít nhà vật lý đang tìm cách đưa lời giải cho công
án quark, mà họ được cảm hứng, gợi mở ra những tư tưởng
mới về tự tính của thực tại vật lý.
Sự
khám phá ra cấu trúc đối xứng trong thế giới hạt đã làm
cho nhiều nhà vật lý nghĩ rằng, những cấu trúc đó phản
ánh qui luật cơ bản của thiên nhiên. Trong năm mươi năm qua,
con người đã nỗ lực để đi tìm mộ cái đối xứng uyên
nguyên nhằm kết hợp mọi hạt đã biết và nhờ đó mà lý
giải cơ cấu của vật chất. Mục đích này phản ánh một
thái độ triết học đã được đề ra bởi các nhà Hy Lạp
cổ đại và đã được quan tâm suốt nhiều thế kỷ. Tính
đối xứng, cùng với hình học, đã đóng mội vai trò quan
trọng trong khoa học, triết học và nghệ thuật Hy Lạp, nó
đồng nghĩa với thiện mỹ, tương hòa và hoàn hảo. Cho nên
những người theo phái Phythagoras xem những cơ cấu đối xứng
là then chốt của mọi sự vật. Platon tin rằng nguyên tử
của bốn yếu tố tạo nên dạng của mọi vật thể rắn
và phần lớn các nhà thiên văn Hy Lạp nghĩ rằng các thiên
thể vận động trong hình tròn vì vòng tròn là hình ảnh hình
học có mức đối xứng cao nhất.
Thái
độ của triết lý phương Đông về tính đối xứng là hoàn
toàn ngược lại với thái độ triết lý Hy Lạp cổ đại.
Các truyền thống đạo học Viễn Đông hay dùng cấu trúc
đối xứng như một biểu tượng hay phương tiện thiền định.
Ngoài ra, phép đối xứng xem ra không đóng một vai trò quan
trọng gì trong triết lý của họ. Cũng như hình học,nó được
cho rằng cũng chỉ do đầu óc tạo ra hơn là một tính chất
của tự nhiên, vì thế không có tầm quan trọng cơ bản. Theo
đó, nhiều nghệ thuật phương Đông thường chuộng tính bất
đối xứng và hay tránh mọi qui định về hình thể. Các bức
họa mang nặng tính thiền của Trung quốc hay tranh của Nhật
thường được diễn tả bằng hướng một góc hay cách xếp
đặt không theo qui luật của kiến trúc vườn Nhật Bản,
minh họa rõ khía cạnh này của nghệ thuật Viễn Đông.
Hình
như việc đi tìm kiếm một phép đối xứng cơ bản trong thế
giới hạt là một phần của gia tài để lại của người
Hy Lạp, điều này khong thể tương thích được với thế
giới quan đang hình thành từ khoa học hiện đại. Sự nhấn
mạnh về tính đối xứng, tuy thế không phải là khía cạnh
duy nhất của vật lý hạt. Ngược lại với quan điểm đối
xứng, luôn luôn có một trường phái tư tưởng động, họ
không xem cấu trúc hạt là tính chất then chốt của tự nhiên,
mà hiểu chúng chỉ là mặt xuất hiện của một thế giới
tự nhiên năng động và của những tương tác trong thế giới
đó. Hai chương còn lại sau đây sẽ trình bày những trường
phái tư tưởng đó, trong những thập niên qua, đã hình thành
những quan điểm khác hẳn về đối xứng và qui luật của
tự nhiên, chúng hòa hợp với thế giới quan của nền vật
lý hiện đại tới nay được biết và chúng cũng phù hợp
một cách hoàn hảo với triết lý phương Đông.