Chú thích
(*)
Trích từ: "Lý Thường-Kiệt" của Hoàng Xuân-Hãn, nhà xuất-bản
Sông-Nhị, Hà-nội, 1949.
(1)
TUTA : Thiền-uyển tập-anh ngự-lục (Trần)
(2)
BA : Bia chùa Báo-ân (Lý)
(3)
Theo T.V.Giáp, các vị tăng đã qua Ấn-độ là: Vận-kỳ, người
Giao-châu, Mộc-soa-đề-ba (Moksadeva) người Giao-châu, Khuy-xung
người Giao-châu (mất ở Thiên-trúc), Tuệ-diệm người Ái-châu
(ở lại Thiên--trúc), Trí-hạnh người Ái-châu (mất ở bắc-ngạn
sông Hằng-hà), Ðại-thặng-đăng người Ái-châu (mất ở
Ấn-độ).3.
(4)
HN Bia chùa Hương-nghiêm (Lý)
(5)
TT Ðại-việt sử-ký toàn-thư. Ngô Sĩ-Liên (Lê)
(6)
TB Tục-tư-trị thông giám trường-biên. Lý Ðào (Tống)
TT
: Ðại-việt sử-ký toàn-thư. Ngô Sĩ-Liên (Lê)
VSL
: Việt-sử-lược (Trần)
TS
: Tống-sử (Nguyên)
VÐUL
: Việt-điện u-linh - Lý Tế-xuyên (Trần)
VSL
: Việt-sử-lược (Trần)
TUTA
: Thiền-uyển tập-anh ngự-lục (Trần) ; TT: Ðại-Việt sử-ký
toàn-thư. Ngô Sĩ-Liên (Lê)
(7)
- Theo TV. Giáp, các vị tăng đã qua Ấn độ là: Vận-kỳ người
Giao-châu, Mộc-soa-dê-ba (Moksadeva) người Giao-châu, Khủy-xung
người Giao-châu (mất ở Thiên trúc), Tuệ-diệm người Ái-châu
(ở lại Thiên-trúc), Trí-hạnh, người Ái-châu (mất ở bắc-ngạn
sông Hằng-hà), Ðại-thặng-đăng người Ái-châu (mất ở
Ấn-độ). 3.
(8)
- Chuyện Nguyễn Bông. - Về chuyện Nguyễn Bông, sách
TT chép: "Năm Quí-mão 1063, Lý Thánh tông đã bốn mươi tuổi,
nhưng chưa có con. Vua sai viên chỉ hầu Nguyễn Bông tới cầu-tự
ở chùa Thánh-chúa. Sau đó, Ỷ-lan phu-nhân có mang, sinh Càn-Ðức,
tức là Lý Nhân-tông." Sách ấy lại chú-thích rằng: Sư chùa
Thánh-chúa bày cho Bông phép đầu thai để vào làm con vua.
Sự bại-lộ, nên Bông bị chém ở trước chùa, tại chỗ
mà nay vẫn gọi là Cánh-đồng Bông. Chùa này, nay ở làng
Dịch-vọng, huyện Từ-liêm, gần phía tây thị-trấn Hà-nội.
Cánh-đồng Bông ở phía tây, trước cửa chùa.
Dã-sử
và thần tích Ỷ lan thái-hậu (Xem sách Chuyện Ỷ-lan, nhà
Minh-tâm xuất-bản) có kể rõ nhiều chi-tiết, và chép tên
sư chùa Thánh chúa là Ðại-điên. Ðại-điên bảo Bông về
nấp trong buồng tắm Ỷ-lan. Một hôm Ỷ-lan tắm thì bắt
được Bông còn ẩn trong buồng. Vua Thánh-tông sai đem Bông
đi chém. Khi qua chùa Thánh-chúa, Bông xin vào chùa để trách
sư. Sư cười và trả lời: "Nếu không hủy thân này, thì
sao đầu-thai được." Bông mới hiểu mưu sâu của Ðại-điên
và chịu chết. Sách VSL không hề chép đến việc Nguyễn Bông.
Chuyện
Giác-hoàng. - Về chuyện Giác-hoàng thì cả hai sách TUTA
và VSL, soạn đời Trần, đều có chép. Sau đây, là dịch
nguyên-văn trong VSL5.
"Tháng
2 năm Nhâm-thìn 1112, người Thanh-hóa nói ở bờ bể có một
đứa bé lạ. Tuổi mới lên ba, mà người ta nói gì, nó cũng
hiểu. Nó tự xưng là con đầu-lòng vua, và tự gọi là Giác-hoàng
(nghĩa là Phật). Phàm vua Nhân tông làm việc gì, nó cũng biết
trước. Vua sai sứ tới hỏi, thì quả đúng như lời đồn.
Sứ bèn rước Giác-hoàng về Thăng-long, để ở chùa Báo-thiên
(ở chỗ nhà thờ lớn Cơ đốc cạnh hồ Gươm). Vua thấy
Giác-hoàng linh dị, càng yêu-dấu; và muốn lập làm thái tử.
Triều-đình cho là không nên, vua bèn thôi.
"Vua
mới sai đặt trai-đàn trong cung, muốn sai Giác-hoàng đầu
thai để làm con mình. Có vị sư ở núi Phật-tích, tên Từ-Lộ,
hiệu Ðạo-hạnh, nghe tin ấy, lấy làm lo. Sư bèn giao cho em
gái vài hạt châu có làm phép, và dặn rằng: "Ðến xem hội,
hãy giắt châu vào mái nhà, đừng để ai thấy." Từ-thị
làm đúng như lời. Bỗng-nhiên, Giác-hoàng phát cơn sốt mà
ốm. Y bèn nói với người ta rằng: "Ta thấy trong nước lưới
sắt bày la-liệt khắp; không có lối nào vào cung để thác
sinh."
