Chương
2: Xây Dựng Bản Thân
Con
Người Và Xã Hội
Con
người nếu bị hoàn cảnh sai sử và lôi kéo hoàn toàn thì
không còn có khả năng chủ động được tình trạng và cải
tạo được xã hội. Đã đành con người chịu ảnh hưởng
những điều kiện kinh tế, chính trị và văn hóa của xã
hội, nhưng nếu con người chỉ là cái nút chai cá nhân trôi
nổi bồng bềnh trên sóng nước xã hội, thì giá trị quyết
định của con người không còn nữa. Con người đã trở
nên nạn nhân yếu đuối. Do đó, con người phải phục
hồi được sức mạnh tâm linh và tự chủ của mình bằng
phương pháp tu dưỡng. Hình ảnh con người hoàn toàn
bị xã hội lôi kéo cũng giống hình ảnh một người cưỡi
ngựa mà không điều khiển được con ngựa, mặc cho con ngựa
đưa tới đâu thì tới. Trong xã hội ngày nay, khả năng
con người để kiểm soát hoàn cảnh xã hội đã trở nên
mong manh, bởi vì hệ thống kinh tế và chính trị của con
người tạo dựng ra đã trở thành những lực lượng phi nhân
trở lại khống chế con người. Con người đang bị kẹt
nhiều trong hệ thống kinh tế và xã hội hiện tại, đang
cố gắng để vượt thoát với rất nhiều khó khăn.
Người
ta đã đàm luận nhiều về vấn đề bản thân cần phải
được cải tạo trước hay là xã hội cần phải được cải
tạo trước. Theo đạo Phật, con người không thể tách
rời ra khỏi xã hội, nên sự cải tạo phải được thực
hiện song hành. Con người là chính báo (nghĩa là quả
báo chính) và xã hội là y báo (tức là quả báo hoàn cảnh).
Cả hai thứ chính báo và y báo đều thuộc về sự sống của
con người cho nên đều phải được cải tạo song hành.
Vì con người không thể tách rời ra khỏi môi trường xã
hội nên sự tu dưỡng của con người cũng được thực hiện
ngay trong môi trường sinh hoạt xã hội. Sự tu dưỡng
này không thể được thực hiện hoàn toàn trong một môi trường
khép kín. Một con người không có liên hệ với những
con người khác thì không phải là một con người bình thường.
Khi
nói đến sự thay đổi xã hội, chúng ta hay có khuynh hướng
nghĩ ngay đến sự thay đổi hệ thống chính trị, kinh tế
của xã hội mà quên rằng sự tu dưỡng bản thân là một
trong những điều kiện tất yếu của thành công. Tâm
ý của con người đóng một vai trò chủ yếu trong cách mạng,
nhất là đối với những người thuộc giới chủ chốt tiên
phong cho cách mạng. Những ai muốn đổi mới cuộc đời,
xây dựng cho gia đình, cho làng xóm và cho xã hội cần phải
thấy rằng sự tu dưỡng tâm ý là cần thiết bởi vì sự
tu dưỡng này cho ta rất nhiều sức mạnh, nghị lực và nguồn
vui sống, những điều kiện rất thiết yếu của thành công.
Chánh
Niệm
Phải
thực tập chánh niệm: Biết mình đang nghĩ gì, nói gì và
làm gì để có thể chủ động đời sống mình và không bị
lôi kéo bởi hoàn cảnh. Đây là một phương pháp tu tâm
thần diệu của đạo Phật. Phương pháp này không bắt
đầu bằng sự phân biệt những ý niệm thiện ác mà bằng
sự quán sát sự sống của bản thân mình. Có nhiều
người tuy sống mà thật ra không sống, bởi vì họ không
có ý thức về sự sống của họ: Họ ăn, ngủ, làm
việc và giải trí như một bộ máy cho đến khi chết.
