Lời
Cuối
Điểm
Lại Nền Vật Lý Mới
Tương
Lai của Nền Vật Lý Mới
Lời
Cuối
Triết
học tôn giáo phương Đông quan tâm đến những nhận thức
đạo học vượt thời gian, chúng nằm ngoài suy luận và không
thể diễn đạt tới nơi bằng chữ nghĩa. Mối liên hệ của
những nhận thức này với vật lý hiện đại chỉ là một
trong nhiều khía cạnh và, cũng như cái khác, không thể trình
bày tới cùng, mà phải chứng nghiệm bằng con đường trực
giác. Thế nhưng, điều mà tôi muốn đạt tới, trong chừng
mực nhất định, không phải là một sự trình bày cứng nhắc,
mà tạo cho độc giả cơ hội tự nếm trải một kinh nghiệm,
đối với tôi nó đã thành suối nguồn của niềm vui và cảm
khái liên tục; đó là những lý thuyết và mô hình chính yếu
của vật lý hiện đại dẫn tới một thế giới quan, chúng
tương thích từ trong bản chất và hòa hợp toàn hảo với
quan điểm của đạo học phương Đông.
Ai
đã thực chứng mối hòa hợp này, thì sự quan trọng của
tính song hành nổi bật giữa thế giới quan của nhà vật
lý và nhà đạo học, đối với người đó không còn đáng
nghi ngờ gì. Thế thì câu hỏi thú vị cho bây giờ không phải
là liệu chúng song hành hay không, mà tại sao, và hơn nữa,
chúng gợi cho ta điều gì.
Nhằm
hiểu ngộ cái bí ẩn của đời sống, mọi người có nhiều
cách tiếp cận khác nhau. Trong những cách đó, có cách thế
của khoa học và đạo học, nhưng còn nhiều cách khác nữa;
cách của nhà thơ, của trẻ con, của chú hề, của nhà phù
thủy... nếu ta muốn kể thêm vài cách. Những cách này dẫn
đến những mô tả khác nhau về thế giới, với ngôn ngữ
hay phi ngôn ngữ, chúng nhấn mạnh đến nhiều khía cạnh khác
nhau. Tất cả đều có giá trị và hữu ích trong phạm vi mà
chúng xuất hiện. Tuy nhiên, tất cả những cách đó, chỉ
là sự mô tả hay biểu tượng của thực tại và vì thế
có giới hạn. Không cách nào có thể cho một hình ảnh toàn
triệt về thế giới.
Quan
điểm về thế giới cơ học của vật lý cổ điển là hữu
ích cho sự mô tả các loại hiện tượng vật lý mà chúng
ta gặp trong đời sống hàng ngày, và vì thế mà phù hợp
để giải quyết những vấn đề của môi trường sống hàng
ngày. Nó cũng chứng minh sự thành công xuất sắc, với tính
cách là cơ sở của kỹ thuật. Tuy thế nó không phù hợp
khi mô tả các hiện tượng vật lý trong lĩnh vực vi mô. Ngược
lại với quan điểm cơ giới về thế giới là cái nhìn của
nhà đạo học, đó là cái nhìn hữu cơ, vì nó nhìn mọi hiện
tượng trong vũ trụ là những thành phần tổng hòa của một
cái toàn thể hòa hợp không thể chia cắt. Thế giới quan
này xuất phát trong truyền thống đạo học, từ những dạng
thiên định của ý thức. Khi mô tả thế giới, nhà đạo
học dùng những khái niệm xuất phát từ những thực chứng
phi thường đó và, nói chung là không phù hợp cho một sự
mô tả khoa học về hiện tượng vĩ mô. Thế giới quan sinh
cơ cũng không thuận lợi để chế tạo máy móc, cũng chẳng
giải quyết được những vấn đề kỹ thuật của một thế
giới nhân mãn.
Trong
đời sống hàng ngày, cả hai cách nhìn cơ học và hữu cơ
của vũ trụ đều có giá trị và đều hữu ích; một cái
thì cho khoa học và kỹ thuật, cái kia thì cho sự thăng bằng
và thỏa ứng đời sống tinh thần. Thế nhưng, bên kia môi
trường hàng ngày của chúng ta, quan niệm cơ học mất giá
trị và cần được thay thế bởi quan điểm hữu cơ, mà chúng
rất giống với quan điểm sử dụng bởi nhà đạo học. Đây
chính là kinh nghiệm cốt tủy của vật lý hiện đại, nó
là đề tài của những thảo luận này của chúng ta. Vật
lý của thế kỷ 20 đã chỉ ra rằng, phương thức của thế
giới quan hữu cơ, mặc dù nó có giá trị đối với khoa học
và kỹ thuật ở mức độ con người, đã trở nên hết sức
hữu ích trong phạm vi nguyên tử và hạ nguyên tử. Quan điểm
hữu cơ vì thế có lẽ là cơ bản hơn cái nhìn cơ học. Vật
lý cổ điển, vốn đặt trên tính cơ giới, có thể suy luận
từ thuyết lượng tử mà ra, thuyết lượng tử bao trùm thuyết
cổ điển, nhưng không ngược lại. Điều này cho ta câu trả
lời đầu tiên, tại sao có thể tin được thế giới quan
của vật lý hiện đại và của đạo học phương Đông tương
đồng với nhau. Cả hai xuất phát từ chỗ khi tìm hiểu tự
tính cốt tủy của sự vật - khi đi vào lĩnh vực sâu xa của
vật chất trong vật lý; khi đi vào lĩnh vực sâu xa của ý
thức trong đạo học - thì ta khám phá một thực tại nằm
sau bộ mặt cơ giới nông cạn của đời sống hàng ngày.
Sự
tương đồng giữa cái nhìn của nhà vật lý và đạo học
trở nên dễ hiểu hơn khi ta nhớ lại những tương đồng
khác đã có, mặc dù hai bên có hai cách khác nhau để tiếp
cận thực tại. Trước hết, phương pháp của cả hai đều
là thực nghiệm. Nhà vật lý suy luận ra nhận thức của họ
thông qua thí nghiệm; nhà đạo học suy ra nhận thức của
họ từ chứng thực thiền quán. Cả hai đều là sự quan sát,
và trong cả hai bên, quan sát được xem là nguồn suối duy
nhất của nhận thức. Tất nhiên là đối tượng quan sát
rất khác nhau cho hai trường hợp. Nhà đạo học nhìn về
phía trong và khám phá ra ý thức của mình trong nhiều tầng
mức khác nhau, kể cả tầng mức thấy thân thể chính là
hiện thân của tâm thức. Thực chứng về thân người này,
thực ra là được coi trọng trong nhiều truyền thống phương
Đông và thường được xem là chìa khóa mở cánh cửa chứng
nghiệm huyền bí về thế giới. Khi chúng ta mạnh khỏe, ta
không thấy có phần thân thể nào tách rời thân ta mà ý thức
chúng là một cái toàn thể và ý thức này sinh ra một cảm
giác dễ chịu và an lạc. Tương tự thế, nhà đạo học ý
thức về một cái toàn thể của toàn bộ vũ trụ, nó được
chứng thực như thân thể được mở rộng. Sau đây là những
dòng của Lama Govinda:
Đối
với người giác ngộ... ý thức của họ bao trùm vũ trụ,
vũ trụ trở thành “thân” của người đó, còn ứng thân
(Thân) của người đó thành một biểu hiện của tâm thức
vũ trụ, quán sát nội tại ( Ý) của người đó trở thành
thực tại cao tột và ngôn ngữ (Khẩu) của người đó trở
thành sự thực vĩnh hằng và có sức mạnh thần diệu.
Ngược
với đạo học, nhà vật lý bắt đầu tìm tòi về tự tính
sự vật bằng cách nghiên cứu thế giới vật chất. Xuyên
suốt vào các tầng sâu kín của sự vật, anh ta đã ý thức
tính nhất thể cốt tủy của sự vật và biến cố. Hơn thế
nữa, anh ta đã biết rằng chính bản thân và ý thức của
mình cũng là phần bất khả phân của cái toàn thể đó. Thế
nên nhà đạo học và nhà vật lý đã tới một kết luận
chung; người thì bắt đầu bằng nội tâm, kẻ bắt đầu
từ ngoại giới. Sự hòa điệu giữa những cái nhìn của
họ xác định minh triết cổ xưa của Ấn Độ rằng Brahman,
thực tại ngoại giới cuối cùng, là đồng thể với Atman,
thực tại nội tâm.
Một
sự tương đồng nữa giữa phương pháp của nhà vật lý và
nhà đạo học là những quan sát của họ nằm trong những
lĩnh vực mà giác quan bình thường không với tới được.
Trong vật lý hiện đại, đó là lĩnh vực của nguyên tử
và hạ nguyên tử; trong đạo học, đó là tình trạng phi thường
của ý thức; trong đó thế giới giác quan được chuyển hóa.
Nhà đạo học hay nói về những thực chứng ở một mức
độ cao, nơi đó ấn tượng của các trung tâm ý thức khác
nhau hòa hợp vào một cái chung. Một tình trạng tương tự
cũng có trong vật lý hiện đại, nơi mà không gian - thời
gian bốn chiều được sử dụng, nhờ đó mà thống nhất
được các khái niệm và quan sát thuộc những chủng loại
khác nhau của một thế giới ba chiều thông thường. Trong
cả hai trường hợp, những kinh nghiệm nhiều chiều đã chuyển
hóa thế giới cảm quan và vì thế mà hầu như không diễn
tả bằng ngôn ngữ thông thường được.
Ta
thấy rằng phương pháp của nhà vật lý hiện đại và của
nhà đạo học phương Đông, mới đầu thì thấy hoàn toàn
không liên quan gì đến nhau, nhưng thực tế lại rất trùng
hợp.
Bởi
vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi chúng có những tương
đồng to lớn trong mọi mô tả thế giới. Một khi những tương
đồng đó giữa khoa học phương Tây và đạo học phương
Đông đã được thừa nhận, một loạt câu hỏi sẽ được
đặt ra về hệ quả của chúng. Phải chăng khoa học hiện
đại, với tất cả những máy móc tinh xảo của nó, chỉ
đang phát hiện lại những minh triết cổ xưa, đã được
các thánh nhân phương Đông biết đến từ cả ngàn năm trước?
Vì thế mà phải chăng nhà vật lý hãy từ bỏ phương pháp
khoa học và bắt đầu thiền định? Hay là có một sự ảnh
hưởng qua lại giữa khoa học và đạo học, thậm chí một
sự tổng hợp?
Tôi
nghĩ rằng phải trả lời những câu hỏi đó bằng cách nói
“không”. Tôi thấy khoa học và đạo học là hai biểu hiện
bổ túc lẫn nhau của tư duy con người, của khả năng suy
luận và khả năng trực giác. Nhà vật lý hiện đại chứng
nghiệm thế giới thông qua sự chuyên môn tột cùng của tư
duy trừu tượng; nhà đạo học thông qua sự chuyên môn tột
cùng của trực giác. Hai cách tiếp cận này hoàn toàn khác
nhau và chứa đựng nhiều hơn hẳn một cái nhìn về thế
giới vật lý thuần túy. Thế nhưng, chúng bổ túc lẫn nhau,
như chúng ta thường nói trong vật lý. Không cái nào chứa
đựng cái kia, cũng không cái nào suy ra được cái kia, nhưng
cả hai chúng đều cần thiết, chúng bổ túc lẫn nhau để
có thể hiểu thế giới một cách hoàn toàn. Hãy nhắc lại
một tục ngữ Trung Quốc, nhà đạo học biết gốc rễ của
Đạo nhưng không biết cành ngọn; nhà khoa học hiểu cành
ngọn nhưng không biết gốc rễ. Khoa học không cần biết
tới đạo học, đạo học không cần biết tới khoa học,
nhưng con người cần cả hai. Những kinh nghiệm đạo học
là cần thiết để hiểu tự tính sâu kín của mọi vật và
khoa học cần cho đời sống hiện đại. Vì thế điều ta
cần, không phải là một sự tổng hợp mà là một sự tương
tác động giữa trực giác đạo học và phân tích khoa học.
Đến
nay, điều này vẫn chưa thực hiện được trong xã hội chúng
ta. Hiện nay thái độ của ta là quá dương - nói theo cách
nói Trung Quốc - quá nặng suy luận, quá nam tính và hiếu thắng.