"Vua
sai lục tìm khắp trong chốn trai-đàn, thì thấy mấy hạt
châu mà Từ-thị đã giấu. Vua sai bắt Từ Lộ trói ở hành
lang Hưng thánh, rồi toan kết tội chết. Nhân lúc ấy, em vua,
Sùng hiền hầu, vào chầu vua. Từ Lộ thấy, kêu-van thảm
thiết rằng: "Mong Hiền-hầu cứu bần-tăng. Nếu bần-tăng
được thoát, thì sẽ vào làm con Hầu để báo đức" Sùng-hiền-hầu
nhận lời. Vào thăm vua, hầu tìm mọi cách cứu Ðạo-hạnh.
Hầu nói: "Nếu Giác-hoàng quả có thần-lực mà lại bị Từ
Lộ làm phép yểm được, thì Lộ chả giỏi hơn Giác-hoàng
hay sao? Sự ấy đã rõ. Tôi nghĩ rằng: chi bằng Vua cho phép
Lộ vào thác-sinh." Vua bèn tha cho sư. Còn Giác-hoàng, thì bệnh
thành nguy-ngập. Y dặn người chung quanh rằng: "Sau khi ta mất,
hãy dựng tháp ở Tiên-du để táng ta."
Lời
văn dịch trên đây gần giống y như văn trong sách TUTA. Có
lẽ cả hai sách đều lấy gốc một nơi. Nhưng trong TUTA, ở
chuyện Từ Ðạo-hạnh (53b), có nói rõ vì cớ gì mà Ðạo-hạnh
lại không muốn để Giác-hoàng đầu-thai làm con vua Nhân-tông.
Nhân-tiện đây, tôi sẽ kể lại chuyện Từ Ðạo-hạnh, theo
sách TUTA, để ta thấy dưới triều Lý đời sống đầy chuyện
huyền-ảo, và ta có thể so-sánh với óc thực-tế của Lý
Thường-Kiệt.
Chuyện
Từ Ðạo-Hạnh. - Ðạo-hạnh họ Từ. Bố tên Vinh, làm
chức tăng-quan đô-sát.Vinh từng du-học ở làng Yên-lãng (làng
Láng ở gần phía tây thị trấn Hà-nội), lấy vợ họ Tăng
ở đó, và ở lại làng ấy. Bà sinh Ðạo-hạnh. Lúc bé Ðạo-hạnh
tính thích-thảng, có chí lớn. Cử-động thế nào, không ai
lường được. Ngày thường, ông kết bạn cùng nho-giả Phí
Sinh, đạo sĩ Lê Toàn-Nghĩa, và con hát Vi Ất. Tối thì chịu
khó đọc sách. Ngày thì thổi sáo, đánh cầu, đánh bạc làm
vui. Cha thường trách ông là lười biếng. Một đêm, cha lén
vào phòng ngủ, dòm trộm, thì thấy đèn chong suốt đêm, sách-vở
chồng đống. Ông thì tựa án ngủ, tay không buông sách. Từ
ấy, cha không lo nữa.
Sau,
ông dự kì thi tăng-quan, bèn đỗ.
Từ
Vinh thường dùng tà-thuật quấy Diên thành-hầu (có lẽ là
con vua Lý Thánh-tông). Hầu nhờ pháp-sư Ðại-điên dùng phép
đánh chết. Về đoạn này, thần-tích chùa Láng, chùa Thầy
và các nơi thờ Từ Ðạo-hạnh, có nói rằng Từ Vinh dùng
phép tàng-hình, lọt vào trong hậu-cung của Diên-thành-hầu
để ghẹo kẻ cung-nhân. Hầu nhờ Ðại-điên bắt. Một hôm,
Ðại-điên lấy tro rắc trước cửa phòng cung-nhân, rồi đọc
chú, vẽ bùa và trao cho cung-nhân một cuốn chỉ ngũ-sắc.
Ðại-điên dặn cung nhân rằng nếu Vinh tới thì lấy chỉ
buộc mình y. Ðêm ấy, Từ Vinh quả tới. Cung-nhân buộc chỉ
vào lưng, rồi hô-hoán lên. Vinh túng thế, nhưng không chạy
được; bèn biến hình làm con dán và trốn vào vách. Ðại-điên
tới tìm mãi không thấy. Sau thấy có râu dán trong vách lòi
ra. Ðại-điên cầm râu kéo ra, tì thấy một con dán trắng.
Ðại-điên đánh chết. Lại hiện ra thây Từ Vinh.
TUTA
không chép chuyện con dán ấy, mà chỉ nói Ðại-điên đánh
chết Từ Vinh mà thôi. Sau đó, TUTA chép nối rằng Ðại-điên
vứt thây Vinh xuống sông Tô-lịch. Thây trôi đến cầu Vu-quyết
(có lẽ Yên-quyết, ở gần góc tây-nam thành Thăng-long), trước
nhà Diên-thành-hầu, thì thình-lình đứng dựng lên, mà trỏ
tay vào nhà hầu. Hầu sợ, chạy mách Ðại-điên. Pháp-sư
tới đọc một câu kệ. Thây bèn trôi đi.
Ðạo-hạnh
muốn trả thù cha, nhưng kông có kế. Một hôm, ông rình Ðại-điên.