Đến lúc sắp lìa đời, nhìn lại họ giật mình thấy như
mình chưa từng sống: Sáu, bảy mươi năm qua vừa qua đi như
một giấc mộng. Bí quyết của phương pháp chính niệm
là Ý THỨC ĐƯỢC RẰNG MÌNH ĐANG SỐNG: Khi đang ăn, mình
biết là mình đang ăn, khi đang ngồi, mình biết là mình đang
ngồi. Nói tóm lại mình phải ý thức được mỗi giây
phút của đời sống mình. Thắp lên ngọn đèn chính
niệm, tự nhiên sự vô tâm quên lãng trở thành ý thức sáng
tỏ và sự chết biến thành sự sống. Nhiều lần trong
một ngày ta tự hỏi mình: Ta là ai, ta đang làm gì, nghĩ gì,
nói gì? Như thế, ta nắm ngay được chủ quyền, không
để cho hoàn cảnh lôi kéo và áp giải ta về thế giới quên
lãng và về cái thế giới của sự chết. Ta sống cuộc
đời của ta. Buổi sáng rửa mặt nhìn vào trong gương,
ta tự nhủ: “Đây là một ngày mới, ta phải sống ngày
hôm nay cho trọn vẹn. Ta phải biết làm thế nào để
sống ngày hôm nay cho an lạc, đừng để cho những tên giặc
cáu kỉnh, tỵ hiềm và hối hả đến quấy phá và cướp
mất hai mươi bốn giờ quý báu của ta”.
Ta
hãy quan sát chú Bảy, một người có học Phật và biết áp
dụng thông minh phương pháp tu dưỡng đạo Phật. Trong
ngày, mỗi khi chú Bảy tự bắt gặp chú đang phiền muộn
hay cáu kỉnh, chú liền tự đánh thức chú dậy. Chú
tự nói: “ Ta đang bị phiền muộn và cáu kỉnh thống trị.
Ta không thể để cho cuộc đời ta bị đục khoét tan nát
bởi những con sâu phiền muộn và cáu kỉnh. Ta phải
sống đời sống của ta một cách an lạc”.
Cố
nhiên chú Bảy biết là những phiền muộn cáu kỉnh và tỵ
hiềm kia mỗi thứ đều có nguyên nhân của chúng. Chú
biết những điều đó đáng giận thật, nhưng chú nhất định
không đem cuộc đời của chú để đánh đổi lấy một chuỗi
phiền muộn. Chú tự nhủ: “Phải sống làm sao như một
trái núi đá; những phiền não kia chỉ có thể như những
đợt sóng biển va chạm và tan vỡ dưới chân núi đá”.
Sự khác nhau giữa người có tu và không tu là ở chỗ đó;
người có tu thì giữ được tâm thanh tịnh và an lạc ngay
trong thế giới dẫy đầy điều bất như ý. Quán sát
những sự việc xảy ra trong ánh sáng duyên khởi, ta sẽ thấy
não phiền dễ tan rã và có thể nhìn cuộc đời với những
con mắt tha thứ và thương yêu. Kinh Pháp Hoa xưng tán
đức bồ tát Quán Thế Âm là người biết nhìn người đời
với những con mắt từ bi (từ nhãn thị chúng sanh). Đó
là vị bồ tát này do quán chiếu cuộc đời trong ánh sáng
duyên khởi cho nên đem lòng thương tất cả mọi loài.
Ta
phải thỉnh thoảng nhìn lại chính ta trong lúc đang nói hay
đang làm một điều gì. Ta hãy quán chiếu bản thân ta
để trước hết là ta thấy ta đang nói điều đó hay đang
làm điều đó. Chỉ từng ấy thôi cũng đủ đưa ta về
chính niệm cho dù trong khi đó nói điều kia ta đã có thể
đi xa chính niệm đến hàng muôn dặm. Ta nên biết rằng
mỗi lần quán chiếu tự thân như thế ta chỉ tiêu xài một
vài giây đồng hồ. Nhưng chính một vài giây đồng hồ
đó có thể thắp lên một mặt trời trong thế giới của
ta và giải phóng ta khỏi thế giới quên lãng bị động có
tính cách mê ám. Mỗi ngày ta có thể dành được bao
nhiêu giây đồng hồ công trình quán chiếu này? Bậc
giác ngộ là người quán chiếu thường xuyên tự tâm mình.
Ta là người quyết tâm học theo các bậc giác ngộ, chẳng
lẽ ta không để dành được vài phút trong một ngày cho công
trình quán chiếu quan trọng ấy sao? Ta nên biết, dù chỉ
có thể tiêu xài vài ba phút trong ngày cho công trình quán chiếu
tự tâm, ta cũng đã làm cho cuộc đời ta sáng rỡ và có ý
nghĩa vạn lần hơn trước.
