From:
<ddpp@yahoo.com>
Date:
Thu, 24 Jul 2003 16:44:56 -0700 (PDT)
To:
<banbientap@thuvienhoasen.org>
Subject::
Thế nào là cắt ái
Kính
thưa quý đạo hữu ,
Mẹ
của tôi là một Phật tử, rất thường xuyên đi chùa, bà
đã nhiều lần thọ bát quan trai, thọ Bồ tát giới.
Nói chung , cái gì thuộc về “hình thức Phật giáo " thì
mẹ tôi đều đã làm qua. Ba của tôi thì ngược lại
, không làm gì cả nhưng cũng không phản đối gì cả miễn
là Mẹ tôi đừng " đi Tu " là đủ rồi . Một dạo sau
nầy , mẹ tôi cứ khư khư nói rằng Mẹ tôi muốn " Cắt Ái
" , KHÔNG THƯƠNG , KHÔNG YÊU , KHÔNG LO cho ai nữa hết , có
như vậy mới Giải Thoát được . Từ ngày Mẹ tôi có ý định
đó , Ba tôi thường hay gắt gỏng , nói rằng mẹ của tôi
đang MÊ , vào Đạo mà MÊ thì thà đừng vào . Tôi , vụng
về lời nói , chỉ muốn xin quý vị hảo tâm , vui lòng chỉ
dạy cho tôi được rỏ thêm ý " Cắt Ái " trong lời Phật
dạy như thế nào , và Kinh nào phật nói như vậy , từ nguyên
nhân nào mà Ngài nói như vậy .
Thành
thật cám ơn
From:
Hoang Lien-Tam <hoanglientam@ỵ..>
Date:
Sun Jul 27, 2003 11:46 am
Subject:
Re: Thế Nào Là Cắt Ái (Unicode)
Trong
kinh Pháp Cú, Đức Phật dành nguyên một chương để nói về
ái dục vì ái dục là nguồn gốc của khổ đau. Ngài
dạy: “ái dục như dòng nước chảy xiết, xoáy sâu vào
mặt đất. Dòng nước đào đất thành hố, cuốn phăng
mầu mỡ, biến đất thành biển cả và hoàn toàn mất sinh
lực của đất (đất là vùng năng lực của tâm). Những
ai còn vướng bận ái dục, tình cảm, tài sản, sắc thân
và sự nghiệp thế gian một cách say đắm, kẻ ấy bị dòng
nước luân hồi cuốn về nơi vô định và sầu khổ triền
miên. Người nào biết hàng phục tham ái và dục lạc
thì sầu khổ tự khắc chấm dứt như giọt sương mai đầu
ngọn cỏ tan biến ngay, khi ánh mặt trời xuất hiện.
Đoạn trừ ái dục mà không đoạn trừ tận gốc rễ thì
cũng như người nhổ cỏ mây (birina) chỉ cắt trên đầu ngọn,
càng cắt trên ngọn thì gốc rễ cỏ càng sung sức và mọc
lớn mạnh. Muốn giải thoát khổ não, muốn thành đạt
trạng thái tịch tĩnh, không dục vọng, phải xa lìa ái dục..”.
[1]
Không
chỉ trong kinh Pháp Cú, ngay bài thuyết pháp đầu tiên của
Đức Phật, Ngài đã tuyên thuyết: “Hỡi các Tỳ kheo,
đây là chân lý cao cả về nguyên nhân của khổ: ái dục
đưa đến tái sinh này rồi lại đưa đến tái sinh khác, kèm
theo lạc thú và tham dục, nó luôn luôn tìm khoái lạc mới,
hết chỗ này lại đến chỗ kia, đó là: thèm khát những
lạc thú của cảm giác, thèm khát hiện hữu và thèm khát
không hiện hữu.”
Và
trong một kinh khác: Kinh Chánh Tri Kiến [2], Ngài Xá Lợi Phất
giảng về Tứ Diệu Đế, về Thiện và bất thiện và về
cái thấy chân chính. Ngài dạy chúng ta cái khổ, cái
nguyên nhân của khổ và làm thế nào đoạn diệt khổ.
