4. Chế-độ
Tăng và chùa
Trong
khi các nước ở Trung-quốc phải đương đầu với Tống trong
cuộc chiến-tranh thống-nhất, thì ở nước Giao-chỉ, tông-giáo
cũng như hành-chính, dần dần tự cởi dây ràng-buộc, và
trở nên tự-trị. Các phái Thiền-tông phát-đạt, và tăng-đồ
càng bành-trướng ảnh-hưởng trong xã-hội.
Kẻ
cầm quyền không những cần đến thiền-sư về phương-diện
tín-ngưỡng mà tôi, mà cả về phương-diện chính-trị, cũng
cần nữa. Nhất là trong đời Ðinh Lê, các vua đều là những
bậc võ-biền, nhân loạn mà nắm được chính-quyền. Học-thức
vua ít; mà kẻ nho-học cũng chưa đông, và phần nhiều chắc
có lòng trung-thành với triều-đại bị tiếm, nên không được
tin dùng. Chỉ có kẻ tăng-đồ có đủ thì-giờ, đủ phương-tiện
sinh-sống để đọc nhiều, hiểu rộng. Vả nhà tu-hành lại
ít có thành-kiến thiên-vị về chính-trị, cho nên dễ được
vua mới tin-dùng.
Lúc
nhà Ðinh mới lập nước, liền trọng-đãi các nhà sư. Năm
đầu sau khi lên nôi, Ðinh Tiên-hoàng đã định phẩm-hàm và
giai-cấp cho các nhà tăng và đạo. Tăng và đạo cũng được
coi như là những công-chức văn võ (TT 961) (5). Tuy đời Lý,
cũng có đặt lại phẩm-hàm và giai-cấp cho tăng-đạo, nhưng
vẫn theo qui-chế đời Ðinh.
Ðầu
hàng Tăng, có chức Quốc-sư. Sau, theo thứ-tự trên dưới,
có những chức tăng-thống, tăng-lục, tăng-chính, đại-hiền-quan.
Quốc-sư chỉ có nghĩa là người sư của nước, chứ không
phải là chức tể-tướng như vị thái-sư. Cũng như các chức
kia, quốc-sư coi việc giữ các chùa trong nước, giảng đạo,
lập đàn, và giúp vua trong những việc cầu may, cầu phúc.
Ngoài
những chức phẩm trên, ta còn nhận thấy những hiệu như
đại-sư, trưởng-lão, cư-sĩ (Bia LX, TUTA). Có lẽ đó chỉ
là huy-hiệu mà thôi.
Chùa
thì do vua, quan hay dân làng xây dựng lên. Những chỗ danh-lam
thì chắc thuộc nhà vua và được vua cấp tiền của, ruộng
đất, phu-hầu. Năm 1088, Lý Nhân-tông định chia chùa làm ba
hạng, đại, trung và tiểu-danh-lam, do các quan văn và quí-chức
đề-cử. Sách TT chép việc ấy, và thêm rằng: " Ấy vì bấy
giờ, các chùa có điền-nô và của kho ". Ðiền-nô là phu
cày ruộng cho chùa.
Ở
các trấn, cũng có tăng-quan coi các chùa và phật-giáo. Sư
Hải-chiếu có nói trong bia LX rằng sư " kiêm coi công-sự ở
Thanh-hóa ", và là " thuộc hạ " của Lý Thường-Kiệt.
Ðược
làm sư không những là một vinh-hạnh. Sư có chức-phận đã
đành, mà về phần vật-chất, lại khỏi bắt làm xâu, làm
lính; ở chùa lại được bổng-lộc dân chúng cúng và vua
ban. Vì thế muốn được làm sư, phải có bằng của nhà nước
cấp cho. Như thế, gọi là được độ. Sử-sách ta còn chép
một vài năm, vua chọn dân để cho làm sư. Năm 1014, tăng-thống
Thẩm Văn-Uyển xin lập giới-trường ở chùa Vạn-thọ trong
thành Thăng-long để cho tăng-đồ thụ giới. Năm 1016, vua chọn
hơn nghìn người ở Kinh-sư để cho làm tăng và đạo-sĩ.
Năm 1019, Lý Thái-tổ lại độ dân khắp nước để làm tăng.