Trở
lại trường hợp chú Bảy. Mỗi khi chú dùng giây phút
quán chiếu để trở về với chính mình và làm chủ được
tình trạng, chú thường mỉm cười để chứng tỏ sự chiến
thắng để có thêm đức tin ở khả năng mình.
Quán
Chiếu
Ta
nên dành một ít thì giờ trong ngày để tĩnh tâm, thiền tọa,
đối diện với chính mình và cứu xét nguyên lý duyên khởi
trong các sự việc sảy ra hàng ngày. Phải tìm được
giờ yên tĩnh, hoặc ở gia đình, hoặc ở chùa, hoặc trong
công viên, hoặc ngoài đồng ruộng để thực hiện điều
này.
“Tôi
không có thì giờ” mọi người đều nói như thế. Đúng
rồi, buổi sáng thức dậy thì lo đi làm, chiều làm về thì
mệt, ăn cơm xong thì chỉ muốn nghỉ ngơi để sáng mai lại
đi làm. Ai sống trong thời buổi này mà không bận rộn.
Nhưng chính làm thế nào để đừng sống như một bộ máy,
làm thế nào mà có được thì giờ cho chính mình, làm thế
nào để sống đời sống của mình, đó mới là vấn đề
quan trọng.
Buổi
sáng khi múc nước vào chậu rửa mặt, đánh răng, cạo râu,
ta gọi đó là một sự bận bịu sao? Năm hoặc mười
phút đồng hồ ấy có thể đi qua một cách vội vã, hấp
tấp và vụt chạc; năm nay mười phút ấy trái lại, cũng
có thể là năm mười phút thoải mái vui tươi mà ta có thể
sống. Rửa mặt chỉ là để cho sạch mặt mũi mà thôi
sao? Rửa mặt có thể là một lạc thú, một niềm vui
đơn giản và trong lành. Nếu ta dùng năm mười phút ấy
để lo âu, để tính toan công việc trong ngày, thì ta không
được hưởng cái niềm vui đơn giản và trong lành đó.
Ta hãy gạt đi những nỗi lo âu, tính toán kia; cười trong
tấm kính, ta nghĩ đến chậu nước mát, chiếc khăn bông sạch
sẽ, một ngày trọn vẹn sẽ do cách sống của ta mà trở
nên vui tươi… Trong ngày ta CÓ những giờ vui như vậy.
Khi ta tắm hoặc bơi trong giòng sông hoặc xối xuống vai nước
mát lạnh bằng chiếc gáo dừa, ta có thể dùng thì giờ ấy
để tĩnh tâm và quán chiếu. Khi ta đi làm về, từ bến
xe buýt hoặc từ ngoài ruộng vườn đi bộ về nhà, ta có
thể thở không khí trong lành hoặc quán sát sự sống chung
quanh và quán chiếu tâm mình. Nếu có một phòng riêng
trong gia đình thì rất tốt, ta yêu cầu mọi người trong gia
đình cho ta mười lăm phút hoặc nửa giờ an tịnh. Tắm
xong ta thắp một cây nhang cho tinh khiết: Cửa sổ mở ra nếu
bên ngoài không ồn ào lắm. Ta đâu có cần phải bỏ
ra hàng giờ, hàng buổi để tĩnh tâm mà than phiền là quá
bận rộn. Năm phút cũng đã là quý rồi. Cái hay
nhất trong đạo Phật là pháp tĩnh tâm thiền quán: Nếu mình
là Phật tử mà không biết áp dụng những phương pháp này
thì thật là uổng quá, cũng ví như có kho lúa gạo mà không
biết ăn. Có gia tài mà không xài. Phương pháp tĩnh
tâm như thế nào? Ta có thể học tập với những người
bạn đã từng có kinh nghiệm, hoặc với những tăng sĩ có
khả năng. Nếu chưa có ai để học hỏi, thì ta có thể
mô phỏng mà tập theo phương pháp sau đây của chú Bảy, rất
đơn giản mà cũng rất có hiệu quả, trong khi chờ đợi.