Ngài nói: “Chính ái đưa đến tái sanh và đoạn diệt
khổ là sự đoạn diệt ly tham. ”
Chữ
Tham là Tham Ái hay Ái Dục, (Tanha) có nghĩa là luyến ái, thèm
khát, vướng mắc, không bao giờ thoả mãn. Có ba loại
ái dục: (1) ái dục đeo níu theo nhục dục ngũ trần, (2) ái
dục đeo níu theo những khoái lạc vật chất có liên quan đến
chủ trương đoạn kiến hay tuyệt diệt, (3) ái dục đeo níu
theo khoái lạc vật chất có liên quan đến chủ trương thường
kiến. Tổng cộng có tất cả 108 ái dục (sáu ái
dục liên quan đến sáu căn và sáu ái dục liên quan đến
sáu trần trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai nhân
với ba loại ái dục trên).
Mục
đích của đạo Phật là giải thoát con người khỏi khổ
đau luân hồi và những ai thực sự muốn làm điều
đó, phải đoạn diệt ái dục. Một cư sĩ tu tại
gia nếu thật sự muốn tu giải thoát cũng phải thực hành
việc đoạn diệt ái dục, không nhất thiết phải là tu sĩ
xuất gia mới phải thực hiện điều này và đức Phật dạy
trong các kinh đã đề cập như Kinh Pháp Cú là dạy chung cho
tất cả các hàng Phật tử, cho những ai thật tâm muốn
đi theo con đường giải thoát giác ngộ mà Ngài đã kinh qua.
Ái dục là một mãnh lực khủng khiếp, không những nó có
thể khích động cả một đời mà còn khích động nhiều
đời. Khi thân thể chúng ta tan rã, nó vẫn còn tiếp tục
thể hiện trong một hình thức khác và gây ra cái mà người
ta gọi là luân hồi. Đức Như Lai đã tìm kiếm và thấy
rằng ái chính là nguyên nhân của khổ, là rễ cái của khổ,
mặc dầu ái do vô minh, mà vô minh có là vì những chuỗi nhân
duyên khác. Và cũng chính Ngài đề ra phương pháp giải
thoát. Đó là đoạn trừ ái dục, mà cái ái dục này
bắt nguồn từ tâm ý nên phải “tự tịnh kỳ ý”.
Nếu
cho rằng việc cắt ái hay việc đoạn trừ ái dục chỉ áp
dụng cho hàng tu sĩ xuất gia là hiểu sai ý của Phật, là
chỉ y theo kinh mà giải nghĩa. Chính Tổ Hám Sơn nói trong
bài khai thị về những điểm thiết yếu khi niệm Phật là:
“Nghiệp bất trọng bất sanh Ta Bà. Ái bất đoạn bất
sanh Tịnh Độ”. Thế nên, biết rõ ái dục là cội
gốc của sanh tử. Khiến tất cả chúng sanh thọ khổ trong
sanh tử đều do ái dục. Cội gốc ái dục này không phải
chỉ hiện hữu trong một, hoặc hai, ba, bốn đời, mà nó đã
tự có sẵn từ đời vô thủy cho đến ngày naỵ. Sanh
sanh thế thế, xả thân thọ thân, đều do lưu chuyển theo
ái dục” [3]
Trong
lịch sử Phật giáo trung Hoa và Việt Nam cũng có nhiều vị
cư sĩ tu tại gia kiến tánh giác ngộ. Như hai vị
cư sĩ lừng danh mà ai cũng biết là cư sĩ Bàng Long Uẩn bên
TrungHoa và Tuệ Trung Thượng Sĩ của Việt Nam. Đó là
chưa kể đến Lục Tổ Huệ Năng.
Đối
với người cư sĩ tại gia việc đoạn trừ ái dục không
có nghĩa là phải sống cách ly với chồng vợ, con cái, cha
mẹ, mà là từ bỏ những dính mắc, những tham đắm trong
tâm, biết sống tri túc, tức là bằng lòng với tình trạng
vừa đủ để có niềm an lạc cho thân tâm. Việc
đoạn trừ ái dục phải được thực hiện tiềm ẩn trong
tâm ý, không phải bằng lời nói mà bằng thực hành.