Bản thân các nhà khoa học là những thí dụ tiêu biểu. Mặc
dù các lý thuyết của họ đang dẫn đến thế giới quan tương
tự như của đạo học, điều nổi bật là, thực tế này
không ảnh hưởng bao nhiêu lên thái độ sống của phần lớn
nhà khoa học. Trong đạo học, nhận thức không tách rời một
lối sống nhất định, đó là sự biểu hiện sống động
của nhận thức. Đạt tới những tri thức huyền bí có nghĩa
là phải qua một sự chuyển hóa. Còn nhận thức khoa học,
mặt khác, thường vẫn giữ tính chất trừu tượng và lý
thuyết. Thế nên phần lớn các nhà khoa học ngày nay xem ra
không hiểu ngộ được những gì do lý thuyết của chính họ
đem lại về triết học, văn hóa và tâm linh. Nhiều người
trong họ vẫn tiếp tục ủng hộ một xã hội xây dựng trên
một thế giới quan cơ học, phiến diện, mà không thấy rằng
khoa học đã bỏ qua cái nhìn đó, hướng về một cái nhất
thể của vũ trụ, nó không những chỉ bao hàm đời sống
chung quanh ta mà còn những con người khác nữa. Tôi nghĩ rằng
thế giới quan của vật lý hiện đại là không tương thích
với xã hội hiện nay của chúng ta, xã hội đó không phản
ánh gì mối tương quan hòa hợp mà ta quan sát được trong
thiên nhiên. Nhằm đạt được một tình trạng thăng bằng
động như thế, ta cần một cấu trúc xã hội và kinh tế
hoàn toàn khác: một cuộc cách mạng văn hóa trong cảm quan
đích thực về thế giới. Cuối cùng, toàn bộ nền văn minh
của chúng ta có sống được hay không, có lẽ phụ thuộc
vào điều là liệu chúng ta có đủ khả năng tiếp nhận thái
độ âm của đạo học phương Đông; để chứng thực tính
toàn thể của thiên nhiên va cách sống trong đó một cách
hòa hợp.
Điểm
Lại Nền Vật Lý Mới
Kể
từ bản in lần đầu của Đạo của vật lý, có nhiều tiến
bộ đáng kể trong các lĩnh vực của vật lý hạ nguyên tử
xảy ra. Khi tôi viết những dòng cho lời nói đầu của bản
in mới này thì những phát triển mới không có điểm nào
bác bỏ những tương đồng với tư tưởng phương Đông, mà
ngược lại, chỉ tăng cường thêm. Trong lời cuối này, tôi
mong được thảo luận thêm về kết quả của những nghiên
cứu mới mẻ trong vật lý nguyên tử và hạ nguyên tử cho
đến mùa hè năm 1982.
Một
trong những tương đồng mạnh nhất với đạo học phương
Đông là sự thừa nhận rằng những đơn vị cấu thành vật
chất và hiện tượng cơ bản do chúng sinh ra, tất cả đều
tác động qua lại với nhau; rằng chúng không thể được
hiểu như những đơn vị độc lập mà là phần không tách
rời được của một cái toàn thể. Khái niệm của tương
tác lượng tử mà tôi đã trình bày chi tiết trong chương
10 được Bohr và Heisenberg nhấn mạnh suốt trong lịch sử
của thuyết lượng tử. Thế nhưng, nó vừa thêm được sự
quan tâm mới mẻ trong hai thập niên vừa qua, khi nhà vật lý
tiến đến chỗ thấy rằng vũ trụ quả thật được liên
hệ lẫn nhau trong những cách tinh tế hơn người ta nghĩ nhiều.
Phương thức mới của mối liên hệ lẫn nhau vừa được
xác định không những đã tăng cường thêm cho sự song hành
giữa cách nhìn vật lý và đạo học, nó còn sinh ra những
khả năng hết sức lý thú để kết nối vật lý hạ nguyên
tử với tâm lý học của Jung và, có thể thậm chí với siêu
tâm lý học; và nó cho thêm ánh sáng mới về vai trò cơ bản
của tính chất xác suất trong vật lý lượng tử.
Trong
vật lý cổ điển, tính xác suất chỉ được dùng khi các
chi tiết tham dự vào một biến cố không rõ ràng. Thí dụ
khi ta đổ hạt súc sắc, trên nguyên tắc ta có thể tiên đoán
mặt nào sẽ ra nếu ta biết hết tất cả lý tính và hóa
tính đó: thành phần cấu tạo của hạt, bề mặt mà hạt
rơi xuống, v.v... những chi tiết này được gọi là biến
số tại chỗ hay biến số địa phương vì chúng nằm trong
lòng vật thể đó. Trong vật lý hạ nguyên tử, biến số
địa phương của những mối liên hệ giữa các biến cố
nằm trong không gian là những tín hiệu - những tín hiệu đó
là hạt hay nhóm các hạt - chúng tuân thủ định luật thông
thường trong không gian.Thí dụ không có tín hiệu nào có thể
đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng. Nhưng trong thời gian qua, ngoài
những mối liên hệ địa phương này, người ta phát hiện
ra những mối liên hệ khác, liên hệ liên thông, đó là những
liên hệ xảy ra tức thời, hiện nay không thể tiên đoán
trước bằng phép toán học chính xác.
Những
biến cố liên thông này được nhiều nhà vật lý xem là rất
cốt tủy trong vật lý lượng tử. Trong thuyết lượng tử,
các biến cố riêng lẻ luôn luôn không có một nguyên nhân
rõ ràng.Thí dụ khi một electron nhảy từ một quĩ đạo này
qua một quĩ đạo khác hay sự tự hủy của một hạt hạ
nguyên tử, chúng có thể xảy ra thình lình, không cần có
một biến cố tạo ra nó. Không bao giờ chúng ta có thể tiên
đoán một hiện tượng như thế sẽ xảy ra vào lúc nào và
xảy ra như thế nào; chúng ta chỉ nói trước về xác suất
của chúng. Điều đó không có nghĩa là các hiện tượng nguyên
tử xảy ra hoàn toàn tùy tiện; mà chỉ nói lên rằng chúng
không bị những tác nhân địa phương tác kích. Hoạt động
của mỗi hạt được xác định bởi các biến số liên thông
và vì chúng ta không biết rõ các mối liên hệ này nên đành
phải thay thế nội dung cổ điển chật hẹp của nhân - quả
bằng khái niệm rộng hơn của tính nhân quả thống kê. Các
định luật của vật lý nguyên tử là định luật thống
kê, theo đó mà xác suất của hiện tượng nguyên tử được
xác định bởi tính động của toàn hệ thống.Trong vật lý
cổ điển, tính chất và hoạt động của cái riêng lẻ quyết
định tính chất và hoạt động của cái toàn thể, tình hình
đó là ngược lại trong vật lý lượng tử: chính cái toàn
thể xác định hoạt động của cái riêng lẻ.
Vì
thế, tính xác suất được sử dụng cho cả vật lý cổ điển
và lượng tử có lẽ vì một vấn đề chung: trong cả hai,
đó chính là những ẩn số ta không biết tới, và sự không
rõ này ngăn cản ta có một tiên đoán chính xác. Thế nhưng,
ở đây có một sự khác biệt quyết định. Trong lúc những
ẩn số trong vật lý cổ điển chỉ là cơ chế địa phương,
thì trong lượng tử, chúng là liên thông; chúng có mối liên
hệ tức thời trong toàn bộ vũ trụ. Trong đời sống hàng
ngày, trong thế giới vĩ mô, các mối quan hệ liên thông tương
đối không quan trọng, nên ta mới có thể nói về các vật
thể riêng lẻ và phát biểu các định luật mô tả hoạt
động của chúng bằng các trị số chắc chắn. Nhưng khi nghiên
cứu ở kích thước nhỏ, tính chắc chắn được thay bằng
tính xác suất và càng lúc càng khó tách vật nào trong vũ
trụ ra khỏi cái toàn thể.
Sự
hiện hữu của những mối quan hệ liên thông và vai trò quyết
định của tính xác suất được suy ra từ đó là điều mà
Einstein không bao giờ chịu chấp nhận. Đó chính là đề tài
của cuộc tranh luận lịch sử của ông với Bohr trong những
năm 1920, trong đó Einstein phát biểu sự bác bỏ của mình
chống lại cách diễn dịch thuyết lượng tử của Bohr bằng
ẩn dụ nổi tiếng: “Chúa không chơi trò súc sắc”. Cuối
cùng, Einstein phải thừa nhận thuyết lượng tử, diễn giải
bởi Bohr và Heisenberg, đã tạo ra một hệ thống tư tưởng
nhất quán, nhưng ông vẫn tin nơi quan điểm quyết định luận,
với các ẩn số địa phương trong tương lai sẽ được hiện
ra.
Cái
cốt tủy về sự bất đồng giữa Einstein với Bohr xuất phát
từ lòng tin chắc chắn của Einstein nơi một thực tại bên
ngoài, thực tại đó gồm có những yếu tố tách rời trong
không gian và độc lập. Nhằm chứng minh rằng cách diễn giải
của Bohr về thuyết lượng tử là không nhất quán, Einstein
nghĩ ra một mô hình tư tưởng được biết đến cái tên
Einstein-Podisky-Rosen (EPR). Ba thập niên sau, John Bell đề xuất
một lý thuyết, dựa trên mô ình EPR, mô hình này chứng minh
sự hiện hữu của ẩn số địa phương là không tương thích
với những tiên đoán mang tính thống kê của thuyết lượng
tử. Thuyết của Bell đã bác bỏ luận cứ của Einstein bằng
cách cho thấy rằng hình dung một thực tại gồm các phần
tử tách rời, nối với nhau bằng liên hệ địa phương là
không thể tương thích với thuyết lượng tử.
Trong
những năm qua, mô hình EPR vẫn liên tục được thảo luận
và phân tích bởi các nhà vật lý quan tâm đến lý giải thuyết
lượng tử, vì nó rất thích hợp để chỉ ra sự khác biệt
giữa quan niệm cổ điển và quan niệm lượng tử. Đối với
mục đích của ta, có lẽ chỉ cần mô tả một cách đơn
giản mô hình này, nó gồm có hai electron tự quay tròn, dựa
trên cách trình bày của David Bohm. Nhằm nắm bắt cốt tủy
vấn đề, ta cần hiểu vài tính chất của electronspin. Hình
ảnh của một quả bóng tennis quay quanh trục hoàn toàn không
phù hợp để mô tả một hạt hạ nguyên tử có spin. Trong
một nghĩa nhất định, spin là sự quay quanh trục của hạt,
nhưng như nhiều lần đã xảy ra trong vật lý hạ nguyên tử,
khái niệm cổ điển này bị hạn chế. Trong trường hợp
của electron thì spin của hạt được giới hạn bởi hai trị
số: trị số của spin không thay đổi nhưng electron có thể
quay theo chiều này hoặc chiều kia, theo chiều kim đồng hồ
hoặc ngược chiều kim đồng hồ, qui vào một chiều đã cho
sẵn. Nhà vật lý thường gọi hai trị số này là lên và
xuống.
Tính
chất quyết định của electron có spin, điều mà không nên
hiểu theo nghĩa cổ điển, là trục quay của nó luôn luôn
không xác định được một cách chắc chắn. Cũng như electron
có khuynh hướng hiện hữu tại một chỗ nhất định, chúng
cũng có khuynh hướng quay quanh một trục nào đó. Khi đo một
trục quay bất kỳ nào đó, người ta tìm thấy electron đang
quay theo chiều này hay chiều kia của trục. Nói cách khác,
tiến trình đo lường đã cho hạt một trục quay nhất định,
còn trước khi đo lường thì ta không thể nói nó có quay quanh
một trục nhất định hay không; ta chỉ có thể nói nó có
khả năng quay.
Với
sự hiểu biết này về spin của electron, bây giờ ta hãy xét
mô hình thí nghiệm EPR và thuyết của Bell. Mô hình thí nghiệm
này xét hai hạt electron đang quay trái chiều với nhau, thế
nên tổng số spin của chúng bằng không.
Có
nhiều phương pháp thí nghiệm được sử dụng để đưa hai
electron đó vào trong một trạng thái, trong đó chiều quay của
mỗi spin không được biết đích xác nhưng tổng số spin của
hai electron đó chắc chắn bằng không. Bây giờ ta giả định
rằng hai electron đó bị cách ly ra xa bởi một tiến trình,
triến trình đó không ảnh hưởng lên spin của chúng. Khi chúng
bị tách ra mà chúng vẫn bị quay ngược chiều, tổng số
spin của chúng bằng không, nhưng khi chúng đã thật xa nhau,
hãy đo mỗi một spin của chúng. Một khía cạnh quan trọng
của thí nghiệm này là khoảng cách giữa hai hạt này phải
xa bất kỳ; một hạt có thể ở New york, hạt kia ở Paris,
hay một hạt ở trên trái đất, hạt kia ở mặt trăng.
Hãy
giả định rằng spin của hạt 1 được đo theo một trục
đứng và được thấy là lên. Vì tổng số spin của hai hạt
phải bằng không, số đo này cho ta biết spin của hạt hai
phải là xuống. Thế nên khi đo spin của hạt 1, ta sẽ biết
một cách gián tiếp spin của hạt 2 mà không đụng gì đến
hạt này cả. Khía cạnh nghịch lý của thí nghiệm EPR xuất
hiện từ thực tế là quan sát viên được tự do lựa chọn
trục đo. Thuyết lượng tử cho ta biết rằng spin của hai
electron này xung quanh mọi trục đều quay ngược chiều cả,
nhưng chúng chỉ tồn tại như là khuynh hướng, hay khả năng,
trước khi tiến trình đo lường được thực hiện. Bây giờ
khi quan sát viên đã lựa chọn một trục nhất định và tiến
hành đo, thì hành động này đã cho hai hạt một trục quay
cụ thể. Điều quyết định là, như thế ta có thể lựa
một trục quay ở thời điểm cuối, khi hai hạt đã xa nhau
hẳn rồi. Ngay tức thời khi ta đo hạt 1, thì hạt 2 lúc đó
đã cách xa vài ngàn dặm, thế mà sẽ nhận được một spin
quanh trục ta chọn. Làm sao hạt 2 biết ta chọn trục nào được?