Buổi
tối, sau khi tắm, chú Bảy mặc áo quần rộng rãi. Rất
thong thả chú sắp đặt lại căn phòng của chú cho ngăn nắp,
thay nước hoặc cắm lại một bông hoa hay một cành cây trên
bàn Phật, và cuối cùng chú thấp một cây nhang. Từ
khi bắt đầu “công việc” như sắp lại mấy cuốn sách,
cầm chiếc chổi lông phất bụi, chú biết tự nhiếp mình
trong chính niệm, mỗi cử chỉ, mỗi động tác của chú đều
ung dung thư thái và đặt dưới sự kiểm soát từ hòa và
sáng suốt của ý thức. Chú Bảy cảm thấy nhẹ nhàng,
thoải mái và an lạc. Chú nhất định không hấp tấp,
không vụt chạc, bởi vì chú biết rằng mỗi cử chỉ mỗi
cái nhìn, mỗi ý tứ đều là sự tĩnh tâm thiền quán.
Khi cầm một bình hoa, chú ý thức rằng: cắm một bình hoa
không hẳn là để CÓ một bình hoa: cắm một bình hoa là để
cắm một bình hoa; động tác cắm hoa còn quan trọng hơn cả
kết quả của động tác ấy (tức là có một bình hoa đẹp).
CẮM HOA là để quán chiếu tâm mình, là thiền định, là
chính niệm, là sống trọn vẹn giây phút hiện tại.
Trong khi cắm hoa chú Bảy thấy lòng chú thanh tịnh, an lạc,
chú có ý thức rõ ràng rằng chú đang cắm hoa, đang sống
an lành giờ phút chú cắm hoa. Nếu ta làm được như
chú Bảy ta sẽ thấy cử chỉ của ta ung dung, từ hòa, thân
thể ta thư thái và tâm ý ta lâng lâng một niềm vui thanh thoát.
Nghệ thuật cắm hoa và pha trà phát xuất từ thiền viện,
bắt nguồn từ nguyên tắc chính niệm này. Chú Bảy để
ra năm phút để cắm một bình hoa. Phí thì giờ quá,
người ta có thể nghĩ; nhưng đây là thì giờ của ý thức,
của quán niệm, của an lạc, còn quý giá gấp ngàn lần thì
giờ để dành vào việc lo lắng, bực bội và mưu toan.
Cắm
hoa hoặc quét nhà hay xếp lại sách trên bàn thì cũng vậy.
Ta nên thong thả mà làm TRONG TINH THẦN CHÍNH NIỆM. Đó
chính là sự tu tập quan trọng nhất. Trong tu viện thiền,
những khi nấu cơm, rửa chén bát, gánh nước, quét sân…
nhà thiền giả cũng luôn luôn tu tập chính niệm và quán chiếu,
giống như khi chú Bảy cắm hoa vậy.
Sau
khi dọn dẹp căn phòng, đốt một cây nhang, cắm thật thẳng
trong lư hương, chú Bảy thắp một cây đèn cầy (nến) để
cho ánh sáng trở nên dịu dàng hơn và chú tắt đèn điện,
bởi vì đèn điện chói sáng quá. Chú ngồi lại ngay
ngắn trước bàn Phật, trên chiếu, trên ghế, hoặc trên bộ
ván theo kiểu bán già. Thật ra ta ngồi như thế nào cho
thật thoải mái là được, không cần phải ngồi theo kiểu
bán già như chú. Nhưng nếu ta tập ngồi được theo kiểu
bán già thì lại càng hay. Ngồi bán già dễ hơn ngồi
kiết già: Chú Bảy ngồi ngay thẳng, bắp chân trái để trên
bắp chân mặt hoặc bắp chân mặt để trên bắp chân trái.
Hai tay đặt trên bắp chân, chính giữa, lòng tay mặt đặt
trên lòng tay trái. Sống lưng chú thẳng, đầu thẳng,
mắt chú hơi khép nhìn về phía trước chừng hai thước, miệng
chú hơi mỉm cười. Ngồi kiết già thì cũng giống như
bán già. Nhưng bàn chân phải đặt trên bắp chân trái
và bàn chân trái đặt trên bắp chân phải. Ngồi kiết
giả chưa quen thì đau lắm, nhưng quen rồi thì không đau đớn
gì nữa. Ngồi bán già hay kiết già là những thế ngồi
rất vững mạnh; khi ngồi như thế ta thấy tâm hồn ta vững
chãi, tỉnh táo và tinh tiến hơn.
Chú
Bảy bắt đầu tập thở. Chú thở rất nhẹ nhưng sâu.