Tuy vẫn phải làm tròn bổn phận với gia đình và ngoài xã
hội, nhưng trong tâm phải luôn luôn quán chiếu tài sản, cha
mẹ, chồng vợ, và con cái của mình đời này có thể không
phải là tài sản, là cha mẹ, chồng vợ, con cái của mình
trong kiếp tới hay trong những đời khác. Tất cả đều
là vô thường, vô ngã và khổ đau. Vì vậy đừng vì
họ mà luyến ái và vì do luyến ái mà tạo ra những nghiệp
bất thiện.
Điều
cơ bản mà người Phật tử tu tập tại gia, nằm trong phạm
vi gia đình chưa vượt khỏi hạn chế bổn phận và trách
nhiệm đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái như đức Phật
dạy trong Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt[4], . Thế nên, người
Phật tử phải biết phận sự của mình ở địa vị nào
hầu làm tròn bổn phận và trách nhiệm ở địa vị ấy.
Đồng thời để tránh tình trạng có người vừa quy y Tam
Bảo, hay vừa thọ giới Bồ Tát tại gia hiểu chút ít giáo
lý đạo Phật về nhà lại tỏ ra lãnh đạm thờ ơ với công
việc gia đình, chẳng muốn quan hệ với ai, nhắm mắt làm
ngơ, không thấy, không nghe những chuyện đời. Thậm chí đến
việc giáo dục con cái cũng "không bận tâm" luôn. Sống chết
tốt xấu mặc kệ, ai có nghiệp nấy, ta cứ thản nhiên lim
dim ngồi thiền hay tụng kinh niệm Phật cầu sinh Tây phương
Cực lạc. Hành động ấy vô tình gây thêm sự xáo trộn,
bất hòa giữa cha mẹ, chồng vợ và con cái, làm sai lạc
tinh thần giáo lý Phật dạy.
Đối
với những người tại gia thọ Bồ Tát Giới phạm vi rộng
rãi và bổn phận nhiều hơn nhưng gia đình và xã hội vẫn
là môi trường hoạt động chủ yếu. Trong Kinh Úc Già
Trưởng Giả [5], Đức Phật dạy cho những người tu Bồ Tát
tại gia phải có bổn phận, mục đích và cách thực tập
tu hành như thế nào trong khi vẫn sống đời sống gia đình.
Trong gia đình Ngài dạy phải biết cung phụng mẹ cha và yểm
trợ gia đình mình, được phép xây dựng sản nghiệp trong
khuôn khổ luật pháp, không dùng những phương tiện mua bán
không hợp pháp, không bất chính làm giàu. Không những không
được áp bức người khác mà còn phải giúp đỡ người
khác khi họ cần đến, phải dành một phần lợi tức kiếm
được để bố thí cho những chúng sinh nghèo khổ, kém may
mắn hơn mình. Đối với việc dục lạc phải luôn luôn
cảnh giác chúng là vô thường và chính sinh mạng của mình
cũng vô thường như một giọt sương và tài sản của mình
như một đám mây.
Ngoài
bổn phận và trách nhiệm đối với gia đình và xã hội,
người Bồ Tát tại gia phải dành thì giờ lẫn tâm lực để
hộ trì Chánh Pháp được trường tồn, điều phục và giáo
hoá chúng sinh. Trong kinh Úc Già Trưởng Giả, Đức Phật
dạy năm điều như sau cho những người thọ Bồ Tát giới
tại gia:
1.Bồ
Tát tại gia không tiếc bất cứ một tài vật sở hữu nào
và tương ưng với tâm nhất thiết trí, không mong cầu quả
báo.
2.
Bồ Tát tại gia thực hành phạm hạnh thanh tịnh, ý tưởng
dâm dục còn không có, huống là có sự dâm dục.
3.
Bồ Tát tại gia biết thực hành thiền quán ở những nơi
vắng vẻ và dùng những phương tiện của mình để cứu độ
người mà không (vào) Niết bàn một mình.
4.
Bồ Tát tại gia phải tinh tấn hành trì Sáu Ba La Mật và đem
lòng từ bi đối xử với tất cả các loài để hoá độ
cho mọi chúng sinh.