Vì là tức thời, đâu có thời gian nào để nhận được
thông tin từ một tín hiệu qui ước.
Đây
là điểm chốt của thí nghiệm EPR và cũng là chỗ bất đồng
của Einstein với Bohr. Theo Einstein thì, vì không có tín hiệu
nào có thể đi nhanh hơn ánh sáng, nên không thể có một phép
đo nào lên một electron lại tức thời xác định chiều quay
của hạt kia, hạt cách xa vài ngàn dặm. Theo Bohr thì hệ thống
hai hạt này là một cái toàn thể không chia cắt được, dù
cho hai hạt bị cách ly ra xa nhau một khoảng cách lớn; hệ
thống này cũng không thể được phân tích như hai phần tử
độc lập. Ngay cả khi hai electron tách ra xa trong không gian,
chúng vẫn nối với nhau bằng liên hệ tức thì, liên thông.
Môi liên hệ này không phải là tín hiệu trong nghĩa của Einstein;
chúngchuyển hóa khái niệm qui ước của ta về việc trao truyền
thông tin. Thuyết của Bell hỗ trợ quan niệm của Bohr và chứng
minh một cách rõ ràng rằng, cách nhìn của Einstein về thực
tại vật lý gồm những yếu tố độc lập, nằm rải rác
trong không gian, cách nhìn đó không tương thích với định
luật của thuyết lượng tử. nói cách khác, thuyết của Bell
chỉ rõ rằng vũ trụ là liên hệ cơ bản với nhau, phụ thuộc
lẫn nhau và không tách rời được. Cũng như vị thánh nhân
Phật giáo Long Thụ nói cách đây hàng trăm năm:
Tính
chất và sự hiện hữu của sự vật xuất phát từ những
mối tương quan mà ra, tự nó không có gì cả.
Hiện
nay, các nghiên cứu trong vật lý nhằm mục đích thống nhất
hai thuyết cơ bản, thuyết lượng tử và thuyết tương đối,
trong một thuyết hoàn chỉnh cho các hạt hạ nguyên tử.
Chúng
ta chưa đủ khả năng để phát biểu một thuyết hoàn chỉnh
như thế, nhưng có nhiều thuyết và mô hình toàn phần, chúng
mô tả rất tốt một số khía cạnh của hiện tượng hạ
nguyên tử. Hiện nay ta có loại thuyết lượng tử - tương
đối khác nhau cho vật lý hạt, chúng thành công trong những
lĩnh vực khác nhau. Lý thuyết đầu là một nhóm lý thuyết
trường (xem chương 14), nó được áp dụng cho tương tác điện
từ và tương tác yếu; lý thuyết thứ hai là thuyết mang tên
ma trận S (xem chương 17), nó được áp dụng thành công để
mô tả tương tác mạnh. Một vấn đề lớn hiện nay chưa
giải quyết được là sự thống nhất giữa thuyết lượng
tử và thuyết tương đối tổng quát để hoàn thành một
thuyết lượng tử trọng trường. Mặc dù gần đây sự phát
triển của thuyết siêu trọng trường có thể được xem là
một bước về hướng giải quyết vấn đề này, tới nay
chưa tìm ra được một thuyết nào khả dĩ tốt hơn.
Các
thuyết lượng tử, như trình bày chi tiết trong chương 14,
đặt trên cơ sở của trường lượng tử, một đơn vị cơ
bản, nó có thể hiện hữu ở trạng thái liên tục là trường,
trong trạng thái phi liên tục là hạt, nhiều hạt khác nhau
được xem như liên hệ với những trường khác nhau. Những
thuyết này đã thay thế khái niệm xem hạt là vật thể cơ
bản bằng nội dung một trường lượng tử tinh tế hơn nhiều.
Tuy thế, các thuyết này vẫn xem có những đơn vị cơ bản
và thế nên trong một nghĩa nhất định, vẫn là thuyết bán
cổ điển, chúng không chỉ rõ được toàn thể tự tính lượng
tử - tương đối của vật chất hạ nguyên tử.
Thuyết
điện động lượng tử, thuyết đầu tiên của trường lượng
tử, đạt thành quả là nhờ tương tác điện từ vốn rất
yếu mà nhờ thế có thể giữ tính chất của một sự phân
biệt cổ điển giữa vật chất và lực tương tác. Điều
này cũng đúng với lý thuyết trường của tương tác yếu
đã được nhận thấy rõ hơn hẳn trong thời gian qua, nhờ
sự phát triển một loại thuyết mới về trường, được
gọi là lý thuyết Gauge, nó có thể thống nhất hai tương
tác này làm một. Trong thuyết thống nhất đó - được gọi
là thuyết Weinberg - Salam để chỉ hai kiến trúc sư chính là
Steven Weinberg và Abdus Salam - hai loại tương tác vẫn được
phân biệt, nhưng về toán học chúng được nối với nhau
và được gọi chung là tương tác điện từ yếu.
Thuyết
Gauge cũng được mở rộng cho tương tác mạnh với sự phát
triển một lý thuyết trường gọi là sắc động lượng tử
(QCD), nhiều nhà vật lý đang cố gắng thiết lập một sự
đại thống nhất giữa QCD và thuyết Weinberg - Salam. Tuy
nhiên việc sử dụng thuyết Gauge để mô tả các hạt tương
tác mạnh là hết sức khó khăn. Sự tương tác giữa hadron
quá mạnh đến nỗi sự phân biệt giữa hạt và lực bị
triệt tiêu và, vì thế, QCD không được sử dụng thành công
để mô tả tiến trình có hạt gây tương tác mạnh. Nó chỉ
ứng dụng được cho một số ít hiện tượng rất đặc biệt
- trong tiến trình gọi là Deep Inelastic (tán xạ mạnh không
đàn hồi) - trong đó hạt phản ứng, ta chưa hiểu hết lý
do, hao hao giống như vật thể cổ điển. Dù có nhiều cố
gắng lớn lao, nhà vật lý vẫn chưa áp dụng được QCD ngoài
một số hiện tượng nhỏ hẹp và hy vọng ban đầu về vai
trò của nó trong khuôn khổ lý thuyết nhằm suy ra tính chất
của các hạt tương tác mạnh, tới nay hy vọng đó không được
đáp ứng.
Sắc
động lượng tử đại diện cho phát biểu toán học hiện
nay về mô hình quark (xem chương 16), Trong đó trường được
liên hệ với quark và chromo được dựa trên tính chất có
màu của các trường quark này. Cũng như tất cả thuyết Gauge,
QCD được mô hình hóa dựa theo động điện lượng tử (QED).
Trong QED, tương tác điện từ được kiểm soát bởi sự hoán
chuyển các gluon giữa các hạt quark có màu. Những hạt này
không phải là hạt thật mà chỉ là loại lượng tử, chúng
dán các quark với nhau để tạo thành menson và baryon.
Trong
thập niên qua, mô hình quark được mở rộng và tinh tế hơn,
đáng kể khi nhiều hạt mới được phát hiện trong thí nghiệm
va chạm cao năng lượng. Như trình bày trong chương 16, mỗi
một của ba hạt giả định ban đầu và được dán thêm các
vị up, down và strange phải xuất hiện trong ba màu, và sau đó
là một hạt quark thứ tư được giả định, cũng lại xuất
hiện trong ba màu và được gắn thêm vị charm. Gần đây hơn,
hai vị mới được thêm cho mô hình, được gọi là t và b,
viết tắt của top và bottom (hay nói văn vẻ hơn, cho true
và beautiful), chúng mang tổng số các hạt lên 18 - sáu vị
và ba màu. Vì thế cũng chẳng ngạc nhiên gì khi nhiều nhà
vật lý thấy đa số những đơn vị vật chất cơ sở này
không hấp dẫn nữa và đã đề xuất là đã tới lúc nghĩ
ra những hạt nhỏ hơn, thật sự cơ bản, những hạt đó
là thành phần cấu tạo nên quark...
Trong
lúc tất cả những lý thuyết và mô hình này phát triển,
nhà thực nghiệm tiếp tục tìm kiếm các hạt quark thực sự,
nhưng không tìm ra hạt nào cả và sự vắng mặt triền miên
của các hạt quark trở thành vấn đề chính của mô hình
quark. Trong khuôn khổ của QCD, hiện tượng vắng mặt quark
đã được mang tên là quark bị giam, có nghĩa là hạt quark,
vì lý do nào đó, đã bị giam giữ trong hadron và vì thế ta
không bao giờ thấy nó. Nhiều cơ chế đã được đề ra để
tính sự giam giữ của quark, nhưng tới nay chưa có lý thuyết
nào hợp lý được đề xuất.
Đó
là tình trạng hiện nay của mô hình quark: để lý giải cấu
trúc được quan sát trong mọi hadron, ta cần ít nhất là 18
hạt quark cộng thêm 8 gluon; không hạt nào trong số đó được
phát hiện có thật và sự hiện hữu của chúng với tính
cách là thành phần của hadron sẽ đưa đến nhiều khó khăn
về mặt lý thuyết; nhiều mô hình đã được đề xuất để
giải thích sự giam giữ thường xuyên của nó nhưng không
có thuyết nào cho thấy một thuyết động khả dĩ, trong lúc
QCD, khuôn khổ lý thuyết của mô hình quark, chỉ có thể áp
dụng trong phạm vi rất nhỏ hẹp của hiện tượng. Mặc những
khó khăn đó, phần lớn các nhà vật lý vẫn còn đeo bám
nơi ý niệm của những hạt cơ bản xây dựng nên vật chất,
chúng đã bắt rễ sâu xa trong truyền thống khoa học phương
Tây.
Phần
lớn các phát triển đầy ấn tượng trong vật lý hạt, có
lẽ, đã xảy ra gần đây trong thuyết ma trận S và phép Dung
thông (xem chương 17 và 18), đó là thuyết không thừa nhận
có một đơn vị nào là cơ bản mà tìm cách hiểu thiên nhiên
một cách toàn thể thông qua tính chất tự tương thích của
nó. Tôi đã nói rõ trong cuốn sách này là xem triết học dung
thông là đỉnh cao của tư duy khoa học hiện nay và cũng đã
nhấn mạnh đó là thuyết tới gần nhất với tư tưởng phương
Đông, trong cả triết lý toàn thể và hình ảnh đặc biệt
về vật chất. Đồng thời, nó cũng là cách tư duy rất khó
cho nền vật lý, hiện nay chỉ có một số nhỏ nhà vật lý
theo đuổi nó. Đối với phần lớn thành viên của cộng đồng
vật lý thì triết học Dung thông quá xa lạ với cách suy nghĩ
truyền thống để được trọng thị nghiêm túc, và sự thiếu
trọng thị này cũng lan qua cho cả thuyết ma trận S. Điều
kỳ lạ và nổi bật là, mặc dù những khái niệm cơ bản
của thuyết này được tất cả nhà vật lý hạt sử dụng
mỗi khi họ phân tích kết quả thí nghiệm phân tán và so
sánh chúng với những tiên đoán lý thuyết, đến nay chưa
có giải Nobel nào thừa nhận các nhà vật lý xuất sắc đã
góp phần vào sự phát triển của thuyết ma trận S trong hai
thập niên qua.
Sự
thách thức lớn nhất đề ra cho thuyết ma trận S và Dung thông
luôn luôn là quan tâm đến cấu trúc quark của hạt hạ nguyên
tử. Mặc dù sự hiểu biết hiện nay của chúng ta về thế
giới hạ nguyên tử loại bỏ sự hiện hữu của quark như
hạt vật lý, không còn nghi ngờ gì tính đối xứng quark trong
hadron sẽ được giải thích bằng một lý thuyết hoàn chỉnh
về tương tác mạnh. Gần đây cách tiếp cận Dung thông không
giải thích được những bất thường nổi bật đó, nhưng
khoảng sáu mươi năm trở lại đây đã có một sự đột
khởi trong thuyết ma trận S. Điều này đã được đúc kết
trong Dung thông về hạt, thuyết này có thể giải thích các
cấu trúc quan sát được của quark mà không cần giả định
phải có sự hiện hữu của hạt quark lý tính. Hơn thế nữa,
thuyết mới Dung thông làm sáng tỏ một số câu hỏi mà trước
kia người ta không hiểu.