Lúc Pháp-sư đi ra, ông toan giơ gậy đánh, thì nghe trên không
có tiếng mắng, bảo: "chớ, chớ!". Ông sợ, bèn bỏ gậy
mà chạy.
Ông
muốn sang Ấn-độ học dị-thuật để chống với Ðại-điên.
Nhưng khi đi đến xứ mán Kim-xỉ (Mán răng vàng, có lẽ ở
vùng Thượng-Lào hay Vân-nam), thì đường-xá hiểm trở quá,
nên ông đành trở về. Ông bèn lên núi Từ-sơn mà ẩn. Ngày
ngày, niệm kinh Ðại-bi-tâm-đà-la-ni, niệm đủ một vạn
tám nghìn lần. Một hôm,ông thấy thần-nhân tới nói rằng:
"Ðệ-tử là Tứ-trấn-thiên-vương. Cảm công-đức sư tụng
kinh, cho nên lại hầu, để sư sai-khiến."
Ðạo-hạnh
tự biết rằng mình đã học được đạo-pháp và thù cha
sẽ trả xong. Ông bèn tới cầu Vu-quyết, cầm gậy thử, ném
xuống sông. Gậy bèn trôi ngược dòng như rồng lội, đến
cầu Tây-dương mới dừng. Ông mừng và nghĩ thầm rằng phép
mình sẽ thắng Ðại-điên. Ông bén đi thẳng đến nhà Ðại-điên.
Ðại-điên thấy ông, liền nói: "Mày không nhớ chuyện ngày
trước sao?" Ông ngửng mặt lên trời, thì không thấy có gì
lạ. Ông bèn lấy gậy đánh Ðại-điên. Ðại-điên phát bệnh
mà chết.
Sau
khi thù cha rửa sạch, ông bèn đi thăm các tùng-lâm, bàn đạo
với các sư Trí-huyền ở Thái-bình và Sùng-phạm ở chùa
Pháp-vân.
Rồi
đến năm Hội-tường-đại-khánh thứ ba 1112, xảy ra chuyện
Giác-hoàng đã kể trên.
Sau
đó, Ðạo-hạnh được tha. Ông xin đến nhà Sùng-hiền-hầu,
dùng phép Ðại-điên bày cho Nguyễn Bông trước, để đầu
thai. Ông cũng nấp ở buồng tắm phu-nhân. Phu-nhân giận, mách.
Hầu biết chuyện, nên không nói gì. Phu-nhân bèn có mng. Ngày
chuyển dạ, phu-nhân theo lời Ðạo-hạnh dặn trước, sai người
lên chùa Thiên-phúc (chùa Thầy) báo tin cho ông. Ðạo-hạnh
bèn tắm rửa, thay quần-áo, rồi vào trong hang núi mà chết.
Ấy là ngày Dương-hoán sinh, tức là Lý Thần-tông.
Sách
TT chép vào tháng sáu năm Bính-thân 1126. Xác Ðạo-hạnh không
hư-hỏng. Dân làng giữ để thờ. Ðến đời Minh Vĩnh-lạc,
quân Minh sang đánh Hồ Quí-li, mới đốt mất. 6.
(9).
- Chuyện Lê Văn-Thịnh. - Lê Văn-Thịnh đậu khoa nho
đầu tiên ở nước ta, mở năm 1075; rồi được vào dạy
vua Nhân-tông (1112). Năm 1084, Văn-Thịnh được sai tới trại
Vĩnh-bình để chia địa-giới với Thành Trạc là quan Tống.
Năm sau, được cất lên chức thái-sư. Y giữ chức tể-tướng
trong mười hai năm. Năm 1096, y bị cách chức và đày đi nơi
nước độc. Nguyên-do chỉ vì một việc tin dị-đoan rất
thường thấy ở đương-thời. Các sách TT, VSL, VÐUL6, đều
có chép chuyện ấy.
Văn-Thịnh
nuôi được tên hầu, người Ðại-lý (Vân-nam), biết làm
phép thả hơi mù và biến thân thành hổ báo. Văn-Thịnh học
lại được phép ấy. Y bèn lập kế giết tên hầu, và định
dùng thuật ấy để cướp ngôi vua.
Bấy
giờ vào tháng 11 (theo VSL, còn TT nói tháng ba, và VÐUL, nói
mùa thu), vua Lý Nhân-tông dạo chơi hồ Dâm-đàm (Hồ-Tây)
xem đánh cá. Vua cưỡi một chiếc thuyền chài, có tên Mục
Thận người phường Tây-hồ (ở trên bờ bắc hồ), đứng
đầu mũi, bủa lưới. Lúc thuyền ra đến giữa hồ, thình
lình mù lên đen tối. Nhìn chung quanh không thấy rõ. Bỗng
nghe tiếng thuyền chèo vụt-vụt, lướt qua mù tới thuyền
vua. Qua mù, ai cũng nhìn thấy trong thuyền ấy có một con hổ
lớn đang nhe răng như muốn cắn. Vua sợ lắm. Mục Thận thấy
vậy cũng kêu nguy-cấp. Sẵn lưới ở tay, Thận ném vào thuyền
kia, bắt được hổ. Thì lại hóa ra Lê Văn-Thịnh!
Vua
sai lấy dây sắt trói vào cũi mà giam. Nhưng nghĩ rằng Văn-Thịnh
là một đại-thần, từng có công to, vua không nỡ giết (TT).
Bèn sai đày lên ở một trại ở thượng-lưu sông Lương (theo
VSL, còn TT và VÐUL, đều nói sông Thao.)