5.
Bồ Tát tại gia gìn giữ chánh pháp và luôn luôn tìm cách
giáo hoá và khuyên bảo mọi người
Chúng
tôi đính kèm hai bản văn kinh căn bản áp dụng cho người
Phật tử tu tại gia là Kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt và Kinh
Úc Già Trưởng Giả dành cho người đã thọ Bồ Tát Giới
tại gia để tham cứu . Một điều, tưởng cũng cần
nhấn mạnh ở đây, theo lời Phật dạy trong Kinh Úc Già Trưởng
Giả thì ngoài bổn phận như nói ở trên, mục đích của
người cư sĩ Bồ Tát tại gia là phải điều phục và giáo
hoá chúng sinh trong đó bao gồm chồng vợ, con cái và thân
bằng quyến thuộc. Nếu người cư sĩ Bồ tát tại gia
không nhiếp phục được cho những người gần mình nhất,
mà lại còn tạo cho họ niềm bực tức sân hận thì vị đó
chưa phải là một vị cư sĩ Bồ Tát tại gia. Việc thọ
giới Bồ Tát tại gia là do hành động tự nguyện của những
ai muốn phát tâm Vô thượng Bồ đề, đã hiểu, đã tin vào
Đại thừa và muốn thực hành giải thoát cho mình và cho các
loài chúng sinh. Thọ bao nhiêu giới và những giới gì
thì những ai thọ đều biết, chúng tôi chỉ muốn nhấn
mạnh ở đây, giữ giới Bồ Tát là chẳng những không làm
những điều ác, mà còn phải làm những điều lành, và trong
tâm luôn luôn mang ý nguyện thực hiện những điều có an
lạc, có hạnh phúc cho tất cả các loài hữu tình chúng sinh.
Nói
tóm lại, người cư sĩ tu tại gia phải làm tròn bổn phận
với gia đình và ngoài xã hội, không phải là quay lưng
lại với đời, tách biệt mọi quan hệ với mọi người
chung quanh. Đạo không tách rời khỏi cuộc sống
hiện thực của chúng ta. Người cư sĩ Phật tử cần
thể hiện qua cách ứng xử hàng ngày trong cuộc sống những
điều đã được học hỏi qua kinh sách hay qua các lời giảng
dạy của các bậc trưởng tử Như Lai để những người xung
quanh cảm nhận được những điều lợi lạc của đạo giải
thoát. Đạo Phật là đạo giải thoát ngay trong lòng người
và ngay trong cuộc sống hàng ngày, nên Lục Tổ nói trong bài
tụng Vô Tướng rằng: “Phật Pháp ở thế gian. Chẳng
lìa thế gian giác. Lìa thế kiếm Bồ Đề. Giống
như tìm sừng thỏ.”. Riêng vấn đề giáo dục con cái
trong gia đình người cư sĩ phải có trách nhiệm cao hơn nữa.
Khi chưa hiểu đạo thì ta hướng dẫn con cái theo chiều hướng
thế gian. Nay hiểu đạo phải có bổn phận hướng dẫn con
trẻ sống theo tinh thần Phật dạy. Thế nên, tu không
phải mặc nhiên ai làm gì thì làm, tốt xấu mặc kệ, mình
chỉ biết lo phận mình là đủ. Đó là cá nhân chủ
nghĩa. Người hiểu đạo phải tích cực cải thiện bản
thân và khuyến hóa người khác tránh ác làm lành và tự thanh
tịnh tâm.
Hoàng
Liên Tâm
Sách
Dẫn Chiếu:
[1]
Hoà Thượng Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Phẩm Tham Ái (Tanhàvagga).