Để
hiểu cốt tủy của sự phát triển mới này, ta cần làm rõ
ý nghĩa của cấu trúc quark trong khuôn khổ của thuyết ma
trận S. Trong mô hình quark thì hạt được hình dung chủ yếu
như những trái banh bi-da, chúng chứa trong đó những trái banh
bi-da nhỏ. Còn trong phép ma trận S, mang tính toàn thể và động,
thì hạt là những cấu trúc năng lượng liên hệ với nhau
trong một tiến trình vũ trụ đang vận hành; đang nối kết
lẫn nhau, đang tương tác với nhau của những phần tử trong
một tấm lưới vũ trụ không thể chia cắt. trong khuôn khổ
như thế, từ cấu trúc quark nói đến thực tế là sự chuyển
đổi năng lượng và dòng chảy của thông tin trong hệ thống
biến cố phải đi theo những con đường được định nghĩa
rõ ràng, đó là sinh ra Cái Hai liên hệ với Menson và Cái Ba
liên hệ với Baryon. Đó là tính động tương tự như khi cho
rằng hadron hàm chứa hạt quark. Trong thuyết ma trận S không
có những đơn vị khác hẳn nhau và không có đơn vị xây
dựng nào là cơ bản; chỉ có một dòng chảy của năng lượng
cho thấy những cấu trúc được định nghĩa rõ ràng.
Thế
thì, câu hỏi là làm sao những cấu trúc đặc trưng của quark
xuất hiện được? Yếu tố then chốt của thuyết Dung thông
mới là khái niệm về thứ bậc, nó là khía cạnh mới và
quan trọng của vật lý hạt. Thứ bậc trong khung cảnh này
là thứ bậc nằm trong tương quan của các tiến trình hạ
nguyên tử. Có nhiều cách mà phản ứng hạt liên kết lẫn
nhau và theo đó, người ta có thể định nghĩa nhiều loại
thứ bậc. Ngôn ngữ của topology (công cụ toán học chuyên
khảo sát một liên hệ) đã được các nhà toán học biết
đến nhưng chưa bao giờ được áp dụng trong vật lý hạt
- nay được sử dụng để phân loại thứ bậc được thể
hiện trong khuôn khổ toán học của thuyết ma trận S, thì
ngược lại, chỉ một ít thể loại của mối liên hệ có
thứ bậc tương thích với tính chất của ma trận S đã biết.
Các thể loại thứ bậc này rõ ràng là những cấu trúc quark
đã được quan sát trong thiên nhiên. Thế nên, cấu trúc quark
hiện ra, xem như biểu trưng của thứ bậc và nhất thiết
phải tự tương thích, mà không cần phải giả định quark
là phần cấu tạo hadron.
Sự
phát sinh của thứ bậc như một khái niệm mới và trung tâm
của vật lý hạt không chỉ dẫn đến một sự đột phá
trong thuyết ma trận S, mà còn có thể mở những con đường
đi xa cho toàn bộ khoa học. Hiện nay, ý nghĩa của thứ bậc
trong vật lý hạ nguyên tử vẫn còn như bí ẩn và chưa được
khám phá hoàn toàn. Tuy thế, thật thú vị khi thấy rằng,
cũng như ba nguyên lý của ma trận S, khái niệm thứ bậc đóng
một vai trò cơ bản trong việctiếp cận khoa học với thực
tại và là khái niệm then chốt của phương pháp quan sát.
Thừa nhận thứ bậc xem ra là một khía cạnh chủ yếu của
tư duy; mỗi sự nhận thức một cấu trúc, trong một nghĩa
nhất định, là một sự nhận thức thứ bậc. Làm sáng tỏ
khái niệm về thứ bậc trong lĩnh vực nghiên cứu, trong đó
cấu trúc của vật chất và cấu trúc của tinh thần càng
lúc càng được xem là phản ánh lẫn nhau, việc đó hứa hẹn
sẽ mở ra những chân trời hấp dẫn của nhận thức.
Theo
Geoffrey Chew, người tiên phong đề xuất ý niệm Dung thông
và cũng là nhân tố đoàn kết cũng như nguyên thủ triết
học trong thuyết ma trận S của hai thập niên qua, việc mở
rộng của cách tiếp cận Dung thông qua sự mô tả hadron có
thể đưa đến khả năng bất ngờ là buộc phải đưa ý thức
con người vào hẳn trong lý thuyết tương lai về vật chất.
Chew viết “Một bước đi tương lai như thế, sẽ vô cùng
sâu sắc hơn mọi thứ đã đạt được liên quan tới Hadron
- Dung thông...”. Sự cố gắng hiện nay của chúng ta với
hadron - Dung thông chỉ là khái niệm đầu tiên cho một dạng
hình hoàn toàn mới của một nỗ lực của tư duy con người.
Từ khi ông viết những dòng này, hầu như mười lăm năm qua,
sự phát triển mới của ma trận S đã đưa Chew tới gần
một cách đáng kể với vai trò ý thức. Hơn thế nữa, ông
không phải là nhà vật lý duy nhất của hướng đi này. Trong
những nghiên cứu gần đây, một trong những phát triển hứa
hẹn nhất là một thuyết mới được đề xuất bởi David
Bohm, có lẽ là người đi xa hơn bất kỳ ai khác về việc
nghiên cứu mối liên hệ giữa ý thức và vật chất trong
khung cảnh khoa học. Phép tiếp cận của Bohm là tổng quát
hơn và tham vọng hơn thuyết hiện nay của ma trận S và có
thể được xem là một cố gắng để dung thông không gian
- thời gian, nhằm suy ra một thuyết tương thích của lượng
tử - tương đối.
Điểm
xuất phát của Bohm là, như tôi đã trình bày trong chương
10, nội dung của một cái toàn thể không tách rời và ông
nhìn các mối liên hệ liên thông mà chúng đã được nêu
trong thí nghiệm EPR, là một khía cạnh chủ yếu của cái
toàn thể đó. Các liên hệ liên thông bây giờ là nguồn gốc
của các phát biểu có tính chất thống kê trong các định
luật của vật lý lượng tử, thế nhưng Bohm còn muốn đi
xa hơn tính xác suất và sự phát hiện ra thứ bậc, đó là
điều mà ông tin là tự tính của mạng lưới liên hệ vũ
trụ tại một lĩnh vực sâu xa, phi hình tướng. Ông gọi thứ
bậc này là nội tại hay ràng buộc, thứ bậc mà trong đó
các mối liên hệ của cái toàn thể không can dự gì với
nơi chốn trong thời gian hay không gian, chúng cho thấy một
tính chất ràng buộc hoàn toàn khác.
Bohm
sử dụng hình ảnh ba chiều hologram (ảnh toàn ký) như một
ẩn dụ cho thứ bậc nội tại, vì tính chất đặc biệt của
hình ảnh này là mỗi phần của nó, trong nghĩa nhất định,
chứa đựng cái toàn bộ. Nếu mỗi phần của hologram được
chiếu sáng lên, thì toàn bộ hình ảnh sẽ tái hiện, mặc
dù nó ít chi tiết hơn là hình ảnh của hologram toàn thể.
Theo cách nhìn của Bohm, thế giới thực tại có cơ cấu của
nguyên lý đó, tức là cái toàn thể bị ràng buộc trong mỗi
phần của chính nó.
Bohm
thừa nhận rằng, tất nhiên, sự tương đồng với hologram
quá hạn chế để có thể sử dụng nó như một mô hình khoa
học cho thứ bậc nội tại trong lĩnh vực hạ nguyên tử,
và để phát biểu tính chất động chủ yếu của thực tại
trong lĩnh vực này, ông đã gắn chữ holomovement (vận động
toàn thể) xem là nền tảng của mọi đơn vị hiện tượng.
Theo cách nhìn của Bohm thì holomovement là một hiện tượng
động, từ đó mọi dạng của vũ trụ vật chất xuất ra.
Mục đích của sự tiếp cận này là nghiên cứu thứ bậc
ràng buộc trong holomovement, không phải thông qua cấu trúc vật
thể, mà với cấu trúc của sự vận hành, nhờ thế mà đáp
ứng được hai đòi hỏi của tính nhất thể và tính động
của vũ trụ.
Theo
Bohm không gian và thời gian đều là sắc thể, xuất phát từ
holomovement mà ra; chúng cũng bị ràng buộc trong thứ bậc của
chúng. Bohm tin rằng sự hiểu biết thứ bậc nội tại sẽ
không chỉ dẫn đến một sự hiểu biết toàn diện hơn về
xác suất trong vật lý lượng tử, mà còn cho phép ta suy ra
những tính chất cơ bản của không gian - thời gian tương
đối. Thế nên, thuyết về thứ bậc nội tại sẽ cung cấp
một cơ sở chung cho cả hai thuyết lượng tử và tương đối.
Nhằm
hiểu thứ bậc nội tại, Bohm cho rằng cần phải xem ý thức
là môt đặc trưng chủ yếu của holomovement và phải đưa
hẳn nó vào trong lý thuyết của mình. Ông xem tinh thần và
vật chất là phụ thuộc lẫn nhau và tương thích với nhau,
nhưng không nối nhau theo tính nhân quả. Cả hai đều là sự
phản chiếu, ràng buộc lẫn nhau, của một thực tại cao hơn,
thực tại đó không phải vật chất cũng chẳng phải ý thức.
Hiện
nay, thuyết của Bohm vẫn còn nằm trong dạng thử nghiệm và
mặc dù ông đã phát triển một dạng toán học gồm ma trận
và topology, phần lớn những phát biểu của ông vẫn còn định
tính hơn định lượng. Tuy thế, dù mới ở giai đoạn ban
đầu, thuyết của ông về thứ bậc nội tại dường như
tương cận với thuyết Dung thông của Chew. Cả hai tiếp cận
này dựa trên thế giới quan chung của một mạng lưới động
gồm toàn liên hệ; cả hai cho khái niệm thứ bậc nội tại
dường như tương cận với thuyết Dung thông của Chew. Cả
hai tiếp cận này dựa trên thế giới quan chung của một mạng
lưới động gồm toàn liên hệ; cả hai cho khái niệm thứ
bậc có một vai trò trung tâm; cả hai sử dụng ma trận để
biểu diễn sự thay đổi và chuyển hóa và dùng topology để
phân loại thứ bậc. Cuối cùng, cả hai tiếp cận này đều
thừa nhận là ý thức có lẽ là khía cạnh chủ yếu của
vũ trụ, nó cần được gắn vào trong lý thuyết của tương
lai về hiện tượng vật lý. Một lý thuyết như thế có thể
xuất phát từ sự hợp nhất hai thuyết của Bohm và Chew, nó
sẽ đại diện cả hai tiếp cận sáng tạo nhất và mang tính
triết học sâu xa về thực tại vật lý.
Tương
Lai của Nền Vật Lý Mới
Lời
cuối cho bản in lần thứ ba
HÌNH
ẢNH
Nguồn
gốc của Đạo của vật lý xuất phát từ trong một thể
nghiệm mạnh mẽ mà tôi trải qua trong mùa hè năm 1969 trên
bãi biển ở Santa Cruz, được mô tả trong lời nói đầu của
sách này. Một năm sau, tôi rời California để tiếp tục việc
nghiên cứu ở Imperial College ở London, và trước khi tôi đi
ghép một tấm hình - Shiva nhảy múa, ngự trị trên các hạt
đang va chạm trong buồng đo - để minh họa chứng nghiệm của
tôi về sự nhảy múa vũ trụ trên bãi biển. Hình ảnh đẹp
tuyệt này đối với tôi là biểu tượng của sự song hành
giữa vật lý và đạo học mà tôi vừa bắt đầu khám phá.
Một ngày nọ, cuối thu năm 1970, khi ngồi trong nhà gần Imperial
College và nhìn bức tranh, bỗng nhiên tôi có một nhận thức
rất rõ ràng. Tôi biết với một sự chắc chắn tuyệt đối
rằng sự tương đồng giữa vật lý hiện đại và đạo học
phương Đông ngày nào đó sẽ trở thành nhận thức chung;
và tôi cũng cảm thấy mình đang ở vị trí tốt nhất để
phát hiện ra những sự tương đồng này một cách nhất quán
và để viết một cuốn sách về chúng.
Năm
năm sau, mùa thu năm 1975, Đạo của vật lý được xuất bản
lần đầu. Bây giờ, mười lăm năm sau, tôi muốn nêu nhiều
câu hỏi: Hình ảnh tôi thấy đã trở thành sự thực? Phải
chăng những tương đồng giữa vật lý hiện đại và đạo
học phương Đông ngày nay dứt khoát đã là nhận thức chung
hay, ít nhất, đang trở thành nhận thức chung? Liệu luận
điểm đầu tiên của tôi còn có giá trị hay nó cần phát
biểu lại? Đâu là những phê bình chính yếu về luận điểm
của tôi và ngày nay tôi phải trả lời thế nào? Và cuối
cùng, bản thân những cái nhìn của tôi, chúng biến đổi
như thế nào và đâu là chỗ để có thể thực hiện những
công trình tương lai? Trong lời cuối này, tôi muốn trình bày
những câu trả lời của mình về những câu hỏi đó, với
tất cả cẩn trọng và thành thực.
Tác
động của cuốn sách
Mười
lăm năm qua, Đạo của vật lý đã được độc giả nồng
nhiệt đón nhận, điều này đã vượt qua sự mong chờ táo
bạo nhất của tôi. Khi viết, bè bạn tại London nói với
tôi rằng bán được mười ngàn cuốn sách đã là một thành
công lớn, và tôi âm thầm hy vọng rằng sẽ bán được năm
mươi ngàn cuốn. Ngày nay số sách bán ra toàn thế giới đã
lên đến trên một triệu cuốn: Đạo của vật lý đã được
dịch ra hơn mười mấy ngôn ngữ; các bản dịch khác đang
được chuẩn bị và những bản in khác đang in và bán chạy.