Chuyện
trên này tiêu-biểu cho sự mê-tín có ảnh-hưởng lớn đến
chính-trị ở triều Lý. Sử còn cho biết nhiều chuyện chứng
rằng Nhân-tông, cũng như các vua Lý về sau, rất tin ảo-thuật,
và có thần-kinh dễ cảm-xúc. Cho nên, chỉ vì một việc xảy
ra rất thường, mà Văn-Thịnh xuýt bị chết. Về tháng mười
một, trận mù thình-lình tới trên hồ, đó là một sự thường
có. Nhưng với tâm-thần hay bị xúc-cảm của vua Lý, khi thấy
trời tối mà mình còn ở trên mặt nước, thì vua đâm ra
hoảng-hốt. Có lẽ Văn-Thịnh, cũng vì thấy trời tối, mà
vội-vã sai chèo thuyền gấp tới để hộ vua về. Ngồi trong
thuyền bị trùng-triềng không vững. Văn-Thịnh phải ngồi
khom mình, tay chống vào thuyền cho vững. Hình-dáng trông như
con hổ. Một mặt khác, có lẽ Văn-Thịnh cũng tin vào các
thuật, và có tiếng sẵn là đã học được phép hóa hổ.
Cho nên, kẻ trông thấy hình con hổ trong thuyền lại càng
nghi cho y muốn hại vua.
Cũng
may cho y. Tuy vua tin dị-đoan, nhưng đạo Phật đã gieo mối
từ-tâm, cho nên Văn-Thịnh không bị tru di tam tộc như Nguyễn
Trãi đời sau. Các nhà bình luận phái nho ở đời sau, như
Ngô Sĩ-Liên, còn trách rằng: "Nhân-thần mà mưu giết vua cướp
ngôi, thế mà còn tha tội. Làm sai hình chính như vậy; ấy
bởi vì lỗi vua quá sùng Phật."
Sau
đó, Mục Thận được ban chức đô-úy-tướng-quân, và đất
Tây-hồ làm thực-ấp (TT). Mục Thận làm quan đến chức phụ-quốc
tướng-quân. Sau khi mất, được tặng hàm thái-úy, và được
vua sai lập đền ở phường nhà. Ðền ấy nay vẫn còn. Sách
VÐUL còn chép thêm rằng cạnh đền có một cổ-thụ rất
to, hình dáng cong queo, như thân con rắn lớn. Cành lá thưa-thớt,
trong thân có lỗ. Trong lỗ có con trăn làm tổ. Ngày sóc vọng,
trăn vào đền, khoanh thành mấy vòng, nằm chầu.
Chuyện
trâu trèo muỗm. - Lê Vãn là một tên lính ở giáp Cổ-hoàng
(thuộc huyện Hoằng-hóa, tỉnh Thanh-hóa ngày nay). Người giáp
ấy có kẻ thấy dấu-tích một con trâu trèo lên một cây
muỗm. Xem ra, thì là trâu trắng. Khá lâu sau, trâu lại xuống
bằng một lối khác. Lê Vãn bèn đoán rằng: "Trâu trắng là
một vật ở thấp. Nay nó lại trèo lên cao. Ðó là điềm
kẻ dưới được lên ở trên." Tuy các sách sử không nói,
nhưng có lẽ Vãn là tuổi Sửu (cầm tinh con trâu), và tự
cho rằng điềm ám-chỉ mình. Y bèn tụ quân làm loạn (TT).
Bấy giờ vào năm 1192, đời Lý Cao-tông. Vua sai Ðàm Dĩ-Mông
đem quân Thanh-hóa dẹp. Dĩ-Mông sai đẵn chuối bỏ sông, ngăn
cản thuyền của Vãn không bày thành trận đuược. Quân Dĩ-Mông
thình-lình tiến tới đánh gấp. Quân Vãn liền tan. 6.
(10)
- Chuyện Sư Giáng Hổ.- Mùa thu năm Ðinh-mùi 1187, đời
Lý Cao-tông, có một sư người Tây-vực (phía tây-bắc Ấn-độ)
tới Thăng-long. Cao-tông hỏi: "Sư biết phép gì không?" Sư
trả lời: "Biết giáng hổ." Vua sai tên chỉ-hầu-phụng-ngự
Lê Năng-Trường đem sư về công-quán ở, và sai người bắt
hổ để thử. Hơn một tuần sau, sư nói với Năng-Trường
rằng hổ ấy có thể phục được. Năng-Trường tâu vua. Vua
sai dựng chuồng trong các Vĩnh-bình. Rồi bảo sư vào chuồng
thử hổ. Sư đi ren-rén bước một, miệng đọc chú, tay cầm
gậy. Ðến trước hổ, sư lấy gậy đánh vào đầu hổ. Hổ
vồ lấy gậy. Sư lui ra, tâu vua: "Có người nào ác, đã giải
mất phép chú của tôi."
Một
hôm khác, vua lại sai thử lại. Sư xin làm đàn cầu Phật
trước. Vua bằng lòng. Nhưng sư làm lễ lâu không chịu vào
thử. Vua muốn thử cho đến cùng. Một hôm khác, vua ép sư
vào chuồng hổ. Hổ nhảy lồng lên rường nhà, cào, thét.
Sư sợ quá, lùi, không biết làm gì nữa. Bèn tựa chuồng
mà chết.