Tuy thế chú không cố gắng thở căng phổi quá; chú biết
hễ cái gì ráng quá là không tốt. Chú thở vào, thở
ra nhiều lượt, hơi thở nhẹ nhàng, không gây tiếng động,
hơi thở chú trôi theo một giòng dịu êm, không bị đứt khoảng,
giống hệt như một giòng nước chảy trên một đồng bằng
có cát, không phải như một giòng thác róc rách. Trong
khi thở, chú tiếp tục quán chiếu; khi thở vào, chú biết
chú đang thở vào, khi thở ra chú biết chú đang thở ra: Thở
một hồi, chú thấy khoan khoái và thanh tịnh trong người.
Bây
giờ chú Bảy xét những vấn đề liên hệ tới sự sống
hàng ngày, những vấn đề đã làm bận rộn tâm chú.
Giữ tâm thanh thản và duy trì nụ cười hơi chớm còn mãi
trên môi, chú bắt đầu xét các vấn đề này trong ánh sáng
liên hệ duyên sinh. Chú không cho sự bực dọc phát hiện,
bằng cách áp dụng phương pháp giữ hơi thở đều đặn,
và tiếp tục duy trì nụ cười hơi chớm trên môi. Chú
tưởng niệm một câu trong kinh Pháp Hoa, ví dụ câu: “Từ
nhãn thị chúng sanh” đem con mắt thương yêu mà nhìn mọi
người. Vì vô minh, vì thiếu hoàn cảnh giáo dục thuận
lợi, vì những khó khăn của đời sống, người ta đã trở
nên thiếu hiểu biết, thô lỗ, sỗ sàng, tệ bạc như thế…
Chú quán chiếu duyên sinh để tưới thêm gốc từ bi tâm,
và để con mắt tình thương (từ nhãn) của chú không bị
che lấp bởi những tham giận tầm thường. Chú tìm giải
quyết mọi vấn đề trên căn bản từ hòa, thương yêu, bất
bạo động. Chú tìm cho ra lời giải đáp và phương pháp
hành động theo giáo lý đạo Phật. Chỉ có tình thương
mới đối phó được với mọi não phiền.
Nếu
trong nhà, ta không tìm ra được khung cảnh yên tịnh để làm
công việc quán chiếu như chú Bảy thì ta có thể tìm ở chùa,
hoặc một nơi vắng trong công viên, hoặc trong thư viện, hoặc
ngoài đồng ruộng. Tố Nga là một sinh viên Phật Tử.
Vì nhà buôn bán bận rộn, nên nàng thực hành giờ quán chiếu
tĩnh niệm ở thư viện quốc gia.
Thiện
Tri Thức
Ta
cần tìm bạn, tìm thầy để học hỏi thêm về đạo Phật,
và chia xẻ kinh nghiệm về sự áp dụng đạo Phật vào đời
sống. Thầy và bạn là những tăng thượng duyên rất
quý giá, nhờ họ mà ta có thể trao đổi kinh nghiệm, không
những trong sự áp dụng đạo Phật vào đời sống tâm linh
bản thân mà còn trong sự áp dụng đạo Phật vào đời sống
gia đình và xã hội nữa. Chính sự trao đổi kinh nghiệm
quan trọng và cần thiết hơn lý thuyết nhiều, vì vậy ta
đừng nên để hết thì giờ vào sự nghiên tâm lý thuyết,
học hết bộ kinh này rồi đến bộ kinh khác trong khi đó
thì không biết lợi dụng những kinh nghiệm của ta và của
các bạn thiện tri thức của ta để đi sâu vào sự áp dụng
thực hành.
Ông
Tư Siêu tự cho là học rộng, biết nhiều về đạo Phật.
Ông nói ông có thể giảng giải về kinh Viên Giác, Pháp Hoa,
Lăng Nghiêm. Nhưng sự học Phật của ông hình như không
có lợi gì nhiều cho đời sống của ông, bởi vì ông vẫn
bị dằn vặt khổ đau vì tánh tự hào, nóng giận và ganh
tị. Ông không có bạn và chính trong gia đình, bà Tư
và các con ông cũng không ưa ông. Chú Bảy, trái lại,
tuy biết nhiều về Phật học nhưng vẫn luôn luôn tìm cách
gần gũi các bậc thầy và các bạn thiện tri thức để tìm
học thêm và trao đổi kinh nghiệm. Chú Bảy được mọi
người yêu chuộng vì lời chú nói phù hợp với đời sống
của chú: Chú luôn luôn tìm áp dụng đạo Phật vào cuộc
đời một cách tự nhiên, không ồn ào, không khoe khoang.
