7 - Ðạo
Phật và văn-hóa
Lời
sư Nguyễn Thường can vua lại chứng-tỏ một sự mà ta đã
biết rồi, là ở đời Lý, phần lớn các tăng học nho rất
rộng. Vậy nên tăng-đồ có ảnh hưởng lớn đến văn-hóa
đương-thời. Văn thơ đời Lý để lại còn nhiều, nhờ sách
TUTA (2) và một số bia nhà Lý. Ta thấy các sư thật là những
người hay chữ. Mà những nho-gia khác cũng chịu ảnh-hưởng
tư-tưởng của nhà chùa.
Câu
chuyện làm thơ đầu tiên trong lịch-sử độc-lập nước
ta là thuộc về hai vị sư. Tống Thái-tông sai nhà văn-hào
Lý-Giác sang phong cho Lê Hoàn làm Tĩnh-hải tiết-độ-sứ.
Năm 987, Giác tới nơi. Chắc trong triều bấy giờ ít người
hay chữ. Vua phải nhờ đến sư Ðỗ Thuận tiếp. Các sách
TT3 và TUTA chép rằng sư giả làm lái đò chèo thuyền cho Giác.
Tính Giác thích làm thơ. Bấy giờ có hai con ngỗng cùng bơi
trên mặt nước. Giác ngâm:
Nguyên
văn:
Nga
nga, lưỡng nga nga.
Ngưỡng
diện hướng thiên-nha.
Nghĩa
là:
Ngỗng
kìa! Ngỗng một đôi!
Nghểnh
cổ nhìn góc trời.
Sư
Thuận nghe, ứng-khẩu đọc tiếp:
Bạch-mao
phô lục-thủy.
Hồng
trạo bãi thanh-ba.
nghĩa
là:
Nước
xanh lông trắng phủ.
Sóng
biếc chân hồng bơi.
Giác
khen sư hay thơ và có tài mẫn-tiệp. Rồi Giác làm thơ tự
vịnh, nhưng tỏ ý kính-trọng vua ta. Cho nên lúc Giác ra về,
Vua Lê nhờ sư Khuông Việt làm bài ca tặng. Bài ca ấy nay
còn chép (TT và TUTA) Khuông Việt soạn ra bài ca chúc sứ lên
đường, lúc cùng nhau uống chén tiễn-biệt. Sau đây là bài
dịch theo đúng điệu và nguyên-vận.
"Trời
lành, gió thuận, buồm gấm trương,
Thần
tiên về đế-hương.
Ngàn
trùng vượt sóng bể mênh-mang,
Ðường
xa mấy dặm trường.
Cạn
tình thảm-thiết chén li-xương.
Cầm
tay sứ, lòng càng . .
Nhờ
đem thâm-ý người nam-cương,
Phân
minh tâu Thượng-hoàng."
Ðó
là lời tửu-chúc-từ thân-thiện đầu-tiên trong lịch-sử
ngoại-giao của nước Việt. Mà lại là của một vị sư!
Bước
sang triều Lý, nho-thần đủ người để sung vào việc ngoại-giao.
Ta không thấy những vị sư tiếp sứ nữa. Nhưng sư vẫn có
nhiều người hay chữ. Nguồn thơ là đạo-lý uyên-nguyên.
Suốt quyển TUTA, trong chuyện tất cả các vị sư, đều có
một vài câu kệ bằng văn vần. Trong khi các sư nói chuyện
về đạo-lý cùng nhau, họ đều đọc thành những câu kệ,
ý-tứ mông-lung, nhưng đối với sự hiểu thường của ta,
thì thường không rõ ý. Ví như chuyện có tăng tới hỏi sư
Viên-chiếu, là con anh thái-hậu Ỷ-lan, rằng: "Phật và Thánh
nghĩa là thế nào?" Sư trả lời
Cúc
trùng-dương dưới giậu,
Oanh
thục-khí đầu cành.
Tăng
kia không hiểu, nhờ sư giảng. Sư lại nói:
Ngày
thì ác vàng chiếu
Tối
lại thỏ ngọc soi.
Tăng
bèn nói đã hiểu chân-ý của sư. Thật ra, ta không biết ý
ấy ra sao. Phải chăng sư muốn nói rằng Phật và Thánh nghĩa
là tất cả những biến-tướng hiện ra trong trời đất?