Chuyện
Thủy-Cung. - Lý Cao-tông thường say đắm chơi bời. Thường
lấy vải lụa bọc sáp chung-quanh, rồi vứt xuống hồ trong
Thượng-uyển, và sai kẻ hầu lặn xuống mò lên, để giả
làm như Thủy-cung đem hiến. Sau, có tên hầu là Vũ Cao, sợ
phải lặn mò. Y bèn bịa đặt kể lại chuyện sau: "Cao qua
chơi trên bờ hồ. Thấy một người lạ, cầm lấy tay mà
dắt đi. Ðến gốc cây muỗm trên bờ hồ, người kia kéo
Cao bảo đi xuống nước. Cao sợ chết đuối, không giám tiến.
Một lát, thấy nước rẽ ra. Cao bèn đi vào. Ðến một nơi,
thấy cung-điện nguy-nga, thị-vệ nghiêm-chỉnh. Cao hỏi ai
ở đó. Người kia trả lời: ta ở đó để quản hồ này.
Rồi người kia sai giọn mâm-cỗ, cùng Cao uống rượu. Rượu
xong, Cao xin về. Người kia đưa cho cau cầm tay, rồi dẫn ra.
Ðến gốc cây muỗm, thì không thấy người kia đâu nữa,
mà trong tay, cau đã hóa ra mấy viên đá. Bấy giờ Cao mới
biết hồ có thần."
Cao-tông
nghe chuyện, không sợ-hãi gì cả, mà còn sai chôn sắt để
yểm thần. (VSL 1206)
Chuyện
gọi nước. - Ðến mùa đông, nước hồ cạn. Cao-tông
không thể dong thuyền chơi trên hồ được. Vua bảo kẻ hầu
chung-quanh: "Có ai làm phép cho nước sông lên đầy hồ được,
thì ta sẽ hậu-thưởng." Có tên Trần Túc trả lời: "Tôi
làm được." Không phải như ta tưởng; Túc không làm máy tát
nước đâu. Y định làm phép chú. Vua sai làm, nhưng nước
không lên. (VSL 1206)
Chuyện
giáng sấm. - Tính Cao-tông sợ sấm. Mỗi lúc nghe sấm động
thì run sợ. Có tên cận-thần Nguyễn Dư khoe rằng mình có
phép giáng sấm. Gặp khi có tiếng sấm kêu, Cao-tông bảo nó
làm phép. Dư ngửng mặt lên trời đọc chú. Sấm lại càng
kêu lớn. Vua hỏi tại sao, Dư trả lời: "Tôi đã răn nó từ
lâu, mà nó còn cường-bạo như thế đó!" (VSL 1206).6
(11)
- Sau đây, kê những việc các vua Lý làm, có liên quan với
đạo Phật, Lão và Nho. Bảng kê theo hai sách TT3 và VSL4. Khi
nào cả hai sách cùng chép một việc, thì sau việc ấy, có
đánh dấu (C). Khi nào chỉ một sách chép chuyện ấy mà thôi,
thì chỉ đánh một dấu (T) hay (V). Còn về cách chép năm,
thì trong khoảng từ năm 1133 đến 1155, hai sách ấy chép lệch
năm nhau. Trong khoảng 1133-1139, cũng cùng một chuyện, sách
TT chép chậm lại một năm đối với VSL. Trong khoảng 1140-1155,
sách TT chép chậm đến hai năm đối với VSL. Muốn biết đâu
là hư thực, ta phải so sánh với những tài-liệu thứ ba.
Trong
khoảng đầu, TS5 và bia Ðỗ Anh-Vũ đều cho ta biết rằng
Lý Thần-tông mất năm Ð. Tị 1137, y như trong VSL. Thế mà
TT lại chép chuyện ấy vào năm sau. Ta phải nhận rằng TT
sai, mà VSL đúng. Vì đâu có sự sai ấy? Xét kỹ, ta thất
TT bỏ sót mất đề-mục năm Q. Sửu 1133, cho nên chép chuyện
năm ấy vào năm sau: rồi sự sai ấy kéo truyền đến năm
Canh-thân 1140, mà ta phải chữa ra K. Vi 1139.
Trong
khoảng thứ hai, TS cho ta biết rằng tháng 4 năm A. Su 1145, có
sao Chổi hiện. Thế mà sách TT lại chép vào năm 1146, và VSL
lại chép vào năm 1144. Vả chăng, TT còn cho biết rằng năm
ấy có tháng 6 nhuận; mà theo lịch Tống thì chính năm A. Su
có tháng nhuận. Vậy những việc chép vào năm có sao Chổi
đều thuộc về năm A. Su 1145. Trong khoảng nói đây, 1140-1145,
TT vẫn chép chậm một năm, mà VSL lại chép sớm một năm.
Trong
bảng kê sau đây, tôi sẽ theo nguyên-tắc trên mà chữa niên-kỷ
của hai sách.
Ðời
Lý Thái-Tổ. - Năm:
1010,
dựng chùa riêng Hưng-thiên-ngự-tự và lầu Ngũ-phượng-tinh-lâu
trong thành nội. Dựng chùa Thắng-nghiêm ở phương nam thành
Thăng-long (C). Phát 2 vạn quan tiền để dựng 8 chùa ở phủ
Thiên-đức, đều có dựng bia ghi công. Sức cho các làng phải
trùng-tu chùa-chiền. Phát 1.680 lạng bạc để đúc chuông chùa
Ðại-giáo . Chọn dân làm tăng. (T)
1011,
trong thành, dựng cung Thái-thanh ở bên tả, chùa Vạn-thọ
ở bên hữu. Dựng nhà tăng-kinh Trấn-phúc. Ngoài thành, dựng
chùa Tứ-dạ-thiên-vương (T). Dựng chùa Cẩm-y và Long-hưng-thanh-thọ
(C).