Bát
Quan Trai
Mỗi
tháng một vài lần chùa tổ chức những kỳ tu Bát Quan Trai
Giới, ta nên tham dự, vì đó là những cơ hội tốt cho ta
tu tập, quán chiếu, học hỏi và trao đổi kinh nghiệm tu tập
với các bạn hữu. BÁT QUAN TRAI GIỚI là một phương
tiện lập ra để giúp người cư sĩ có cơ hội sống hai mươi
bốn tiếng đồng hồ trong chùa theo chính niệm. Bát quan
trai giới còn gọi là BÁT TRAI GIỚI hay BÁT GIỚI TRAI, có nghĩa
là sự chấp tri (nhận giữ) tám quy luật: không giết hại,
không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống
rượu, không dùng hương phấn dầu thơm, không nằm giường
cao rộng êm ái, không ăn uống phi thời. Thêm vào đó,
người hành giả ăn chay nữa, vì vậy tám giới cộng với
trai thực gọi là BÁT TRAI GIỚI. Những giới này giúp
cho ta đóng bớt những cánh cửa phiền não tội lỗi, cho nên
gọi là QUAN. Chữ QUAN trong “Bát quan trai giới” có
nghĩa là cánh cửa.
Muốn
tham dự bát quan trai giới phải xin ghi tên ở chùa, và hỏi
thăm những thông lệ và giờ giấc. Đến giờ đã định,
ta có mặt tại chùa với những dụng cụ cần thiết: bàn
chải đánh răng, khăn lau mặt, xà phòng, áo quần ngủ, một
cái mền (chăn) và một vài cuốn kinh sách. Ta sẽ ngủ
tại chùa, cùng với các bạn khác, có khi đông đến mấy
chục người. Ta sẽ sống hai mươi bốn giờ tại chùa,
tập sống trong chính niệm và quán chiếu, đồng thời có
dịp gặp gỡ các bậc thầy và bạn để trao đổi những
học hỏi và kinh nghiệm. Chúng ta sẽ được hướng dẫn
ngồi thiền, tập thở, quét nhà, cắm hoa, đọc kinh theo tinh
thần chính niệm. Ta có thể học hỏi được rất nhiều
trong mỗi kỳ tu học theo bát trai giới, nếu ta biết xử dụng
đúng hai mươi bốn tiếng đồng hồ dành cho thời gian này.
Ảnh hưởng của hai mươi bốn giờ kia sẽ được lưu lại
sâu đậm trong những ngày còn lại trong tháng do đó ta nên
cố gắng để có thể có thì giờ tham dự bát quan trai giới.
Chú
Bảy thường đi chùa tham dự bát quan trai mỗi tháng.
Tháng rồi chú đã mời được ông Sáu cùng đi. Chú khéo
léo lắm mới thuyết phục được ông Sáu vì ông Sáu cứ
nghĩ mình bận rộn không thể bỏ việc nhà. Ông Sáu
lần đầu tiên tham dự bát quan trai, thấy mình hơi bỡ ngỡ
vụng về; nhưng nhờ có chú Bảy bên cạnh nên ông cũng không
cảm thấy lạc lõng. Ông Sáu công nhận rằng sống hăm
mươi bốn tiếng ở chùa trong tinh thần tự tĩnh, ông đã
có dịp suy gẫm về đời sống của mình và của gia đình
mình. Ông cảm thấy như được đi nghỉ mát ở một
nơi thật xa, tách rời hoàn toàn đời sống bận rộn thường
ngày. Ông cũng cảm thấy như mình dừng lại trong một
cuộc hành trình lâu ngày. Đứng trên đồi ông nhìn lại
quãng đường ông đã đi qua và ông giật mình thấy rằng
lâu nay ít khi ông đã nhìn lại bản thân mình, đời sống
mình. Ông ít thì giờ hơn chú Bảy, nhưng ông quyết định
phải thỉnh thoảng đi tham dự một kỳ bát quan trai như thế.