3. Ðạo
Phật bành-trướng
Ba
vị sư, mà Ðàm-thiên kể tên trên kia, đều là người Ấn-độ
hay Tây-vực (ở xứ Sogdiane) gần phía tây-bắc Ấn-độ.
Ma-la-kì-vực,
tên chữ Phạn là Marajivaka, là người Ấn-độ, đến Giao-châu,
rồi qua Quảng-châu. Tới Lạc-dương đời Tấn Huệ-đế,
năm 294. Ông giỏi phù-pháp. Sau gặp loạn ở Trung-quốc, ông
lại trở về Ấn-độ.
Khang-tăng-hội
vốn người Tây-vực, theo cha buôn ở Giao-châu rồi học đạo
Phật ở đó. Nguyên người Tây-vực mà ở xứ Việt, cho nên
ông học giỏi hai thứ tiếng Phạn và Việt. Nhờ đó, ông
đã dịch nhiều sách Phật ra Hán-văn. Sau đó, ông sang nước
Ngô, giảng đạo cho Ngô Tôn-Quyền, rồi mất tại nước Ngô
vào năm 280.
Còn
như Chi-cương-lương, thì Trần Văn-Giáp cho là Cường-lương-lưu-chi
chép trong sách Thập-nhị-du-kinh. Tên Phạn của sư là Kalaruci
theo Pelliot, hay là Kalganaruci theo Trần Văn-Giáp. Vị sư này
tới Giao-châu vào khoảng năm 255-256, và có dịch kinh Pháp-hoa
Tam-muội. (BA)
Xem
mấy thí-dụ trên, ta thấy rằng nhiều vị tăng dịch kinh
Phật là người Ấn-độ hay người Tây-vực. Ngoài số những
vị đã do đường bộ tới Trung-quốc, một số đã đi đường
bể. Những vị này tất-nhiên phải học Hán-tự. Các vị
ấy chắc phần lớn đã qua và ở đất Giao. Vì thế, đạo
Phật rất có thể đã tới nước ta trước khi đến nước
Trung-quốc.
Cho
đến sư Ðàm-thiên, cũng là người Indoscythe, ở phía tây-bắc
Ấn-độ. Sư rất giỏi Hán-văn. Sở-dĩ sư lại rõ tình-hình
Phật-giáo ở Giao-châu, chắc vì cũng có thời-kì qua ở đó.
Lịch-sử
Phật-giáo ở nước ta, từ ban đầu đến lúc phái Thiền-tông
xuất-hiện, không được biết rõ nữa, vì không ai biên-chép
lại. Về Thiền-tông, thì sách TUTA còn chép khá kĩ-càng.
Dòng
Thiền-tông lại có hai phái: phái Nam-phương và phái Quan-bích.
Phái Nam-phương vào trước, phái Quan-bích vào sau. Nhưng từ
đời Ðinh, hai phái đều phát-triển một cách thịnh-vượng.
Tổ
phái NAM-PHƯƠNG là Tì-ni đa-lưu-chi, tên Phạn là Vinitaruci,
nguyên người Thiên-trúc, hoặc đạo Bà-la-môn (Braman). Sau
theo Phật-giáo, rồi sang các xứ đông-nam để tới Tràng-an,
kinh-đô nước Trần bên Trung-quốc (573). Sau, sư tới Quảng-châu;
ở đó sáu năm dịch các kinh Phật. Tháng ba năm Canh-tý 580,
sư sang Giao-châu, tới trụ-trì ở chùa Pháp-vân tại Luy-châu.
- đó được mười lăm năm. Ðến năm Giáp-dần 594, đời
Tùy Khai-hoàng, mới mất.
Ðệ
tử Vinitaruci có sư Pháp-hiền, mà sách TUTA đã chép ra Pháp-đắc-hiền,
trong chuyện quốc sư Thông-biện. Vị này được coi như là
tổ thứ nhất của dòng Nam-phương. Sư người Chu-diên, họ
Ðỗ; ở chùa Chúng-thiện, tại núi Thiên-phúc, hạt Tiên-du.
Sư có rất nhiều học-trò. Thứ-sử Lưu Phương mời tới
Luy-lâu, ở chùa Pháp-vân. Rồi đi giảng đạo, dựng chùa
khắp mọi nơi ở Phong-châu (Sơn-tây), Hoan-châu (Nghệ-an) Tràng-châu
(Ninh-bình) và Ái-châu (Thanh-hóa). Ðến năm Bính-tuất 626,
đời Ðường Vũ-đức, mới mất. (TUTA 44a).
Nhờ
đó, phái Nam-phương rất được phát đạt, và đã bành-trướng
nhất trong vùng phủ Từ-sơn. Có sư Ðịnh-không, là tổ thứ
tám, lập chùa ở làng Dịch-bảng, là quê nhà Lý về sau (trước
808). Sau đó phái Nam-phương có nhiều can-hệ với các triều-đại
độc-lập ở nước ta. Sư Pháp-thuận giúp Lê Ðại-hành,
sư Vạn-hạnh giúp Lý Thái-tổ, sư Ðạo-hạnh mà tục-truyền
là tiền-thân của Lý Thần-tông, sư Minh-không giúp Lý Thần-tông,
đều thuộc phái này cả.
Phái
QUAN-BÍCH thì đến đời Ðường Nguyên-hòa mới vào nước
ta, do vị sư người Ðường là Vô-ngôn-thông đem tới. Sư
người Quảng-châu, họ Trịnh. Sau khi đi học với Mã-tổ
ở Giang-tây, sư về Quảng-châu. Sư sang Giao-châu, năm canh-tý
820; ở chùa Kiến-sơ, tại Phù-đồng (TUTA 4a). Phái này phát-đạt
cũng chóng và đã phát ra nhiều vị cao-tăng còn để tiếng
về sau. Sư Khuông-việt giúp Ðinh Tiên-hoàng, sư Trí-không
tức là Thông-biện quốc-sư, sư Khổng-lồ , sư Giác-hải
đều thuộc phái này cả.
Không
những ở chung-quanh kinh-kỳ đạo Phật thịnh-hành, mà đến
những chốn xa, như Ái-châu, Phật-giáo trong đời Ðường
cũng đã phát đạt. Trong các vị tăng quê nước ta đã từng
đi Thiên-trúc cầu đạo (3), có hai vị người Ái-châu, là
Trí-hành và Ðại-thặng-đăng. (BA). Vả bia HN (4) cũng cho ta
biết rằng về đời thuộc Hậu-đường (923-937), châu-mục
Lê Lương ở Ái-châu có dựng ba chùa ở trong hạt ấy.
Tuy
đạo được thịnh-hành, nhưng nước ta bấy giờ vẫn còn
bị người Tàu thống-trị. Cho nên Phật-giáo, cũng như các
ngành tư-tưởng khác, hình như cũng chỉ đạt đến một hạng
người quyền-quí, hay gần-gũi người ngoại-quốc cầm quyền,
chứ không phổ cập đến dân-gian. Phải đợi đến thời-kỳ
độc-lập, mới bắt đầu có những chứng rằng Phật-giáo
có tổ-chức và ăn sâu vào dân-chúng.