1014,
tăng-thống Thẩm Văn-Uyển xin lập giới-trường ở chùa Vạn-thọ
để cho tăng-đồ thụ-giới (xem 1011). Phát 310 lạng vàng để
đúc chuông chùa Hưng-thiên, và 800 lạng bạc để đúc chuông
chùa Thắng-nghiêm và lầu Ngũ-phượng (xem 1010). (T)
1016,
dựng các chùa Thiên-quang, Thiên-đức, và tô tượng Tứ-thiện-đế
(C). Dựng đền Lý Phục-Man. Chọn hơn 1.000 người ở kinh-sư,
cho làm tăng và đạo. (T)
1018,
sai Nguyễn Ðạo-Thanh và Phạm Hạc đi Tống xin kinh Tam-tạng
(C). Năm 1020 mới về. Vua Lý sai sư Phi Trí tới Quảng-châu
đón. (T)
1019,
độ dân làm tăng. (T)
1021,
dựng núi Nam-sơn chúc thọ (C). Dựng nhà tăng-kinh Bát-giác
(T).
1023,
sai viết lại kinh Tam-tạng, rồi trữ tại tàng-kinh Ðại-hưng.
(T)
1024,
dựng chùa Chân-giáo ở trong thành nội, để tiện việc tụng
kinh. (T)
1027,
sai viết kinh Tam-tạng.
Ðời
Lý Thái-Tông. - Năm:
1028,
dựng núi Nam-sơn chúc thọ. Dựng miếu thần Ðồng-cổ ở
phía hữu thành Ðại-la, cạnh sau chùa Thánh-thọ. Ðặt các
giai-cấp cho tăng và đạo. (T)
1031,
sai chữa và dựng nhiều chùa và quán; sách VSL chép 150 nơi,
sách TT chép 950 nơi. Lập pháp-hội. Ðặt chức ký-lục coi
cung Thái-thanh (xem 1011) và giao cho đạo-sĩ. (T)
1034,
vua thăm chùa Trùng-quang ở núi Tiên-du. Dựng nhà tàng-thư
Trùng-hưng. Sai Hà Thụ và Ðỗ Khoang đi sứ Tống. Vua Tống
tặng cho kinh Tam-tạng. Hai vị tăng Nghiêm Bảo-Tính và Phạm
Minh-Tâm tự thiêu; sai để xá-lị ở chùa Trường-thánh (T).
Ðào được hòm xá-lị ở chùa Pháp-vân tại Cổ-Pháp (C).
1035,
cấp 6 nghìn cân đồng để đúc chuông chùa Trùng-quang (xem
1034); chuông "tự dời đến chùa". (T)
1036,
khánh-thành phật-hội Ðại-nguyện ở Long-trì. Sai viết kinh
Ðại-tạng để trữ ở tàng-thư Trùng-hưng (xem 1034). (T)
1037,
tượng Phật cổ ở dưới đất mọc ra ở một vườn dâu
tại Ô-lộ. (T)
1038,
dựng bia chùa Trùng-quang (xem 1034) (T)
1040
đặt hội La-hán. Khánh-thành một nghìn pho tượng Phật bằng
gỗ, một nghìn bức tranh và một vạn cờ phướn. (T)
1041,
xây viện Thiên-phúc ở núi Tiên-du; cấp 7.560 cân đồng để
đúc tượng Di-lặc và chuông, đặt tại viện ấy (T)
1043,
vua đi thăm chùa cổ ở núi Tùng-sơn tại châu Vũ-ninh. Chùa
đã đổ. Có một cột đá tự nhiên dựng lại. (T)
1048,
dựng đàn Xã-tắc ở ngoài cửa Trường-quảng, để cầu
được mùa (C). Ðặt lễ rước trâu đất đầu mùa xuân (V).
1049,
dựng chùa Diên-hữu, tức chùa Một-cột (C). Nguyên vua mộng
thấy Phật-bà Quan-âm ngồi trên đài hoa sen, đến dẫn vua
lên trên đài. Lúc tỉnh, vua kể chuyện lại Triều-thần cho
là điềm gở (điềm vua chết). Sư Thiền-tuệ khuyên nên xây
chùa, dựng cột đá giữa hồ, đặt đài hoa sen có tượng
Quan-âm ở trên, như thấy trong mộng. Tăng-đồ đi vòng quanh
đài, tụng kinh để cầu cho vua sống lâu (T).
Ðời
Lý Thánh-Tông. - Năm:
1055,
dựng chùa Ðông-lâm (TUTA nói ở Ðiển-lạnh) và chùa Tĩnh-lữ,
ở Ðông-cứu. (V)
1056,
lập hội La-hán ở điện Thiên-an (V). Dựng chùa Sùng-khánh-báo-thiên;
phát 12.000 cân đồng để đúc chuông chùa. Vua tự làm bài
minh khắc vào chuông. Chùa này thường gọi là chùa Báo thiên,
ở chỗ nhà thờ lớn Cơ-đốc tại Hà-nội ngày-nay. (C)
1057,
xây tháp Ðại-thắng-tư-thiên, tức tháp chùa Báo-thiên (xem
1056). Tháp cao vài mươi trượng. TT chép tháp có 12 tầng, VSL
chép 30 tầng chắc sai. Dựng các chùa Thiên-phúc và Thiên-thọ
; đúc tượng Phạn-vương và Ðế-thích để thờ ở đó.
