5 - Tăng
và chính-trị
Lúc
nước ta vừa được độc lập, vua đều là những kẻ vũ-biền.
Sở-dĩ các vua ấy trọng tăng-đồ, một phần chắc vì lý-do
chính trị. Tuy không có chứng gì tỏ rằng các vua Ðinh và
Lê mộ Phật, nhưng dân-gian bấy giờ chắc theo đạo Phật
nhiều. Trái lại nhiều việc, còn chép trong sử, tỏ rằng
các vua ấy hành-động thường trái với điều dạy phải
từ-bi của Phật, vì như những cực-hình dùng ở đời ấy:
cột đồng đốt nóng, vạc dầu đun sôi, chuồng hổ báo,
cũi ngâm sông.
Các
vua lại nhận thấy rằng các tăng có học rộng hơn mình và
hơn các tướng. Tuy bên cạnh vũ-tướng còn có nho-thần, nhưng
những người này thường hay cố chấp trong những thuyết
trung-quân, cho nên không thể trung-thành với một ông vua mới,
đã cướp quyền của chúa mình. Vì những lẽ ấy, các vua
Ðinh, Lê đã lợi dụng học-vấn của tăng-đồ để trị
dân và đối ngoại. Cũng như đại-đa-số người đương-thời,
các vua rất tin rằng các tăng và đạo-sĩ có những thuật
làm cho họ biết trước những sự hay dở tương-lai, hay là
có thể cầu cho họ được phúc và tránh họa.
Vị
sư đầu-tiên được tham-gia chính-sự là đại-sư Khuông-Việt,
giúp Ðinh Tiên-hoàng và Lê Ðại-hành. Sư tên Ngô Chân-Lưu,
dòng-dõi vua Ngô. Bé học nho, lớn theo Phật. Ðinh Tiên-hoàng
ban cho chức tăng-thống và hiệu Khuông-Việt đại-sư, nghĩa
là vị sư lớn giúp nước Việt (TT 971 và TUTA 8a) (2). Sau khi
Lê Hoàn lên ngôi, "phàm sự quân-quốc, đều giao cho sư hết".
Ðó là lời sách TUTA, còn sách TT chỉ chép việc Khuông-Việt
giúp vua Lê đón sứ Tống mà thôi (XIV 7).
Lúc
Lý mới lập cơ-nghiệp, sư Vạn-hạnh đã có ảnh hưởng
nhiều. Từ đời Lê, sư có tiếng là một kẻ tiên-chi cho
nên Lê Ðại-hành đã từng hỏi ý-kiến, trong khi đánh Tống
và đánh Chiêm. Sách TUTA chép rằng: về việc chống Tống,
sư đoán nội trong ba bảy ngày giặc sẽ tan, còn về việc
đánh Chiêm, thì sư khuyên nên đánh chóng (TUTA 52a). Các sách
sử ta đều kể chuyện Vạn-hạnh đã đoán được câu sấm,
mà sâu ăn thành ra trên cây vong-gạo; và sư biết trước rằng
nhà Lê sắp mất và nhà Lý sẽ lên. Sư bèn nói với Lý Công-Uẩn
chuyện ấy và quả-quyết rằng họ Lý là họ của ông. Biết
đâu rằng chuyện sấm ấy lại ông phải là mưu của Vạn-hạnh.
Về
sau, các vua Lý có học hành. Tuy vẫn thích Phật, nhưng một
cách cao hơn. Triều-thần đã có nhiều người học uyên-bác.
Cho nên ảnh-hưởng về chính-trị của các vị sư bị giảm
dần. Cuối cùng, các tăng chỉ giữ những việc giảng kinh
hay giáo-hóa.
Trong
phạm-vi tín-ngưỡng và kỹ-thuật, địa-vị các tăng-già
vẫn rất trọng. Các vua và thái-hậu thường mời những vị
sư có tiếng vào giữ chùa trong thành nội, để giảng kinh.
Các vị Huệ-sinh và Viên-chiếu từng được Lý Thái-tổ mời
vào cung. Nhất là trong đời Lý Nhân-tông, vua và thái-hậu
Linh-nhân rất mộ Phật, thường sai các sư, có danh nhất,
vào nội để bàn đạo. Những vị như Thông-biện, Mãn-giác,
Chân-không,Giác-hải, Khổng-lộ đều được mời và trọng-đãi.
Cũng nhờ đó mà ta mới có câu chuyện Thông-biện bàn nguồn
gốc đạo Phật, còn chép lại đến ngày nay.
Các
công, vương, tướng cũng thường hay che-chở tăng ni, và tôn-trọng
họ vào bực thầy. Lương Nhậm-Văn, Lý Thường-Kiệt, Vương
Tại, Ðoàn Văn-Liệm, Phụng-càn-vương, công chúa Thiên-cực
đều có giao-thiệp mật-thiết với các cao-tăng (TUTA). Vả
chăng nhiều vị thiền-sư là con cháu vua, hoàng-hậu hay các
đại-thần. Chắc vì sự liên-quan bằng gia-đình, ảnh hưởng
những vị ấy đối với chính-trị cũng không ít.
Về
mặt kỹ-thuật, tăng-đồ thường lại có tiếng là có phép
thần-thông, hay biết chữa-bịnh một cách thần-diệu. Vì
vậy mà nhiều vị đã được vua dùng như Minh-không chữa
bệnh cho Thần-tông. Ðạo-tuệ được Anh-tông đón vào cung-cấm
chữa cho các cung-phi. Nguyện-học có tiếng cầu mưa và chữa
bệnh rất hay, cũng đã được Anh-tông mời tới.
Trong
đời Thánh-tông và Nhân-tông, vì vua chậm có hoàng-trừ, cho
nên các vị có tiếng biết phép cầu-tự, đầu-thai, lại
rất được quý-trọng: Những chuyện Ðại-điên, Ðạo-hạnh
còn được để đến ngày nay.
Nói
tóm lại, ảnh-hưởng các nhà sư lúc ban đầu trực-tiếp
với chính-trị. Nhưng sau, dần-dần ảnh-hưởng chỉ còn kịp
tới cá-nhân vua quan. Vì đó mà gây ra những phong-trào từ
trên lan xuống dưới. Rồi phong-hóa chung cả nước cũng chịu
nhiều ảnh-hưởng của hình-thức Phật-giáo hiện-hành.