Thiền Viện Vạn Hạnh 1996, Tr 183-207 http://www.thuvienhoasen.org/tb12-pc0.htm
Hoà
Thượng Thích Thiện Siêu, Kinh Pháp Cú, Phẩm Ái Dục, Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam 1993, Tr. 70-73
[2]
Hoà Thượng Thích Minh Châu, Kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ Kinh
9, http://www.thuvienhoasen.org/u-trung09.htm
[3]
Thích Hằng Đạt và Nguyên Phong, Những Lời Khai Thị của
Đại Sư Hám Sơn, Đường Mây Trong Cõi Mộng, http://www.thuvienhoasen.org/hamson-04.htm
[4]
Hòa thượng Thích Minh Châu, Kinh Trường Bộ 31, Kinh Giáo thọ
Thi-Ca-La-Việt Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam http://www.thuvienhoasen.org/u-truong31.htm
[5]
Kinh Đại Bảo Tích, Pháp Hội Úc Già Trưởng Giả Thứ 19
Hán dịch: Pháp Sư Khương Tăng Khải, Việt dịch: Tỳ Kheo
Thích Trí Tịnh http://www.thuvienhoasen.org/kinhdaibaotich-05-19.htm
From:
"Duc" <duc@t...>
Date:
Fri Jul 25, 2003 8:56 am
Subject:
Re: [hoasen-1] Cắt Ái " trong lời Phật dạy như thế nào
Kinh
anh,
Không
có Phật nào dạy người ta như vậy cả. Phật có bảo
người tu tại gia thì khác, tu ở chùa cắt bỏ trần đời
khác. Mẹ anh chỉ tu theo hình thức mà thôi. Nghĩa
là dị đoan nhiều. Mẹ anh có bao giờ nghe qua kinh Bát
Nhã Tâm Kinh và 38 pháp hạnh phúc không? Đó mới thật
sự là những gì người tu tại gia cần phải biết. Còn
cắt bỏ trần đời không thương yêu chỉ có các nhà sư mới
hành. Mẹ anh làm vậy chỉ gây xáo trộn gia đình và
làm cho con cái buồn bã. Người tu nhưng làm kẻ khác
buồn cũng là một cái tội và người đó chưa thể nào “không
thương, không yêu” mà gọi là bỏ hết ái dục được đâu.
Vài
hàng theo cảm nghĩ, có gì “lời thật mất lòng” xin huynh
trưởng bỏ qua cho.
Kính,
Duc
From:
Khucdinhhop@ạ..
Date:
Fri Jul 25, 2003 10:16 am
Subject:
Re: [hoasen-1] "Cát Ái " trong lời Phật dạy như thế nào ?
Chào
các đạo hữu,
Tôi
cũng có chung ý nghĩ như đạo hữu Duc. "Cát ái" là trường
hợp những người đã "ly gia", người tu giải thoát, nghĩa
là các vị xuất gia . Còn sống trong gia đình với chồng và
các con mà nói <<KHÔNG THƯƠNG , KHÔNG YÊU , KHÔNG LO cho
ai nữa hết , có như vậy mới Giải Thoát được .>> thì có
thể bị hiểu là vô trách nhiệm rồi đó.
Người
tại gia giữ gìn năm giới cho trọn vẹn, không làm điều
ác, siêng làm việc thiện, dành chút thời giờ để học kinh
luận, tọa thiền, niệm Phật, trì chú, v. v..., ngày lễ thì
đi chùa, nếu có thể thì rủ con cái cùng đi, cũng là quý
rồi . Mưa dầm ướt áo, những phước đức nho nhỏ cứ từ
từ vun bồi lên dần, một ngày kia, sẽ trở thành trợ
duyên, sẽ có thể có cơ hội xuất gia, nếu muốn. Khi đó
thì nên tìm chùa nào xa cách hẳn gia đình để hoàn tất được
ước vọng "ly gia cát ái".
Tôi
không dám làm "thầy đời", cũng chỉ góp ý nói mò, chưa thực
hành, có điều gì ngứa tai, xin các đạo hữu mua sẵn hộp
Q-tip.