(C)
1058,
vua đi xem chỗ xây tháp Ðồ-sơn (ở nơi khách-sạn lớn tại
mỏm núi Ðồ-sơn ngày nay). (V)
1059,
dựng chùa Sùng-nghiêm-báo-đức ở châu Vũ-ninh. Vua đặt tên
cho tháp Ðồ-sơn là Tường long, vì "có rồng vàng hiện ở
điện Vĩnh-thọ". (V)
1063,
dựng chùa ở núi Ba-sơn để cầu-tự. (V)
1066,
sai lang-tướng Quách Mãn dựng tháp ở núi Tiên-du. (C)
1070,
dựng chùa Nhị-thiên-vương ở đông-nam thành Thăng-long (V).
Tháng 8, dựng (hay chữa, TT chép tu) văn-miếu; tô tượng Khổng-tử,
Chu-công, tứ-phối, thất-thập-nhị-hiền để thờ. Cho hoàng
thái-tử ra đó học (T).
1071,
vua viết chữ Phật, cao một trượng 6 thước (C); khắc vào
bia để tại chùa núi Tiên-du. (T)
Ðời
Lý Nhân-Tông. - Năm:
1072,
ngày Phật-đản, vua tới xem làm lễ tắm Phật. (C)
1073,
rước phật Pháp-vân về kinh để cầu tạnh. Lập đền thờ
núi Tản-viên (VSL chép vào năm trước).
1075,
thi minh kinh bác-sĩ. (T)
1077,
đặt hội Nhân-vương ở điện Thiên-an. (V)
1080,
đúc chuông chùa Diên-hữu (xem 1049), chuông không kêu, bèn vứt
xuống ruộng Qui-điền, cạnh chùa. Ðời sau, tướng Minh là
Vương Thông bị Lê Lợi vây ở Thăng Long, bèn phá chuông để
đúc súng. (T)
1081,
sai Lương Dũng-Luật sang Tống xin kinh Ðại-tạng. (V)
1085,
thái-hậu đi chơi khắp sông núi, có ý dựng chùa. (T; nhưng
chép lầm ra hoàng-hậu).
1086,
thi chọn những kẻ có văn-học, để bổ vào Hàn-lâm. Dựng
chùa ở núi Ðại-lãm. (C)
1087,
khánh-thành chùa ấy. Ðặt dạ-yến. Vua làm hai bài thơ. (C)
1088,
phong sư Khô-đầu làm quốc-sư. Chia chùa làm ba hạng, thượng,
trung, hạ. Dựng tháp ở chùa Lãm-sơn (xem 1086). (C)
1094,
tháp chùa Lãm-sơn (xem 1088) xong. Vua đặt tên chùa là Cảnh-long-đồng-khánh,
và đề tên bằng chữ triện vào trán bia. (V)
1097,
được mùa, thái-hậu dựng nhiều chùa .(T)
1098,
lập núi Ngao trên đất. Sai Nguyễn Văn-Tín đi sứ Tống, xin
kinh Tam-tạng. (V)
1099,
dựng chùa ở núi An-lão. (V)
1100,
dựng chùa Vĩnh phúc ở núi Tiên-du. (V)
1101,
dựng quán Khai-nguyên (V). Chữa chùa Diên-hữu (xem 1080). (C)
1102,
dựng quán Thái-dương, Bắc-đế và Khai-nguyên (xem 1101), để
cầu-tự. (V)
1105,
xây hai tháp lợp bằng ngói sứ trắng ở chùa Diên-hữu và
chữa chùa ấy (xem 1101, còn chi tiết thì xel XIV/7). Dựng ba
tháp bằng đá ở chùa Lãm-sơn (xem 1094). (C)
1108,
xây tháp ở núi Chương-sơn. (V)
1109,
xây đài Ðộng-linh. (V)
1110,
mở hội đèn Quảng-chiếu ở ngoài cửa Ðại-hưng. (V)
1112,
xẩy ra chuyện Giác Hoàng (XIV cth 2)
1114,
chữa chùa Thắng-nghiêm (xem 1014). Ðặt Thiên-pháp-đường.
Dựng lầu Thiên-phật để đặt một nghìn pho tượng Phật
(V)
1115,
khánh-thành chùa Sùng-phúc ở làng Siêu-loại, là quê thái
hậu Ỷ-lan (V). Trước sau, thái hậu dựng hơn trăm ngôi chùa.
Thế truyền rằng thái-hậu hối việc ép Thượng-dương và
các cung-nữ chết, cho nên dựng nhiều chùa để sám-hối.
(T)
1116,
mở hội đèn Quảng-chiếu. Từ Ðạo-hạnh mất và đầu-thai
(xem XIV/cth 2). (C)
1117,
khánh-thành tháp Vạn-phong-thành-thiện ở núi Chương-sơn (xem
1108). Thái-hậu Ỷ-lan mất. Hỏa táng, và ba cung-nữ chết
theo. (C)
1118,
khánh-thành tháp Thất-bảo. Khánh thành hội Thiên-phật ở
các chùa Thắng-nghiêm (xem 1114) và Thánh-thọ (xem 1028); có
dẫn sứ Chiêm-thành đi xem. Cầu được mưa. Vua viết vào
bia tám chữ: Thiên-hạ thái-bình, Thánh-cung vạn-phúc. (T)
1119,
khánh-thành hội chùa Tĩnh-lữ (xem 1055). (C)
1120,
đặt hội đèn Quảng-chiếu (T). Dựng đài Chúng-tiên. (C)
1121,
dựng chùa Quảng-giáo ở núi Tiên-du (C). Khánh thành điện
Trùng-minh ở chùa Báo-thiên (xem 1057) .(T)
1122,
khánh-thành tháp Sùng-thiện-diên linh ở núi Ðội-sơn (C).