Sự
đáp ứng to lớn này đã có tác động mạnh mẽ to lớn trong
đời tôi . Trong suốt mười lăm năm qua tôi đã đi rất nhiều,
đã diễn thuyết trước những cử tọa chuyên ngành và không
chuyên, tại Mỹ, châu Âu, châu Á và thảo luận về những
hướng đi của nền vật lý mới với mọi người trong mọi
nẻo đường của đời sống. Những sự thảo luận này đã
giúp tôi rất nhiều để hiểu được hết khung cảnh văn
hóa rộng rãi của tác phẩm mình, và bây giờ tôi thấy chính
khung cảnh này là lý do chính của sự đón tiếp nồng nhiệt
đó. Tôi luôn luôn được chứng kiến lại cảnh cuốn sách
và bài nói của mình đã gây một cộng hưởng mạnh mẽ trong
mọi người. Đã nhiều lần mọi người viết cho tôi hoặc
nói với tôi sau buổi thuyết giảng: “Ông đã nói lên một
điều mà tôi đã cảm thấy từ lâu mà không viết được
bằng lời”. Thường thường những người đó không phải
là nhà khoa học, họ cũng chẳng phải nhà đạo học. Họ
là những người bình thường và cũng lại là những người
rất lạ: nghệ sĩ, bà già, thương nhân, giáo viên, nông gia,
cô y tá; những người thuộc mọi lứa tuổi, nhiều người
trên hay dưới năm mươi. Một số ít là những vị già cả.
Phần lớn những bức thư cảm động nhất là của những
cụ già trên bảy mươi, trên tám mươi và trong hai ba trường
hợp là cả trên chín mươi!
Đạo
của vật lý đã đánh thức được gì trong những con người
này ? Bản thân họ đã có chứng nghiệm gì? Tôi đã tới
chỗ phải tin rằng sự thừa nhận mối tương đồng giữa
vật lý hiện đại và đạo học phương Đông là yếu tố
của một quá trình vận động to lớn, một sự thay đổi
tận gốc rễ của thế giới quan, hay các mẫu hình của khoa
học và xã hội, nó đang diễn ra rộng khắp ở châu Âu và
Bắc Mỹ và dẫn đến một sự chuyển hóa văn hóa sâu sắc.
Sự chuyển hóa này, sự thay đổi ý thức sâu đậm này, chính
là điều mà nhiều người cảm thấy một cách trực giác
trong hai hay ba thập niên vừa qua, và đó là lý do tại sao
Đạo của vật lý đã tạo ra một tác động như thế.
Sự
thay đổi mẫu hình
Trong
cuốn sách thứ hai , The Turning Point (Bước ngoặt), tôi đã
nghiên cứu hệ quả xã hội của sự thay đổi hiện nay về
các mẫu hình. Điểm xuất phát của sự nghiên cứu này là
khẳng định rằng các vấn đề chính của thời đại chúng
ta - sự đe dọa chiến tranh hạt nhân, sự hủy hoại môi trường
sống, sự bất lực của chúng ta khi đối đầu với cảnh
nghèo nàn và đói khát trên thế giới, nếu chỉ kể những
vấn đề trọng đại nhất - tất cả là những mặt khác
nhau của một cuộc khủng hoảng duy nhất, đó chủ yếu là
một cuộc khủng hoảng về nhận thức. Chúng xuất phát từ
sự thực là phần lớn chúng ta - và đặc biệt là cơ chế
xã hội to lớn của ta - nằm dưới những khái niệm và giá
trị của một thế giới quan lỗi thời, dưới những mẫu
hình không đủ sức để đối trị những vấn đề của một
thế giới nhân mãn, liên hệ lẫn nhau một cách toàn cầu.
Đồng thời, đáng mừng thay, nhiều nhà nghiên cứu của những
ngành mũi nhọn khoa học, các phong trào xã hội khác nhau, và
nhiều nhà mạng lưới khác cũng đang phát triển một tầm
nhìn mới về thực tại, nó sẽ hình thành cơ sở của ta
về các công nghệ tương lai, hệ thống kinh tế và cơ chế
xã hội.
Những
mẫu hình bây giờ bắt đầu rút lui là những thứ đã ngự
trị trên nền văn hóa của chúng ta từ vài trăm năm nay, nó
đã khắc họa đời sống xã hội phương Tây và ảnh hưởng
quyết định lên thế giới còn lại. Những mẫu hình này
gồm có một số ý niệm và giá trị, trong đó vũ trụ quan
là một hệ thống cơ học gồm có các hạt cơ bản, cách
nhìn thân người như một cái máy, cách nhìn cuộc đời là
một sự đấu tranh giành giật kiếm sống, niềm tin nơi sự
tiến bộ vô tận của vật chất giành được bằng sự lớn
mạnh kinh tế và kỹ thuật, và - cuối cùng, không phải là
không quan trọng - niềm tin rằng xã hội trong đó nữ giới
luôn luôn nằm dưới sự lãnh đạo của nam giới là tự nhiên.
Trong những thập niên qua, tất cả những giả định đó đã
được khám phá ra hết sức hạn chế và cần sửa đổi một
cách triệt để.
Thực
tế là sự sửa đổi đó đang diễn ra. Những mẫu hình mới
đang xuất hiện có thể mô tả bằng nhiều cách khác nhau.
Nó có thể gọi là thế giới quan toàn thể, xem thế giới
như là một thể thống nhất chứ không phải là tập hợp
của nhiều thành phần. Nó cũng có thể được gọi là một
thế giới quan sinh thái và đó là từ mà tôi thấy đúng nhất.
Tôi dùng từ sinh thái ở đây trong nghĩa rộng và sâu hơn
người ta dùng. ý thức sinh thái trong nghĩa sâu này thừa nhận
mối tương quan của tất cả hiện tượng là cơ bản và bao
gồm cá thể lẫn xã hội trong một tiến trình có chu kỳ
của thiên nhiên.
Mẫu
hình sinh thái được khoa học hiện đại hỗ trợ, nhưng nó
bắt rễ từ một nhận thức về thực tại, nhận thức đó
thoát khỏi khuôn khổ khoa học để tới với một ý thức
về sự nhất thể trong mọi đời sống, sự liên hệ lẫn
nhau của những hiện tượng muôn vẻ và những chu kỳ về
thay đổi và chuyển hóa của chúng. Cuối cùng, ý thức sinh
thái sâu xa đó là ý thức về tinh thần. Khi khái niệm của
tinh thần con người được hiểu như là dạng của ý thức,
với nó, con người cảm thấy mình nối liền với vũ trụ
như một cái toàn thể, thì rõ là ý thức sinh thái mang tính
tâm linh trong nghĩa sâu nhất, và khi đó sẽ không lạ gì nếu
hình ảnh mới về thực tại rất hòa điệu với hình ảnh
của các truyền thống tâm linh.
Bây
giờ, ta có thể nói rõ về khung cảnh rộng rãi của Đạo
của vật lý. Nền vật lý mới là một phần không tách rời
của thế giới quan mới, nó đang xuất hiện trong mọi khoa
học và xã hội. Thế giới quan mới là một thế giới quan
sinh thái, nói cho cùng thì có đặt cơ sở trên ý thức tâm
linh.
Luận
điểm ban đầu của tôi như thế vẫn còn giá trị và rõ
hơn khi được phát biểu lại và đặt trong một khung cảnh
rộng hơn. Đồng thời, nó cũng được khẳng định bởi những
phát triển gần đây trong các ngành khoa học khác, đáng kể
nhất trong sinh vật và tâm lý học,và bây giờ tôi thấy mình
đứng trên một sơ sở vững chắc hơn nhiều. Thậm chí bây
giờ còn rõ hơn trước là đạo học hay triết học vĩnh cửu,
có người gọi như thế, cung cấp những cơ sở triết học
nhất quán cho các mẫu hình khoa học mới.
Sự
thừa nhận này chưa phải là nhận thức chung của mọi người,
nhưng nó đang mở rộng một cách vững chắc, bên trong và
bên ngoài khoa học. Theo vết của Đạo của vật lý có khoảng
ít nhất cả chục cuốn sách rất thành công nói về mối
liên hệ giữa khoa học hiện đại và truyền thống đạo
học, và cũng có nhiều hội nghị quốc tế lớn về đề
tài này thu hút nhiều nhà khoa học xuất sắc, kể cả vài
vị đoạt giải Nobel, cũng như đại diện cao cấp của các
tổ chức truyền thống tâm linh. Thông điệp ban đầu của
tôi đã được nhân lên rộng rãi trong các biến cố đó.
Ảnh
Hưởng của Heisenberg và Chew
Bây
giờ tôi xin trở lại những mẫu hình mới trong khoa học và
thảo luận về những đặc trưng chính của chúng. Gần đây
tôi đã thử tìm một nhóm những tiêu chuẩn cho tư duy về
mẫu hình mới trong khoa học. Tôi đề xuất sáu tiêu chuẩn;
hai cái đầu nói về cách nhìn về thiên nhiên, bốn cái sau
về nhận thức luận của chúng ta. Tôi nghĩ rằng bốn tiêu
chuẩn này là đặc trưng cho tư duy theo mẫu hình mới trong
tất cả mọi khoa học, nhưng như đã nói trong lời cuối của
Đạo của vật lý, tôi sẽ minh họa chúng với các thí dụ
của ngành vật lý, và tôi sẽ nhắc lại ngắn gọn chúng
được phản ánh trong các truyền thống đạo học phương
Đông như thế nào.
Trước
khi đi vào thảo luận sáu tiêu chuẩn, tôi xin nhắc lại với
lòng biết ơn sâu xa món nợ của tôi đối với hai nhà vật
lý xuất chúng, hai vị đó để lại nơi tôi nguồn cảm hứng
chủ yếu và đã ảnh hưởng quyết định lên tư duy khoa học
của tôi: Werner Heisenberg và Geoffrey Chew. Tác phẩm của Heisenberg
Physics and Philosophy, thành tựu cổ điển của ông về lịch
sử và triết học và triết học của vật lý lượng tử,
đã tạo ảnh hưởng to lớn khi tôi còn là sinh viên bắt đầu
đọc cuốn đó. Cuốn sách này trở thành bạn đồng hành
của tôi suốt thời gian học tập và công tác với tư cách
nhà vật lý, và hôm nay tôi thấy chính Heisenberg đã gieo những
hạt giống cho Đạo của vật lý. Tôi có may mắn được gặp
Heisenberg trong đầu những năm bảy mươi. Tôi đã có những
cuộc thảo luận dài với ông và khi tôi hoàn tất Đạo của
vật lý , tôi cùng ông dò suốt lại bản thảo, từng chương.
Chính sự hỗ trợ và cảm hứng của cá nhân Heisenberg đã
cùng tôi đi hết những năm tháng khó khăn; những lúc cô đơn
không ai ủng hộ khi tôi phát triển và trình bày một ý niệm
hoàn toàn mới.
Geoffrey
Chew thuộc về một thế hệ khác với Heisenberg và với các
nhà sáng lập lớn khác của ngành vật lý lượng tử, và
tôi không nghi ngờ gì các nhà lịch sử tương lai của khoa
học sẽ đánh giá sự cống hiến của ông cho nền vật lý
của thế kỷ 20 cũng xuất sắc như các vị kia. Nếu Einstein
làm cuộc cách mạng cho tư tưởng khoa học với thuyết tương
đối, còn Bohr và Heisenberg với giải thích về cơ học lượng
tử đã mang lại những thay đổi đảo lộn mà bản thân Einstein
cũng từ chối không chấp nhận, thì Chew đã làm bước cách
mạng thứ ba trong nền vật lý thế kỷ 20. Thuyết Bootstrap
(Dung thông) của ông về hạt đã thống nhất cơ học lượng
tử và thuyết tương đối trong một thuyết, thuyết này tiêu
biểu sự từ bỏ quyết liệt cách tiếp cận của phương
Tây về khoa học cơ bản.
Tôi
bị lý thuyết và triết học của Chew thu hút mãnh liệt kể
từ ngày tôi gặp ông cách đây hai mươi năm và tôi có hân
hạnh được cộng tác chặt chẽ và liên tục trao đổi tư
tưởng với ông. Những cuộc thảo luận thường xuyên này
là suối nguồn của sự cảm hứng liên tục và đã hình thành
một cách quyết định toàn bộ quan điểm khoa học của tôi.
NHỮNG
MẪU HÌNH MỚI TRONG TƯ DUY KHOA HỌC
Bây
giờ tôi xin phép trở lại sáu tiêu chuẩn về những mẫu
hình tư duy mới trong tư duy khoa học.