Trái
lại, có một vài bài thơ ý-tứ gần ta hơn, nhưng lời-lẽ
rất thanh-tao, đọc lên cảm thấy đời sống mặc-tĩnh, ý-nghĩ
thâm-trầm của những nhà cao-ẩn. Ví-dụ như bài kệ của
sư Mãn-giác (XV/3), là một vị tăng con một đại-thần, và
được vua Nhân-tông và thái-hậu Linh-nhân rất trọng. Sư
mất khi mới 45 tuổi, năm Hội-phong thứ 5 (1096). Trước khi
mất, sư đọc bài kệ sau này:
Nguyên-văn:
Xuân
khứ bách hoa lạc,
Xuân
đáo bách hoa khai.
Sự
trục nhãn-tiền quá,
Lão
tùng đầu thượng lai.
Mạc
vị xuân tàn hoa tận lạc,
Ðình-tiền
tạc-dạ nhất chi mai.
Nghĩa
là:
Xuân
qua trăm hoa rụng,
Xuân
lại nở trăm hoa.
Trước
mắt sự đời thoảng,
Trên
đầu hiện tuổi già.
Chớ
bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài
sân đêm trước một cành mơ.
Tóm-tắt
trong sáu câu trên, có đủ ý vũ-trụ tuần-hoàn trái với
đời người ngắn-ngủi, ý người ta không nên lấy sự ấy
làm phàn-nàn, vì tuy mất rồi, nhưng vẫn còn tinh-hoa để
lại cùng vũ-trụ.
Cho
đến phái nho, vì hằng ngày giao-thiệp với các tăng, nên
cũng chịu ảnh-hưởng nhiều của Phật-giáo. Thi-văn của
phái nho nay không còn gì nữa, ngoài một vài bài, giữ được
nhờ sách TUTA. Ví như hai bài thơ của vị công-bộ thượng-thư
Ðoàn Văn-Liệm tặng và điếu thiền-sư Quảng trí (TUTA 18a),
mất vào khoảng đời Quảng-hữu (1085-1092). Bài thơ điếu
như sau:
Lâm
man bạch thủ độn kinh-thành,
Phất
tụ cao-sơn viễn cánh hinh.
Kỷ
nguyện tĩnh-cân xu trượng-tịch,
Hốt
văn di lý yểm thiền-quinh.
Trai-đình
u-điểu không đề nguyệt,
Mộ
tháp thùy nhân vị tác minh.
Ðạo
lữ bất tu thương vĩnh-biệt
Viện
tiền sơn thủy thị chân-hinh.
Phỏng-dịch
như sau:
Rừng
xanh đầu bạc lánh kinh-thành,
Rũ
áo lên non rậy nổi danh.
Toan
đội khăn sòng lên cửa Phật,
Thoát
nghe tiếng dép động ngoài sanh.
Sân
chùa chim rũ gào suông nguyệt,
Mộ
tháp ai còn giúp viết minh.
Bạn
đạo xin đừng than vĩnh-biệt,
Trước
am, sông núi ấy chân-hinh.
Văn
đời Lý nay chỉ còn một ít văn bia, do tăng hay nho viết.
Những bia ấy là bia chùa. Văn rất cổ-kính. Trong chương sau,
ta có nhịp dịch một vài đoạn văn của Hải-chiếu đại-sư.
Về
khảo-cứu, ta đã thấy rằng quốc-sư Thông-biện thật là
một nhà khảo-cổ uyên-bác. Chỉ tiếc nay không còn trước-tác
gì khiến ta biết rõ hơn.
Nói
tóm lại, văn-học đời Lý đã thịnh, và chịu ảnh-hưởng
đạo Phật nhiều. Vả nhờ đạo Phật mà các bia chùa, và
sách Thuyền-uyển-tập-anh còn giữ được một phần tác-phẩm.
Xem vậy Phật-giáo có công to đối với sự phát-triển cũng
như sự bảo-tồn văn-học nước nhà.
Ðối
với các ngành mỹ-thuật, như kiến-trúc, điêu-khắc và hội-họa,
đạo Phật là một cớ làm tiến triển rất to.
Trong
triều Lý, rất nhiều chùa tháp được xây dựng với qui-mô
rộng lớn. Hầu hết những danh lam còn lại, là do từ đời
Lý lập ra. Những thắng-tích ở Hà nội, như quán Trấn-vũ
(tên tục là chùa Quan-thánh, tên đời Lý là Bắc-đế, 1102).
Diên hữu (tên tục là chùa Một cột, 1049), đền Nhị nữ
(tục gọi là đền Hai Bà, nguyên ở phường Bố-cái tức
là ở bãi Ðồng-nhân, 1160), đền Linh-láng(tên tục là đền
Voi-phục), đều khởi-tạo từ đời nhà Lý. Sách TUTA và các
sử còn chép nhiều tên chùa dựng ở Thăng-long, nhưng nay đã
bị hủy mất, hay đã bị đổi tên.