1123,
khánh-thành chùa Quảng-giáo (xem 1121) và chùa Phụng-từ. Dựng
đài Tử-liêu. (T)
1124,
dựng chùa Hộ-thánh (T). Cầu mưa và xây đài Uất-la. (C)
1126,
mở hội đèn Quảng-chiếu, hội Nhân-vương ở Long-trì, hội
khánh-hạ Ngũ-kinh ở chùa Thọ-thánh (hay Thánh thọ xem 1118).
(T)
1127,
khánh thành chùa Trùng-hưng-diên-thọ. Vua mất. Cung-nữ lên
hỏa-đàn chết theo vua. (T)
Ðời
Lý Thần-Tông. - Năm:
1128,
vua tới chùa Thiên-long và Thiên-sùng để tạ sự cờ phướn
ở đó tự-nhiên bay. Vua lại tới hai cung Thái-thanh (xem 1011),
Cảnh-linh và các chùa quán khác để tạ ơn Phật. Cầu mưa
được. (T)
1129,
đặt hội khánh-thành tám vạn bốn nghìn bảo-tháp ở các
Thiên-phù (có lẽ tháp bằng đất nặn, nay còn thấy nhiều
ở đưới đất thành Thăng-Long). (C)
1130,
khánh-thành chùa Quảng-nghiêm-tư-thánh. (T)
1132,
làm lễ nghinh-xuân ở đình Quảng-văn, trước cửa Ðại-hưng,
nay là cửa Nam. (T)
1133,
dựng các quán Diên-sinh và Ngũ-nhạc (C). Dựng hai hùa Thiên-ninh
và Thiên-thành. Tô tượng Ðế-thích. Vua tới xem. (T)
1134,
khánh-thành ba tượng Tam-tôn bằng vàng để ở quán Ngũ-nhạc
(xem 1133). Khánh-thành quán Diên-sinh (xem 1133). (T)
1135,
chuông cổ ở dưới đất lộ ra (C). Vua ốm nặng, sư Minh-không
chữa lành. (T)
1136,
rước Phật Pháp-vân về chùa Báo-thiên để cầu mưa. Khánh-thành
chùa Linh-cảm. (T)
Ðời
Lý Anh-Tông. - Năm:
1142,
vua cầu mưa. (T)
1144,
vua cầu tạnh. Dựng đền thần Tản-viên (xem 1073), và đền
ông Nghiêm, ông Mẫu ở phường Bố-cái. Dựng chùa Vĩnh-long
và Phúc-thánh. (T)
1148,
đặt hội Nhân-vương ở Long-trì. (T)
1154,
đắp đàn Viên-khâu ở phía nam thành Thăng-long để tế lễ
Nam-giao. (V)
1156,
dựng miếu Khổng-tử (xem 1070). (C)
1160,
dựng đền Nhị-nữ (Hai bà) và X y-vưu ở phường Bố-cái
(V). Dựng chùa Chân-giáo. Lấy vàng đúc tượng Phạn-vương
và Ðế-thích, đặt ở hai chùa Thiên-phù và Thiên-hữu. (V)
1161,
dựng lại chùa Pháp-vân ở châu Cổ-pháp. (C)
1162,
dựng đài Chúng-tiên, trên lợp ngói bằng vàng, dưới lợp
ngói bằng bạc. (V)
1165,
mở hội đèn Quang-chiếu-diên-mệnh. (V)
1166,
bắt đầu làm lễ tắm Ðạo. Ðến năm 1171 thì bỏ lễ ấy.
(V)
1169,
chữa chùa Chân-giáo (xem 1160). Rằm tháng ba, có nguyệt-thực,
cá ở các cửa sông, cửa bể chết nổi. Vua sai các tăng,
ni, đạo-sĩ tụng kinh cầu đảo. (T)
1171,
chữa miếu Khổng-tử (xem 1156) và miếu Hậu-thổ. (C)
Ðời
Lý Cao-Tông. - Năm:
1179,
chữa thêm chùa Chân-giáo (xem 1169). Thi các tử-đệ tăng và
tăng-quan. (V)
1180,
sai Tam-giáo làm bia để ở Ðại-nội. (V)
1187,
chuyện sư giáng hổ (XIV cth 4)
1188,
vua đi cầu mưa ở chùa Pháp-vân, rồi rước tượng Phật
ở đó về để tại chùa Báo-thiên. (T) Dựng cung Thánh-nghi.
(V)
1189,
vua đi chơi khắp mọi nơi; đến đâu cũng có phong thần và
lập miếu. (T)
1194,
lấy vàng sai thếp tượng Phạn-vương và Ðế-thích, đặt
tại các chùa ấy. (V)
1195,
thi Tam-giáo. Mở hội đèn Quảng-chiếu. (V)
1198,
sa thải tăng, theo lời Ðàm Dĩ-mông (XIV 4)
1206,
dựng chùa Thánh huân. Chữa chùa Chân giáo (xem 1179). (V) Chuyện
vua sợ sấm (XIV 4)
Ðời
Lý Huệ-Tông. - Năm:
1224,
vua nhường ngôi cho công chúa Chiêu thánh, và ra ở chùa Chân-giáo
(xem 1206)
1226,
vua Lý tự thắt cổ chết ở chùa ấy. (T)