Tiêu
chuẩn thứ nhất nói đến mối quan hệ giữa cái riêng
biệt và cái toàn thể. Trong mẫu hình khoa học có tính cơ
khí cổ điển, người ta tin rằng sự vận động của mỗi
hệ thống phức tạp có thể được hiểu thông qua tính chất
của từng thành phần riêng biệt. Một khi ta biết các thành
phần riêng biệt - tính chất cơ bản của chúng và cơ chế
tương tác của chúng - ta có thể suy ra, ít nhất về mặt
nguyên lý, sự vận động của cái toàn thể. Vì thế nguyên
tắc là nhằm tìm hiểu mọi hệ thống phức tạp, ta phá vỡ
nó ra từng mảnh nhỏ. Bản thân các mảnh này không được
dùng để giải thích gì thêm, trừ phi ta lại bẻ nhỏ chúng
ra những mảnh nhỏ hơn. Cứ tiếp tục mãi trong quá trình
này, ta luôn luôn sẽ đến một chỗ dừng, đó là tại một
nơi mà ta có những hạt cơ bản xây dựng nên hệ thống:
những yếu tố, những chất liệu, những hạt, và vân vân
- với những tính chất mà ta không giải thích được nữa.
Từ những đơn vị cơ bản này với những qui luật căn bản
hay sự tương tác của chúng, ta sẽ xây dựng lại một toàn
thể to lớn và tìm cách giải thích sự vận động của nó
bằng tính chất của các thành phần riêng biệt. Cách này
đã khởi đầu với Democritus trong thời thượng cổ Hy Lạp;
đó là tiến trình đã được thành hình với Descartes và Newton,
và đó la cách nhìn khoa học được thừa nhận đến thế
kỷ 20.
Trong
mẫu hình mới, mối liên hệ giữa cái toàn thể và cái riêng
biệt đối xứng hơn nhiều. Ta tin rằng, trong lúc tính chất
của cái riêng biệt dĩ nhiên giúp cho sự hiểu biết về cái
toàn thể, đồng thời tính chất của cái riêng biệt cũng
chỉ có thể được hiểu hết thông qua sự vận động của
cái toàn thể. Cái toàn thể là chủ đạo, và một khi ta hiểu
sự vận hành của cái toàn thể thì ta có thể suy ra, ít nhất
trên mặt nguyên tắc, tính chất và cấu trúc tương tác của
các thành phần riêng biệt. Sự thay đổi này trong mối quan
hệ giữa cái toàn thể và cái riêng biệt xảy ra trong khoa
học trước hết trong ngành vật lý, khi thuyết lượng tử
được phát triển. Trong những năm đó, nhà vật lý phát hiện
ra với sự kinh ngạc lớn lao rằng họ không thể sử dụng
khái niệm của một thành phần - thí dụ một nguyên tử hay
một hạt - trong nghĩa cổ điển. Thành phần riêng biệt không
còn được định nghĩa rõ ràng được nữa. Chúng cho thấy
nhiều tính chất khác nhau, tùy theo khuôn khổ thí nghiệm khác
nhau.
Dần
dần, nhà vật lý nhận ra rằng, thiên nhiên, trong lĩnh vực
nguyên tử, không xuất hiện như một vũ trụ cơ học gồm
có các đơn vị xây dựng cơ bản, mà như một mạng lưới
của các mối liên hệ và rằng, cuối cùng, chẳng có thành
phần riêng tư nào cả trong mạng lưới liên hệ chằng chịt
đó. Cái mà ta gọi là thành phần chỉ là cấu trúc có một
sự ổn định nhất định và gây nơi ta sự chú ý. Heisenberg
là người bị ấn tượng hết sức mạnh về mối quan hệ
mới của cái toàn thể và cái riêng biệt, đến nỗi ông
đặt tên cho tác phẩm tự thuật đời mình là Der Teil und
das Ganze (Cái riêng biệt và cái toàn thể).
Sự
thừa nhận của tính thống nhất và mối liên hệ qua lại
của mọi sự vật và biến cố, sự chứng thực rằng mọi
hiện tượng đều là dạng xuất hiện của một cái nhất
cơ bản, đó cũng là đặc trưng chung quan trọng nhất của
thế giới quan phương Đông. Người ta có thể nói đó là
cái cốt tủy của mọi quan niệm đó. Tất cả mọi sự vật
được xem là liên hệ chằng chịt với nhau, không tách rời
nhau, và chúng đều là cấu trúc của một thể thực tại
cuối cùng.
Tiêu
chuẩn thứ hai của mẫu hình tư duy mới trong khoa học liên
hệ tới sự thay đổi, thay quan niệm về cơ cấu bằng quan
niệm về tiến trình. Trong mẫu hình cũ, người ta nghĩ rằng
có những cấu trúc cơ bản, và rồi có lực và cơ chế thông
qua đó mà lực tác động, rồi vì thế mà sinh ra tiến trình.
Trong mẫu hình mới, ta nghĩ tiến trình là chủ đạo, mỗi
một cấu trúc mà ta quan sát được đều là dạng xuất hiện
của một tiến trình cơ bản.
Tư
duy tiến trình này đi vào vật lý với thuyết tương đối
của Einstein. Sự nhận thức khối lượng là một dạng của
năng lượng đã loại bỏ khái niệm của một chất liệu
vật chất ra khỏi khoa học, và với sự loại bỏ này, nó
không còn là một cấu trúc cơ bản nữa. Các hạt hạ nguyên
tử không phải do bất cứ vật chất nào tạo thành; tất
cả chúng đều là cấu trúc của năng lượng. Thế nhưng,
năng lượng luôn luôn được kết hợp với hoạt động, với
tiến trình, và điều này dẫn đến thực tế là các hạt
hạ nguyên tử đều tự nó là động. Khi quan sát chúng, không
bao giờ ta thấy chất liệu nào cả, cũng không cấu trúc cơ
bản nào cả. Điều ta thấy chỉ là cấu trúc động của
sự biến hóa liên tục từ cái này qua cái khác - một điệu
vũ liên tục của năng lượng.
Tư
duy tiến trình cũng là đặc trưng chủ yếu của truyền thống
đạo học phương Đông. Phần lớn các khái niệm, linh ảnh
và huyền thoại của họ đều chứa thời gian và biến đổi
như là yếu tố cốt tủy. Càng nghiên cứu kinh sách của Ấn
Độ giáo, Phật giáo và Lão giáo, ta càng thấy rõ trong tất
cả giáo pháp đó, thế giới được nhận thức trong sự vận
động, trôi chảy, và biến đổi. Rõ ràng là hình ảnh của
điệu múa vũ trụ của Shiva, trong đó mọi sắc thể đều
liên tục hình thành và biến hoại, đã mở cho tôi cặp mắt
để thấy những tương đồng giữa vật lý hiện đại và
đạo học phương Đông.
Trong
vật lý hiện đại, hình ảnh vũ trụ như một bộ máy đã
được thay thế bằng một cái toàn thể liên hệ chằng chịt
lẫn nhau, trong đó các thành phần riêng biệt chủ yếu phụ
thuộc lẫn nhau và cần phải được hiểu như những câú
trúc của một tiến trình vũ trụ. Nhằm định nghĩa một
vật thể trong mạng lưới đầy những liên hệ này, ta cắt
rời một số liên hệ đó - một cách khái niệm, cũng như
xem nó có một cách vật lý với thiết bị đo lường của
chúng ta - và với cách đó ta cô lập một số cấu trúc và
xem chúng là vật thể. Nhiều quan sát viên có thể làm nhiều
cách khác nhau. Thí dụ khi ta xác định một electron, ta có
thể cắt vài mối liên hệ của nó với thế giới còn lại
bằng cách sử dụng nhiều phương pháp quan sát khác nhau. Vì
thế mà electron có thể xuất hiện như một hạt, và nó có
thể xuất hiện như một sóng. Điều ta thấy tùy thuộc nơi
ta nhìn nó như thế nào.
Heisenberg
chính là người đã mang vai trò hệ trọng của quan sát viên
vào trong vật lý lượng tử. Theo Heisenberg, ta không bao giờ
có thể nói về thiên nhiên mà không đồng thời nói về chính
ta. Và đó sẽ là tiêu chuẩn thứ ba của tôi trong mẫu hình
tư duy mới của khoa học. Tôi nghĩ rằng điều này có giá
trị cho mọi khoa học hiện đại, và tôi muốn gọi nó là
sự biến đổi từ khoa học khách quan qua khoa học bị nhận
thức chi phối. Trong mẫu hình cũ, mô tả khoa học được
cho là khách quan, tức là, độc lập với người quan sát và
với quá trình nhận thức. Trong mẫu hình mới, ta tin rằng
Epistemology - tức là khoa học về quá trình nhận thức - phải
được đưa hẳn vào trong sự mô tả hiện tượng thiên nhiên.
Tại điểm này chưa có một sự đồng thuận trong giới khoa
học thế nào là Epistemology đúng nghĩa, nhưng có một sự
đồng ý chung là Epistemology phải là một phần hội nhập
trong mọi lý thuyết khoa học.
Ý
niệm cho rằng tiến trình của nhận thức phải là một phần
khăng khít của con người về thực tại thì mỗi học trò
của đạo học đều biết rõ.
Nhận
thức tâm linh không bao giờ được đạt tới bằng loại quan
sát khách quan, cách ly; luôn luôn nó đòi hỏi sự tham gia hoàn
toàn của toàn bộ hành giả. Thực tế là, đạo học đi xa
hơn nhiều so với quan điểm của Heisenberg. Trong vật lý lượng
tử, người quan sát và vật bị quan sát không thể chia cắt,
nhưng hai cái đó tiếp tục bị phân biệt. Còn đạo học,
trong sự thiền định sâu xa thì sự phân biệt giữa người
quan sát và vật bị quan sát hoàn toàn xóa nhòa, trong đó người
và vật hòa nhập làm một.
Tiêu
chuẩn thứ tư của mẫu hình tư duy mới, có thể là sâu sắc
nhất trong tất cả và là khó chấp nhận nhất đối với
nhà khoa học. Nó liên quan đến hình dung xưa cũ về nhận
thức, xem nhận thức là một tòa kiến trúc. Nhà khoa học
hay nói về những định luật căn bản, hay nói về nền tảng,
hay cơ sở của một tòa kiến trúc của nhận thức. Kiến
thức phải được xây dựng trên nền tảng vững vàng; có
những hạt chất liệu cơ bản của vật chất; có những phương
trình cơ bản, những hằng số cơ bản, những nguyên lý cơ
bản. Hình tượng nhận thức là một toà kiến trúc với một
nền tảng chắc chắn đã được sử dụng suốt trong nền
khoa học và triết lý phương Tây từ mấy ngàn năm nay.
Tuy
thế, nền tảng của nhận thức khoa học, không phải luôn
luôn vững chắc. Chúng liên tục bị dời đổi và nhiều lần
đã hoàn toàn bị đảo lộn. Bất cứ lúc nào mà một cuộc
cách mạng khoa học quan trọng xảy ra, người ta đều cảm
thấy nền tảng khoa học bị lay chuyển. Như Descartes viết
trong tác phẩm nổi tiếng Discourse on Method (Thảo kuận về
phương pháp) trong thời đại của ông: “Tôi nhận thấy rằng
chẳng có gì chắc chắn để có thể xây dựng trên đó với
nền tảng cứ bị thay đổi luôn thế này”. Sau đó Descartes
đã xây dựng nên một nền khoa học mới trên nền tảng chắc
chắn, nhưng ba trăm năm sau, Einstein trong tác phẩm tự thuật
đời mình, đã viết những dòng sau đây về phát triển của
vật lý lượng tử: “Hầu như đất dưới chân tôi bị sụt
lở, không ở đâu còn thấy một nền tảng vững chắc nữa,
mà trên đó người ta có thể xây dựng một điều gì”.
Lặp
đi lặp lại suốt cả lịch sử khoa học, ta luôn luôn thấy
nền tảng của nhận thức bị dời đổi, thậm chí bị nghiền
nát. Mẫu hình này lại cho khoa học nhớ tới cảm giác như
thế, nhưng có thể lần này là lần cuối; không phải là
vì không có tiến bộ hay không có thay đổi nữa, mà vì sẽ
không có nền tảng nào cả trong tương lai. Có lẽ chúng ta
sẽ không thấy cần thiết, trong khoa học tương lai, phải
xây dựng nhận thức của mình trên một nền tảng chắc chắn,
và ta có thể thay thế hình ảnh của một tòa kiến trúc bằng
hình ảnh của một mạng lưới. Cũng chính vì nếu nhìn thực
tại quanh ta như một mạng lưới đầy mối liên hệ, thì
sự mô tả - hay khái niệm, mô hình, lý thuyết - của ta cũng
tạo thành một mạng lưới trình bày các hiện tượng được
quan sát. Trong một mạng lưới như thế, không có cái gì là
chủ yếu hay thứ yếu, và không có cái gì là cơ bản cả.
Hình
ảnh mới về nhận thức như một mạng lưới, vắng bóng
nền tảng là hết sức khó chịu đối với nhà khoa học.
Nó được Geoffrey Chew là người đầu tiên nêu ra cách đây
ba mươi năm trong thuyết Bootstrap (Dung thông) về hạt.