Còn
như những danh-sơn như núi Long-độiở huyện Duy-tiên, núi
Phật-tích ở huyện An-sơn, núi Tiên-du ở huyện Tiên-du, núi
Lãm-sơn ở huyện Quế-dương, núi Tiêu-sơn ở huyện Yên-phong,
núi Ðồ-sơn ở huyện Nghi-dương, đều có dựng chùa và tháp.
Ngoài
những từ miếu, các vua Lý còn dựng và sửa chữa nhiều
cung-điện ở Thăng-long và ở những nơi vua thường đi chơi,
hay đi làm lễ xem gặt, xem cày. Tuy là các tạo-tác này không
có tính-cách tông-giáo nhưng chắc nó cũng chịu nhiều ảnh-hưởng
của sự dựng chùa.
Trong
chương sau, ta sẽ thấy tả một vài chùa cổ làm trong hồi
Lý Thường-Kiệt vào trấn ở Thanh-hóa. Sau đây là tả qui-mô
chùa Một-cột, theo bia STDL và sách TT. Tháng 9 năm Ất-dậu
1105, Lý Nhân-tông dựng hai tháp mái bằng sứ trắng ở chùa
Diên-hữu. Bấy giờ vua chữa lại chùa (TT). "- vườn Tây cấm,
dựng chùa Diên-hữu. Theo giấu chế độ cũ, thêm mưu mới
của nhà vua. Tạc hồ Linh-chiểu. Trên hồ dựng lên một cột
đá. Trên cột đá nở một hoa sen nghìn cánh. Trên hoa lại
gác một tòa điện. Trong điện đặt tượng phật vàng. Chung-quanh
hồ có hành-lang bao vây, tường vẽ. Ngoài hành-lang lại có
hồ Khang-bích bọc bốn bề. Mỗi bề có cầu thông ra ngoài
sân. Trong sân, kề đầu cầu ở trước chùa, có dựng hai
tháp lợp ngói sứ." (Bia STDL).
Tuy
những cung điện, chùa miếu cũ nay không còn, nhưng ở một
vài nơi, còn có vài tòa tháp, hay một tấm bia, hay vài bệ
đá, hay ít nhiều tảng đá chạm cũ. Những di-vật ấy cũng
đủ tỏ cho ta thấy rằng nghề kiến-trúc, cũng như nghề
điêu-khắc đời Lý, rất tinh-vi và hùng-vĩ, các triều-đại
sau không sánh kịp.
Một
ảnh-hưởng bất-ngờ của đạo Phật là: nhờ các vua Lý
muốn tổ-chức những hội long-trọng, cho nên đã khuyến-khích
sáng-chế ra nhiều máy tự-động. Sử và nhất là bia STDL
còn tả rõ những máy đã được thực-hiện ở trong đời
Nhân-tông.
Ðây
là máy kim-ngao. Ngày trung-thu và ngày tết, Nhân-tông ngự ở
điện Linh-quang trên bờ sông Lô. Dưới sông, hàng nghìn thuyền
gióng trống đua bơi. - giữa sông, một con rùa vàng nổi, lưng
đội ba hòn núi. Rùa lội rù-rờ trên mặt nước, lộ vân
trên vỏ và rè bốn chân. Chuyển mắt nhìn lên bờ, miệng
thì phun nước lên bến. Quay đầu hướng tới ngai vua, mà
cúi đầu chào. (STDL)
Ðây
là máy đèn quay và người nộm đánh chuông. Ấy là lúc vua
kén hoàng-hậu. Nhân-tông đặt hội đèn Quảng-chiếu. "Dựng
đài Quảng-chiếu, ngảnh ra cửa Ðoan-môn. Giữa nêu một cột,
ngoài đặt bảy từng. Rồng cuốn mà đỡ tòa kim-liên, rèm
lồng mà che đèn sáng rực. Có máy giấu kín dưới đất,
làm đài quay như bánh xe. Lại có hai tòa hoa-lâu. Treo quả
chuông đồng. Tạc chú tiểu mặc áo cà sa, vặn máy kín thì
giơ dùi đánh. Nghe tiếng sáo, liền quay mặt lại. Thấy bóng
vua, lại biết cúi đầu. Tựa-hồ như có trí-khôn, biết khi
động, khi tĩnh." (STDL)
Nói
tóm lại, suốt trong triều Lý, đạo Phật được vua quan trọng,
tăng-già nhiều kẻ giỏi-giang. Cho nên ảnh-hưởng Phật-giáo
ăn sâu vào tất-cả các ngành hoạt-động của người trong
nước, về phương-diện tinh-thần cũng như vật-chất.