Trân
trọng,
Hop
From:
"quanthuy" <quanhuynh@n...>
Date:
Fri Jul 25, 2003 11:24 am
Subject:
RE: [hoasen-1] Cắt Ái " trong lời Phật dạy như thế nào
Xin
đóng góp thêm vào chút ít với ý kiến rất hay cuả các d/h
khác. Phật tử là người có thể sống phù hợp và thích
ứng với mọi hoàn cảnh. Khi sung sướng không ỷ laị, khi
khó khăn không chán nản. Môi trường nào cũng chấp nhận,
hòa hợp, chuyển hoá, biến đổi cho tốt hơn. Vì người mà
làm chớ không vì mình. Khi đã thấy suốt lẻ đạo thì sống
trong môi trường nào cũng giống nhau, tại gia không khác chi
ở chùa, chổ nào cũng sống được\. Niềm vui ở tại Tâm
chứ không cầu tìm bên ngoàị
Hơn
nưã, người Phật tử có thể luôn sẳn sàng chấp nhận mọi
hoàn cảnh đến với mình và xem như đó là một cơ hội thử
thách, để tu, để chuyển hoá, chứ không bỏ cái này để
tìm cái khác vì mình nghĩ rằng cái kia hay hơn, thích hơn.
Lấy thí dụ chuyện Quan Âm thị kính, là người bị hàm oan
mà vẫn chấp nhận hoàn cảnh mà sống, không than van, không
oán hận. Chuyện xưa nói nghe thì thấy khó, nhưng cái tinh
thần đó ngày nay mình vẫn có thể làm được, dù rằng chỉ
trong một phạm vi nhỏ bé. Phải không quí vị??
Mến,
QT
From:
"Duc" <duc@t...>
Date:
Fri Jul 25, 2003 12:46 pm
Subject:
Re: [hoasen-1] Cắt Ái " trong lời Phật dạy như thế nào
Kính
gửi quí vị,
Nói
đến Quan Âm Thị Kính, chúng ta lại nhới đến thân phận
người phụ nữ VN. Nếu ngày xưa chỉ có một Quan Âm Thị
Kính bị xử nhục nhưng vẫn nhẫn nạị Thì ngày nay, có
trăm ngàn phụ nữ VN đang bị xã hội VN đối xử thậm tệ,
các phụ nữ VN có lòng nhẫn nại rất nhiều, như ở Ddài
loan, phụ nữ gã cho Ddài loan bị đối xử thậm tệ, ở VN
bị chồng đánh, nhưng các chị vẫn nhẫn nại chịu nhục
lo làm ăn và xá thân hy sinh để lo cho gia đình mẹ gia yếụ
Vì hoàn cảnh cuộc sống gia đình, họ phải vì tiền và bo
công vất vã làm những chuyện rất khó khăn mà phụ nữ thế
giới chưa chắc gì làm được hoặc nhẫn nhịn như các chị
phụ nữ VN.
Cầu
mong các chị xóm ngày không còn khổ cực nữa khi xã hội
VN không còn những nàng nghèo khó gây rạ
Giới
Hạnh,
From:
Hoan Hoan <tranhoan90@ỵ..>
Date:
Fri Jul 25, 2003 4:15 pm
Subject:
Lời dạy của thiền sư Hám Sơn
Lời
dạy của thiền sư Hám Sơn
Trích
từ Thư Viện Hoa Sen
BÀI
4 - KHAI THỊ VỀ
NHỮNG
ĐIẾM THIẾT YẾU KHI NIỆM PHẬT
Pháp
môn niệm Phật cầu vãng sanh cõi Tây phương Cực Lạc, vốn
là đại sự cắt đứt dòng sanh tử. Vì vậy bảo rằng chỉ
cần xưng niệm danh hiệu Phật là có thể cắt đứt sanh tử.
Do đó, ngày nay mới phát tâm niệm Phật.
Song,
nếu không biết cội gốc của sanh tử, mà cứ niệm Phật
mãi thì cuối cùng sẽ đi về đâu ? Nếu niệm Phật mà không
đoạn được cội gốc của sanh tử thì làm sao cắt đứt
dòng sanh tử ? Cội gốc của sanh tử là gì ? Cổ nhân nói
:
“Nghiệp
bất trọng bất sanh Ta Bà.
Ái
bất đoạn bất sanh Tịnh Độ”.
Thế
nên, biết rõ ái dục là cội gốc của sanh tử. Khiến
tất cả chúng sanh thọ khổ trong sanh tử đều do ái dục.