Theo
thuyết Dung thông, thiên nhiên không thể được qui lại trên
vài đơn vị cơ bản, như những hạt cơ bản vật chất, mà
nó phải được hiểu một cách toàn bộ thông qua sự tự
dung thông, sự tự tương thích. Sự vật hiện hữu thông qua
mối liên hệ tương thích lẫn nhau giữa chúng, và tất cả
mọi ngành vật lý chỉ việc tuân thủ đòi hỏi rằng mọi
yếu tố phải tương thích lẫn nhau và với chính bản thân
chúng.
Suốt
ba mươi năm qua, cùng với các cộng sự, Chew đã sử dụng
cách tiếp cận Dung thông để đề ra một lý thuyết phù hợp
về hạt hạ nguyên tử, cùng với một triết lý chung về
thiên nhiên. Triết lý Dung thông này không những khước từ
ý niệm về hạt vật chất cơ bản, mà còn không chấp nhận
bất cứ đơn vị gì là cơ bản - không có hằng số cơ bản,
định luật hay phương trình. Vũ trụ vật chất chỉ được
xem là một mạng lưới động gồm các biến cố tác động
lên nhau. Không có tính chất nào của bất cứ thành phần
riêng biệt nào của mạng lưới là cơ bản; tất cả chúng
đều tuân thủ các tính chất của toàn thể các thành phần
khác, và sự dung thông ăn khớp toàn bộ của những mối liên
hệ chằng chịt của chúng là nhân tố xác định cấu trúc
của toàn mạng lưới.
Theo
ý kiến tôi, việc triết lý Dung thông không chấp nhận đơn
vị cơ bản nào biến nó thành một trong những hệ thống
sâu sắc của tư tưởng phương Tây. Đồng thời, nó xa lạ
với truyền thống tư duy khoa học của ta, nên nó ít được
các nhà vật lý chấp nhận. Tuy thế, sự từ chối chấp nhận
đơn vị cơ bản thật ra là rất chung trong tư tưởng phương
Đông, đặc biệt trong Phật giáo. Thật sự là sự tương
phản giữa nhà Cơ bản và nhà Dung thông trong ngành vật lý
hạt cũng song hành như sự tương phản giữa tư tưởng đang
ngự trị tại phương Tây và phương Đông. Việc qui thiên
nhiên về lại trên các đơn vị cơ sở chủ yếu là dựa
trên cách tiếp cận tư tưởng của Hy lạp, nó sinh ra trong
triết lý Hy Lạp với tính nhị nguyên của vật chất và tinh
thần.Còn cái nhìn vũ trụ như là một mạng lưới đầy liên
hệ, vắng bống đơn vị cơ sở, là đặc trưng của tư tưởng
phương Đông. Người ta tìm thấy sự phát biểu rõ rệt nhất
và luận giải rộng rãi nhất trong Đại thừa Phật giáo,
và hồi tôi viết Đạo của vật lý, tôi đã đưa liên hệ
mật thiết giữa vật lý Dung thông và triết lý đạo Phật
lên đỉnh cao và chung quyết của chúng.
Tiêu
chuẩn thứ tư cho mẫu hình tư duy mới mà tôi trình bày đến
nay là nói tất cả mọi sự đều liên hệ chằng chịt lẫn
nhau. Thiên nhiên được xem là một mạng lưới động gồm
toàn liên hệ móc nối với nhau, nó chứa luôn cả người
quan sát, như thành phần nội tại. Mỗi thành phần riêng biệt
của mạng lưới này đều chỉ là những cấu trúc tương
đối ổn định. Tương tự như thế, hiện tượng thiên nhiên
được mô tả bằng một loạt những khái niệm, trong đó
không thành phần nào là cơ bản hơn thành phần nào.
Khuôn
khổ nhận thức mới này lập tức sinh ra nhiều câu hỏi.
Nếu mỗi sự đều liên hệ đến mọi sự thì làm sao ta có
hy vọng hiểu được sự vật? Vì rốt cuộc mọi hiện tượng
thiên nhiên đều liên hệ lẫn nhau, muốn lý giải mỗi một
sự, ta cần hiểu tất cả mọi sự khác, rõ ràng là điều
không thể có. Điều làm cho lý thuyết Dung thông hay lý thuyết
mạng lưới trở về một lý thuyết khoa học, là biến nó
thành một phương cách nhận thức gần đúng. Nếu ta chấp
nhận một sự nhận thức gần đúng về thiên nhiên, ta có
thể mô tả một nhóm hiện tượng nhất định và bỏ qua
một số hiện tượng khác ít quan trọng. Thế nên ta có thể
giải thích nhiều hiện tượng bằng một ít hiện tượng
khác và hệ quả là hiểu đó là những khía cạnh khác nhau
của thiên nhiên trong cách gần đúng, không nhất thiết phải
hiểu mọi sự tức khắc.
Quan
niệm này là then chốt của tất cả mọi khoa học và đại
diện tiêu chuẩn thứ năm của tôi: sự chuyển dịch từ mô
tả chính xác qua mô tả gần đúng. Mẫu hình Cartesian được
đặt trên lòng tin nơi tính chính xác của nhận thức khoa
học, điều này đã được Descartes phát biểu. Trong mẫu hình
mới, ta nhận định rằng tất cả mọi lý thuyết và phương
thức khoa học đều hạn chế và chỉ là gần đúng. Khoa học
không bao giờ cung cấp sự hiểu ngộ toàn triệt và dứt khoát
cả. Nhà khoa học không làm việc với sự thực ( hiểu theo
nghĩa của mối liên hệ chính xác giữa sự mô tả và hiện
tượng được mô tả); họ chỉ làm việc với sự mô tả
thực tại hạn chế và gần đúng. Phát biểu đẹp nhất cho
tiêu chuẩn này mà tôi tìm thấy là của Louis Pasteur: “Khoa
học tiến lên bằng các câu trả lời cho một loạt các câu
hỏi ngày càng tinh tế, chúng đạt ngày càng sâu sắc đến
cốt tủy của hiện tượng thiên nhiên
Một
lần nữa, thật thú vị khi so sánh thái độ của khoa học
hiện đại với thái độ của đạo học và ở đây, ta thấy
một trong những khác biệt nổi bật giữa khoa học và đạo
học. Nói chung đạo học không quan tâm đến nhận thức gần
đúng. Họ quan tâm đến nhận thức tuyệt đối để hiểu
về tính toàn thể của sự hiện hữu. Biết rõ mối liên
hệ then chốt của mọi khía cạnh trong vũ trụ, họ thấy
rằng muốn lý giải một thứ thì rốt cuộc phải chỉ ra
nó liên hệ với mọi cái khác như thế nào. Vì điều đó
không thể, thường nhà đạo học chỉ quả quyết rằng không
sự vật riêng lẻ nào có thể giải thích trọn vẹn. Phần
đông họ không lý giải sự vật mà coi trọng sự thực chứng
trực tiếp, phi suy luận về tính nhất thể của vạn sự.
Cuối
cùng, tiêu chuẩn cuối của tôi, không nói lên một quan sát
mà là một biện hộ. Tôi tin rằng, trước sự đe dọa của
thảm họa hạt nhân và sự tàn phá môi trường, con người
chỉ có thể sống còn nếu ta biết thay đổi một cách triệt
để phương pháp và giá trị làm nền tảng cho khoa học và
kỹ thuật của chúng ta.Với tiêu chuẩn cuối này tôi muốn
biện hộ cho việc dời chuyển từ thái độ ngự trị và
kiểm soát thiên nhiên, trong đó có con người, đến một thái
độ hợp tác và bất bạo động.
Khoa
học kỹ thuật của chúng ta dựa trên lòng tin rằng hiểu
được thiên nhiên tức là thiên nhiên bị đàn ông ngự trị.
Tôi dùng chữ đàn ông ở đây có mục đích, vì tôi đang
nói tới một mối liên hệ rất quan trọng giữa thế giới
quan cơ học trong khoa học và hệ thống giá trị gia trưởng,
của khuynh hướng nam tính muốn điều khiển mọi thứ. Trong
lịch sử của khoa học và triết học phương Tây, mối liên
hệ này thân thiện với Francis Bacon, vào thế kỷ 17, là người
đã biện hộ cho phương pháp của khoa học thực nghiệm, bằng
những từ say sưa hằn học. Thiên nhiên phải bị “săn lùng
khi nó biến đổi”, Bacon viết, “bị trói vào việc phục
dịch” và biến thành nô lệ”. Nó phải bị “chèn ép”
và mục đích của nhà khoa học là “tra cho ra những bí ẩn
của nó”. Hình ảnh kinh hoàng khi thiên nhiên phải bị tra
tìm cho ra bằng các phương tiện cơ giới thật hết sức giống
như sự tra tấn phụ nữ của tòa án vào thế kỷ 17, điều
này rất quen thuộc với Bacon, ông là Tổng công tố viên của
vua James I. ở đây, ta thấy mối liên hệ then chốt và đáng
sợ giữa khoa học cơ giới và giá trị gia trưởng,nó cũng
có tác động to lớn lên những phát triển sau đó của khoa
học và kỹ thuật.
Trong
thời kỳ trước thế kỷ 17, mục đích của khoa học là sự
minh triết, sự tìm hiểu qui luật thiên nhiên, và hòa điệu
với nó. Đến thế kỷ 17, thái độ sinh thái này đã biến
thành ngược lại. Kể từ lúc Bacon xem mục đích khoa học
là để chế ngự và điều khiển thiên nhiên, ngày nay cả
khoa học lẫn kỹ thuật đều chủ yếu được dùng để phục
vụ những mục đích nguy hiểm, tai hại và chống sinh thái.
Sự
thay đổi thế giới quan đang diễn ra sẽ chứa đựng một
sự thay đổi sâu sắc về giá trị; thực tế là sự thay
đổi từ tâm can - từ ý định ngự trị và điều khiển
thiên nhiên đến một thái độ hợp tác và bất bạo động.
Thái độ như thế có tính sinh thái sâu xa và không hề đáng
ngạc nhiên, đó cũng là thái độ đặc trưng của các truyền
thống tâm linh.Các nhà minh triết ngày xưa của Trung quốc
đã diễn tả điều này thật tuyệt vời: “Ai thuận theo
lẽ trời, kẻ đó hoà mình trong dòng chảy của Đạo”.
Phê
Bình về Đạo của Vật Lý
Bây
giờ tôi xin nói đến các phê bình về Đạo của vật lý
đã phát sinh trong những năm qua. Một câu hỏi hay đặt ra
cho tôi là các đồng nghiệp trong cộng đồng vật lý chấp
nhận thế nào các luận điểm chính của tôi?
Như
đã tiên đoán, trước hết phần lớn các nhà vật lý đều
rất nghi ngờ và thậm chí nhiều người cảm giác bị cuốn
sách đe dọa. Những kẻ có cảm giác bị cuốn sách đe dọa
đã phản ứng với sự bực dọc thông thường. Họ lăng mạ
và thường phê bình hằn học không giấu giếm, trong sách
báo hay trong thảo luận riêng, chúng chỉ phản ánh chính sự
dao động của họ.
Những
lý do mà Đạo của vật lý có khi bị cảm nhận như sự đe
dọa nằm nơi sự hiểu sai phổ biến về tính chất đạo
học. Trong cộng đồng khoa học, đạo học thường được
nghĩ là một cái gì mơ hồ, ù mờ, tối tăm và hết sức
phi khoa học. Khi thấy một lý thuyết đáng yêu của mình bị
so sánh với hoạt động mơ hồ tối tăm đó, nhiều nhà vật
lý cảm thấy bị đe dọa rất nhiều.
Cái
nhìn sai lầm này về đạo học thật sự là rất đáng tiếc,
vì nếu ta đọc những kinh sách cổ điển của các truyền
thống đạo học, ta sẽ thấy những chứng thực tâm linh sâu
xa không bao giờ được mô tả một cách mơ hồ tối tăm,
mà ngược lại, nó luôn luôn liên hệ với sự sáng sủa.
Hình tượng tiêu biểu mô tả thực chứng này có thể là
dứt bỏ vô minh, cắt bỏ ảo giác, tâm thức sáng tỏ, nhận
thức ánh sáng, hoàn toàn tỉnh giác - tất cả những cái đó
nói về sự sáng tỏ. Thực chứng tâm linh lại đi ra khỏi
mức độ suy luận trí thức, nên sự sáng tỏ là một thể
loại khác, nhưng nó không có gì là mơ hồ hay tối tăm cả
về các thực chứng này. Thực tế là từ giác ngộ mà chúng
ta dùng để mô tả thời kỳ của Cartesi mới, thời kỳ tiếp
cận khoa học ở châu Âu vào thế kỷ 18, là một trong những
từ cổ nhất và được sử dụng rộng nhất để mô tả
thực chứng tâm linh.
May
mắn thay, ý niệm sai lầm về đạo học với những điều
mơ hồ và thiếu rõ ràng đó ngày nay đã thay đổi. Vì một
số lớn người bắt đầu quan tâm đến tư tưởng phương
Đông và thiền định không còn được xem là đáng chê cười
hay nghi ngại, đạo học đã được coi trọng hơn trước nhiều,
ngay cả trong cộng đồng khoa học.