Sau mãi đến năm 1134, Lý Thần-tông mới sai hội dân ở đài
Nghinh-tiên để độ tăng một lần nữa. (TT).
Ðó
là những cơ-hội lớn chọn tăng một cách tập-đoàn. Còn
hàng ngày, vẫn cấp bằng cho những trai-tráng được rút tên
ra ngoài sổ bạ (Bia LX). Ðồng-thời ở Tống, bằng-cấp độ
tăng lại là một lợi-khí làm tiền cho công-quĩ. Sách TB (6)
thường chép rằng vua Tống cấp cho các lộ một số lớn
bằng-cấp ấy, để hưng-công xây thành, đào sông. Không biết
ở triều Lý có lợi-dụng sự độ tăng như thế không. Nhưng
ta biết rằng nhà-nước có dùng cách ấy để thưởng một
hạng người có công. Như năm 1128, Lý Thần-tông sai chọn
bốn người lính già, cho làm tăng (TT).
Con
cháu những nhà quyền-quí cũng không ngần-ngại bỏ nhà theo
Phật-giáo, như các cháu họ Lý Thường-Kiệt (bia LX), sư Mãn-giác
con Lý Hoài-Tố, Diệu-nhân ni-sư con nuôi Lý Thánh-tông và
sư Viên-chiếu cháu thái-hậu Linh-nhân.
Xem
chuyện các cao-tăng trong sách TUTA, ta thấy phần nhiều các
vị này giỏi nho-học, hay khi bé thường học Nho rồi sau mới
theo Phật. Nhưng trong khoảng đầu đời Lý, chưa mở khoa thi
nho. Sau, dần-dần nho-học tiến-mạnh. Tam-giáo tịnh-hành.
Các khoa thi nho được mở đều, và các khoa thi tam-giáo cũng
được lập vào cuối đời Lý Cao-tông (năm 1179 và 1194, TT).
Các nho-thần như Ðàm Dĩ-mông đã bắt đầu kiềm-chế tăng-đồ,
kiểm-điểm khảo-hạch tăng-chúng. Năm 1179, Lý Cao-tông sai
thi các đệ-tử tăng-quan tụng kinh Bát-nhạ (TT).
Nhân
các vua trước, như Thần-tông, Anh-tông mê đạo nhiều dân-đinh
xin độ làm tăng để trốn khỏi lao-dịch. Lại có những
ác-tăng làm điều phạm-pháp. Cho nên năm 1198, Ðàm Dĩ-Mông
nói với vua rằng: " Bây giờ, tăng-đồ gần bằng số dịch-phu.
Chúng tự kết bè, bầu chủ, họp nhau thành từng bầy. Chúng
làm nhiều việc bẩn-thỉu. Hoặc ở nơi giới-trường, tĩnh-xá,
mà công-nhiên rượu thịt; hoặc ở trong trai-phòng tĩnh-viện,
mà âm-thầm gian-dâm. Ngày ẩn, tối ra, thật như đàn cáo
chuột. Chúng làm bại tục, thương giáo; dần-dần thành thói
quen. Nếu mà không cấm, thì lâu thành quá lắm. "
Vua
Cao-tông cho lời Dĩ-Mông nói là phải. Sai Dĩ-Mông triệu-tập
tăng-đồ trong xứ lại ở các nơi cốc-xá; chọn từng mười
người có tiếng, lưu lại làm tăng. Còn dư, thì đánh dấu
vào tay mà bắt hoàn tục.
Chắc
rằng lời Dĩ-Mông quá đáng, và sự sa-thải triệt-để tăng-đồ
là một phần do nho-gia bài-xích dị-đoan. Tuy vậy, đạo Phật
không phải vì đó mà suy. Trạng-nguyên Lê Quát, là dòng-dõi
Lê Văn-Thịnh, phải phàn-nàn, trong bia chùa Thiệu-phúc dựng
đời Trần, rằng: " Làng xóm nào cũng có chùa, mà không đâu
thấy thờ Khổng-thánh. "
( Chú
thích: Chuyện Nguyễn Bông-Chuyện Giác-hoàng-Chuyện Từ Ðạo-Hạnh-
Chuyện Lê Văn-Thịnh- Chuyện trâu trèo muỗm- Chuyện Sư Giáng
Hổ-Chuyện Thủy-Cung-Chuyện gọi nước)