Cội gốc ái dục này không phải chỉ hiện hữu trong một,
hoặc hai, ba, bốn đời, mà nó đã tự có sẵn từ đời vô
thủy cho đến ngày naỵ Sanh sanh thế thế, xả thân thọ thân,
đều do lưu chuyển theo ái dục. http://www.thuvienhoasen.org/hamson-04.htm
From:
hai520222" <hai520222@yahoọcom>
Date:
Sun Jul 27, 2003 10:55 pm
Subject:
Re: Thế nào là cắt ái
<<Ái
dục không chỉ riêng về tình yêu, tình dục mà bất cứ một
sự tham đắm nào đưa đến dính mắc, ràng buộc, bất an
và khổ não đều được gọi là ái dục. Ái dục là gốc
rễ của khổ đaụ Thoạt mới nghe thì ai cũng có thể hiểu
và chấp nhận được nhưng làm sao đoạn trừ nó thì đó
là một việc vô cùng khó khăn. Người muốn đoạn trừ nó
phải trải qua một quá trình tu tập từ dễ đến khó, từ
cấp thấp lên cấp caọ ...>>
PTH
xin góp ý:
Kính
thưa quý đạo hữu
Chữ
"cắt ái ly gia" là để cho hàng xuất giạ Ý này bàn rất
kỹ trong Kinh Tứ Thập Nhị Chương:
http://www.thuvienhoasen.org/kinh42chuong.doc
Kinh
này dạy cho bậc Sa Môn, ngay Chương 1 là có nhan đề "Xuất
Gia Chứng Quả" và từ đó khai triển. Nhóm chữ "cắt ái ly
gia" là nói các vị từ giã người thân để xuất giạ
Tới
Chương 16
Bỏ
ái Dục Tất Đắc Đạo
Đức
Phật dạy: ;Người ôm giữ lòng ái dục chẳng thấy được
Đạo, ví như nước đã lóng trong lại lấy tay khuấy lên,
khiến những người đến xem đều không thấy được bóng
của họ\. Người đời vì bị ái dục xáo trộn, làm cho cấu
trược trong tâm nổi dậy, nên cha(?ng thấy được Đạo\.
Sa-môn các ông phải xả bỏ ái dục, cấu bẩn ái dục hết
sạch thì có thể thấy được Đạọ..
Cho
tới hết Kinh Tứ Thập Nhị Chuơng đều là lời dạy cho Sa
Môn.Còn bà cụ trong thư hỏi chỉ mới là bậc Ưu Bà Di, thì
chỉ nên giữ các hạnh của Ưu Bà Di, và khi thọ Bồ Tát
Giới thì nên giữ giới nàỵ Bà cụ không cần phải
"cắt ái ly gia" (từ bỏ người thân để xuất gia).
Mặt
khác, nếu bà cụ có tâm nguyện "cắt ái ly gia" thì nên tìm
hiểu thêm nghĩa "đoạn ái dục" của Ddại Thừa, và đặc
biệt là của hàng Bồ Tát. Hoàn toàn không có nghĩa xa lìa
tình cảm như người ta thường nghĩ. Ái dục cần xa lìa chính
là ái dục của các châp trước "ngã, nhân, chúng sinh, thọ
giả tướng" -- chứ hoàn toàn không phải là bi nguyện của
bậc Bồ Tát, mà cũng chưa trọn là lòng đại bi "vô sở duyên
từ" rộng lớn không phân biệt.
Nếu
bà cụ muốn tìm hiểu thêm về đoạn ái dục trong nghĩa của
Ddại Thừa, thì nên vào trang web này:http://www.phapam.com/selection.php?author=TT+Thien+Hue&selection=allvà
click vào KINH VIÊN GIÁC để nghe Thượng Tọa Thiện Huệ giải
thích về ái dục của "chấp ngã, nhân..." không liên hệ gì
tới lòng từ bi của Bồ Tát... (các băng đầu của Kinh này)
Khi
bà cụ hiểu được nghĩa này thì ông cụ và gia đình sẽ
không còn lo ngại bà cụ "ly gia" nữạ
Kính
trình
Cư
sĩ Nguyên Giác Phan Tấn Hải