Hãy
cho tôi điểm lại những phê bình chung nhất về Đạo của
vật lý, những điều mà tôi luôn luôn phải đương đầu
trong suốt mười lăm năm qua. Trước hết, phải nói rằng
tôi rất vui mừng thấy trong bài phê bình mà tôi nhận được
từ các đồng nghiệp vật lý, không có trong đó tìm thấy
sơ suất gì trong các trình bày về vật lý hiện đại. Có
vài người không nhất trí với tôi khi nhấn mạnh vài chỗ
trong sự phát triển hiện nay, nhưng tới nay không ai thấy
có sai lầm về nội dung chuyên môn trong Đạo của vật lý.
Thế nên phần này đã đứng vững từ mười lăm năm qua.
Có
hai luận cứ mà tôi nghe nhiều hơn cả về luận điểm cơ
bản của mình. Luận cứ thứ nhất nói rằng thực tế khoa
học của ngày hôm nay sẽ bị sự nghiên cứu của ngày mai
phá bỏ. Lời phê bình đó đặt câu hỏi, thế thì một sự
việc bị tạm thời như thế, là mô hình hay lý thuyết trong
vật lý hiện đại có thể so sánh được với chứng nghiệm
tâm linh, nó được xem là phi thời gian và vĩnh cửu? Phải
chăng những sự thật của đạo học sẽ đứng vững hay ngã
đổ với những lý thuyết của vật lý hiện đại?
Luận
cứ này nghe rất thuyết phục, nhưng nó xuất phát từ sự
hiểu sai về tính chất của nghiên cứu khoa học. Luận cứ
này đúng ở chỗ không có sự thực tuyệt đối trong khoa
học. Bất cứ điều gì nhà khoa học nói ra đều được thể
hiện bởi những mô tả giới hạn và gần đúng, và sự mô
tả gần đúng này sẽ được tốt hơn với mỗi sự phát
triển từng phần từng bước.Thế nhưng, khi lý thuyết hay
mô hình được cải tiến trong mỗi bước, thì nhận thức
không phải bị thay đổi một cách tùy tiện. Mỗi thuyết
mới đều liên hệ với thuyết trước nó một cách rõ ràng,
mặc dù trong một cuộc cách mạng khoa học, điều này có
thể bất định trong một thời gian dài. Thuyết mới không
loại bỏ thuyết cũ một cách tuyệt đối, nó chỉ là sự
tiếp cận tốt hơn. Thí dụ cơ học lượng tử không hề
cho cơ học Newton là sai trái, nó chỉ cho thấy vật lý Newton
có hạn chế.
Bây
giờ ta cần chú thích thêm là khi một lý thuyết trong một
lĩnh vực mới được đề ra, khi khoa học cũ được cải
tiến bởi thuyết mới, không phải tất cả khái niệm của
cái cũ bị từ bỏ. Và tôi tin, những khái niệm nào trong
lý thuyết hiện nay của chúng ta không bị đào thải và tồn
tại, đó là những khái niệm gắn chặt với các truyền thống
đạo học.
Tôi
có thể nói biến cố này trong vật lý Newton. Một trong những
phát hiện then chốt của Newton, có thể là cái then chốt nhất
và cái nổi tiếng nhất, đó là sự khám phá có một thứ
bậc chung trong vũ trụ. Tương truyền rằng, Newton nhận thấy
trong tia chớp của trực giác, khi một trái táo rơi từ cành
xuống đất, thì lực đã lôi trái táo xuống đất cũng chính
là lực lôi kéo các hành tinh quay quanh mặt trời. Đó là điểm
xuất phát của thuyết Newton về lực trọng trường và cái
nhìn này - có một thứ bậc nhất thể trong vũ trụ - cũng
không hề bị cơ học lượng tử hay thuyết tương đối phê
phán. Ngược lại, nó được xác nhận và thậm chí được
đề cao trong những thuyết mới.
Tương
tự như thế, tôi tin rằng tính nhất thể cơ bản và tính
liên hệ phức tạp của vũ trụ cũng như nguyên lý động
nội tại của những hiện tượng tự nhiên - hai luận điểm
lớn của vật lý hiện đại - sẽ không bị các nghiên cứu
tương lai làm thương tổn. Chúng có thể được phát biểu
lại, và nhiều khái niệm ngày nay sẽ bị thay thế bởi một
loạt những khái niệm của tương lai. Thế nhưng sự thay thế
này sẽ xảy ra một cách thứ tự và những luận điểm căn
bản mà tôi dùng trong sự so sánh với các truyền thống đạo
học sẽ được tăng cường, chứ không bị suy giảm, tôi
tin thế. Niềm tin này đã được xác định, không phải chỉ
bởi những tiến bộ trong vật lý, mà bởi những phát triển
nổi bật trong sinh vật học và tâm lý học.
Loại
phê bình thứ hai mà tôi được nghe nhiều lần, lý luận rằng
nhà vật lý và nhà đạo học nói về hai thế giới khac nhau.
Nhà vật lý làm việc với một thực tại lượng tử, nó
hầu như hoàn toàn vô nghĩa với thế giới bình thường, với
hiện tượng hàng ngày, trong lúc đó, đạo học làm việc
chính xác với hiện tượng vĩ mô, với sự vật của thế
giới thông thường, nó hầu như không có gì liên quan đến
thế giới lượng tử.
Trước
hết, người ta cần thừa nhận rằng thực tại lượng tử
không hề xa rời hiện tượng vĩ mô. Thí dụ, một trong những
hiện tượng vật lý quan trọng của thế giới thông thường,
tính cứng chắc của vật chất, là một hệ quả trực tiếp
của hiệu ứng lượng tử nhất định. Vì thế ta cần sửa
lại lý luận này và nói rằng nhà đạo học không chủ ý
làm việc với thực tại lượng tử, còn nhà vật lý thì
có.
Bây
giờ, nói về khái niệm của hai thế giới khác nhau, cái nhìn
của tôi là chỉ có một thế giới duy nhất - thế giới đáng
kính sợ và bí ẩn này, nói như Carlos Castaneda - nhưng thực
tại duy nhất này có nhiều khía cạnh, nhiều chiều hướng,
nhiều mức độ. Nhà vật lý và nhà đạo học làm việc với
khía cạnh khác nhau của thực tại. Nhà vật lý khai phá tầng
mức của vật chất, nhà đạo học khai phá tầng mức của
tâm linh. Điều mà hai loại khám phá có chung là, hai tầm mức
đó đều nằm ngoài cảm quan thông thường.
Thế
nên ta có nhà vật lý dò tìm trong vật chất với sự giúp
sức của những thiết bị tinh xảo và nhà đạo học dò tìm
trong ý thức với sự giúp sức của phương pháp thiền định
tinh tế. Cả hai đều đạt tới tầng mức không thông thường
của nhận thức, và tại tầng mức không thông thường này
thì những cấu trúc và nguyên lý của sự tổ chức xem ra
hết sức tương tự. Cách thế mà cấu trúc vi mô liên hệ
với nhau đối với nhà vật lý, phản ánh đùng cách thế
mà các cấu trúc vĩ mô liên hệ với nhau đối với nha đạo
học. Và khi ta cô lập những cấu trúc vĩ mô đó trong cách
thế nhận thức thông thường thì ta nhận ra chúng là vật
thể thông thường, cách ly.
Một
loại phê bình khác, hay được nêu lên, nhất trí là nhà vật
lý và đạo học hướng đến những tầng mức khác nhau của
thực tại. Tầng mức của đạo học cao hơn, là thực tại
tâm linh, nó chứa đựng thực tại thấp hơn là hiện tượng
vật lý, trong lúc thực tại vật lý không chứa tâm linh.
Trước
hết tôi xin nói rằng, nói một thực tại này cao hơn hay thực
tại kia thấp hơn, là một tàn dư của mẫu hình tư duy cũ
- lại nhắc tới hình ảnh của tòa kiến trúc, chứ không
nói về mạng lưới. Tuy nhiên tôi đồng ý là nhà vật lý
không nói được gì về các tầng mức khác nhau, hay chiều
hướng hay thực tại khác - đời sống, tinh thần, ý thức,
tâm linh, vân vân. Đối với vật lý, không có gì để nói
về những tầng mức của nó, nhưng khoa học thì rất có thể.
Tôi
đã đến chỗ tin rằng mẫu hình mới cho khoa học, mà tôi
đã đề xuất sáu tiêu chuẩn, đã tìm thấy sự phát biểu
phù hợp nhất trong lý thuyết mới về đời sống, những
hệ thống tự tổ chức vận hành, chúng đã xuất hiện trong
ngành Cybernetics (điều khiển học) trong những thập niên qua.
Ilya Priogine, Gregory Batetson, Humberto Maturana, và Francisco Varela
là một số những người đầu tiên đóng góp cho thuyết này.
Đó là một thuyết có thể áp dụng cho mỗi quá trình phát
triển hữu cơ cá thể, hệ thống xã hội, và hệ thống sinh
thái; và chúng hứa hẹn đưa đến một quan niệm thống nhất
về đời sống, tinh thần, vật chất và tiến hóa. Cách tiếp
cận này xác nhận sự tương đồng giữa vật lý và đạo
học và cộng thêm nhiều cái khác nằm ngoài phạm vi vật
lý: quan niệm về ý chí tự do, quan niệm về sống chết,
tự tính của ý thức, vân vân. Đó là một sự hòa điệu
sâu sắc giữa khái niệm, chúng được phát biểu trong một
hệ thống tự tổ chức vận hành và các khái niệm liên hệ
trong các truyền thống đạo học.
SỰ
PHÁT TRIỂN HIỆN NAY VÀ KHẢ NĂNG CỦA TƯƠNG LAI
Điều
vừa đề cập dẫn tôi nói về sự phát triển hiện nay và
khả năng trong tương lai về sự phát biểu của những mẫu
hình của khoa học mới. Từ khi viết Đạo của vật lý, tôi
đã có những thay đổi quan trọng về nhận thức khi nói về
vai trò của vật lý trong sự phát triển này. Lúc bắt đầu
nghiên cứu sự chuyển dịch của mẫu hình trong nhiều loại
hình khoa học, tôi nhận ra tất cả chúng đều xuất phát
từ thế giới quan cơ học của vật lý Newton, và tôi thấy
vật lý mới là mô hình lý tưởng cho những khái niệm và
cách tiếp cận mới trong loại hình khác. Trong thời gian qua,
tôi đã nhận định rằng một quan điểm như thế có nghĩa
là tầng mức của vật lý là cơ bản hơn mọi thứ khác.
Ngày nay tôi xem nền vật lý mới, đặc biệt là thuyết Dung
thông (Bootstrap) chỉ là trường hợp đặc biệt của một
phương cách tiếp cận, khi ta làm việc với hệ thống.
Vì
thế, sự hoàn chỉnh các luận điểm mà tôi nêu ra trong Đạo
của vật lý không phải nặng trong các phát hiện tiếp
theo về sự tương đồng giữa vật lý và đạo học, mà chính
là sự mở rộng trong các ngành khoa học khác. Thật ra điều
này đã được thực hiện, và tôi xin lướt qua vài tác phẩm
đó. Về mối tương đồng giữa đạo học và khoa học tư
duy, tác giả tốt nhất mà tôi biết là Francisco Varela, một
trong những người đi đầu của thuyết tự tổ chức vận
hành. Verala với Evan Thompson, đang viết một cuốn sách về
sự tham dự của lý thuyết tâm thức Phật giáo trong nhận
thức khoa học. Trong thời gian qua, cuốn sách của ông The Tree
of Knowledge (cây nhận thức), đồng tác giả với Humberto Maturana,
là suối nguồn quan trọng của ý niệm này.
Trong
tâm lý học, nhiều tác phẩm đã được hoàn thành để khai
phá chiều kích tâm linh của tâm lý học và phép chữa bệnh
tâm lý. Có một ngành đặc biệt, tâm lý chung của con người,
chỉ cống hiến cho mục đích này. Stanilav Grof, Ken Wilber, Frances
Vaughan và nhiều người khác đã xuất bản sách vở về đề
tài này, nhiều người trong đó bắt đầu với Đạo của
vật lý, và trở về lại với Carl Gustav Jung.
Trong
ngành khoa học xã hội, phương hướng tâm linh xuất hiện
với tác phẩm của E.F. Schumacher, Buddhist Economics, lần đầu
xuất bản vào cuối những năm sáu mươi và từ đó được
tìm hiểu trong nhiều nhóm khác nhau và trong các hệ thống
mới, cả lý thuyết lẫn thực hành. Liên hệ chặt chẽ với
phong trào này là một dạng chính sách sinh thái mới, được
gọi là chính sách Green (xanh), đó là nơi mà tôi xem là biểu
hiện chính trị của sự biến dịch của mẫu hình văn hóa
mới. Khía cạnh tâm linh của các phong trào chính trị này
đã được thảo luận bởi bà Charlene Spretnak trong tác phẩm
The Spiritual Dimension of Green Politics (Chiều kích tâm linh của
Chính