THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
Luận Bàn Về Chánh Niệm

From: "Tinh Thuy" <tinhthuy@h...>
Date: Fri Jan 4, 2002 7:12 pm
Subject: Chánh Niệm

Hỏi : Có người cho là "để tâm bình thường trong hiện tại, không chạy theo ngoại cảnh, cho niệm hiện tiền đó là chánh niệm", đúng hay sai?

Đáp : Kinh Lăng Nghiêm nói :" Dẫu cho diệt hết tất cả kiến văn giác tri, tâm giữ u nhàn, vẫn là bóng phân biệt của pháp trần". Nói giữ niệm hiện tiền, chẳng phân biệt cái gì khác, làm sao được ? Dẫu cho làm được cũng vô ích, cũng là bụi trần, là vọng, là bệnh đã thành từ vô thỉ. Cho nên, hành giả phải tham đến tự ngộ mới được, nếu không, như Kinh Viên Giác nói" Chưa ra khỏi luân hồi mà biện Viên Giác, Viên giác ấy cũng là luân hồi".

Như nay chưa thức tỉnh, dù ở trong chiêm bao được khai ngộ, vẫn còn là việc trong chiêm bao. Kinh Lăng Nghiêm nói :" không gian hiện nay là ở trong biển giác của mình, do mê vọng mới có hư không, có hư không mới lập ra thế giới, nhưng hư không chỉ là một bọt nước trong biển giác", nếu bọt nước bể thì hư không cũng tiêu, ba cõi thế giới kiến lập ở đâu ? Không gian đã chẳng còn thì làm sao có thời gian ?

Nên Kinh Kim Cang nói :" Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc", là phá sự chấp về thời gian.

Tất cả không gian, thời gian, số lượng đều do vọng tâm tạo ra, nên nói người kiến tánh đập bể hư không, hư không tan rã, do vọng đã hết , tự nhiên hư không cũng mất, ví như bệnh nhậm hết rồi thì hoa đốm trên không liền tiêu. Nếu còn thấy hoa đốm tức bệnh mắt vẫn còn. Người thế gian hay có những "chủ trương" hoặc "cho là". những danh từ này đều là nguồn gốc của sanh tử luân hồi. (Trích: Duy Lực Ngữ Lục)


From: "Tinh Thuy" <tinhthuy@h...>
Date: Fri Jan 4, 2002 7:18 pm
Subject: Thế nào là Vô Niệm

Hỏi : Thế nào là "Lấy vô trụ làm gốc, vô tướng làm thể, vô niệm làm tông"?

Đáp : Trong Kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ giải thích :" Vô niệm chẳng phải không có bản niệm, ngoài bản niệm ra không được mống khởi niệm gì khác, mới gọi là vô niệm, chứ chẳng phải tuyệt luôn bản niệm, nếu bản niệm tuyệt là chết." Dù người chết, bản niệm cũng y nguyên không mất, vì đó là bản thể của tự tánh, chẳng đồng như gỗ đá.

Nhiều người hiểu lầm cho vô niệm là trăm tư tưởng đều dứt, ấy là sai. Ngài Lục Tổ giải thích : Lục căn tiếp xúc lục trần, sanh ra lục thức, không nhiễm không chấp thật tức vô niệm." Hễ thấy cái gì thì chấp cái đó, nghe được cái gì chấp vào cái đó, là có niệm. Thấy như không thấy, nghe như không nghe, chẳng phải là không biết, biết mà không chấp thật, mới là vô niệm.

Kỳ thật, vô niệm tức vô tướng, vô tướng tức vô trụ, mặc dù danh từ có ba, sự thật chỉ là một. Ngài Lục Tổ sợ người hiểu lầm, nên đã hai lần giải thích về vô niệm. (Trích: Duy Lực Ngữ Lục)


From: "Tinh Thuy" <tinhthuy@h...>
Date: Fri Jan 4, 2002 4:40 am
Subject: Thế nào là niệm mà chẳng niệm?
 

Hỏi : Thế nào là niệm mà chẳng niệm?

Đáp : Nói "Niệm mà chẳng niệm", niệm trước là bản niệm, cũng gọi là bản tâm, bản tánh, Tự tánh, Phật tánh, Thật tướng, Bát nhã, Pháp thân v.và mặc dù đủ thứ tên gọi, nhưng vẫn là bản niệm.

Bản niệm là luôn như thế, ngày đêm không gián đoạn, từ thân này sang thân khác, kiếp này sang kiếp khác. ỏNiệm mà chẳng niệmõ là ngoài bản niệm ra chẳng còn niệm gì khác, bất cứ khởi lên niệm gì, từ niệm tham sân si cho đến niệm từ bi, bác ái đều là vọng tưởng. Cho nên Lục Tổ nói " Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác". Nghĩ thiện nghĩ ác đều là niệm, hễ ở trong bản niệm nỗi lên niệm rồi, thì chẳng phải là "niệm mà chẳng niệm".

Bản niệm linh động, làm gì cũng được, Chư Phật Bồ tát làm mà chẳng niệm. Tại sao? Vì không qua sự tác ý. Có tác ý là niệm, tự tánh tự động hiển dụng, không cần qua sự tác ý. Cho nên, dù không nỗi niệm, tất cả việc làm đều tùy cơ hóa độ chúng sanh, không qua tác ý, cũng chẳng phải là không biết như gỗ đá.

Hỏi :Thế nào là niệm trước chẳng sanh,niệm sau chẳng diệt?

Đáp : Chư Phật chư Tổ đối với đương cơ tùy bệnh cho thuốc, nếu chấp vào những lời nói đó, là nghịch với ý Phật, ý Tổ, gọi là "tùy ngữ sanh giải", là con chó đuổi theo cục xương.

Bản niệm vốn bất nhị ,chẳng có trước sau, trước sau là nhị. Nói Tự tánh, thật tướng, Niết bàn cũng là nó; về con mắt thì gọi là bản kiến, về lỗ tai thì gọi là bản vănà đủ thứ tên gọi cũng là nó, chẳng phải mỗi mỗi khác nhaụ Do người hỏi pháp chấp đến đâu thì phá chấp đến đó: Chấp Phật phá Phật, chấp Bồ tát phá Bồ tát, chấp chúng sanh phá chúng sanh, chấp tâm phá tâm, chấp tướng phá tướngàđể khôi phục lại bản niệm. Nhưng hễ chấp vào lời phá chấp của chư Phật chư Tổ cũng là chấp, bệnh chấp vẫn còn, nên phải được ý quên lời, chớ có chấp lời nghịch ý.

Trích Đoạn: <<Duy Lực Ngữ Lục>> http://www.thuvienhoasen.org/duylucnguluc-04-0.htm


From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@e..>
Date: Sat Jan 5, 2002 8:34 am
Subject: Chánh Niệm

Chào d/h Tịnh Thủy,
Các lời giải thích của cố Hoà Thượng Duy Lực về Chánh Niệm và Vô Niệm thật sâu sắc và phản ánh đúng lý lẽ Thiền tông. Trong các bài giảng của ngài Dalai Lama mà tôi đã post, hay có thể sẽ post tiếp, thì người khởi tu tập Chánh Niệm vào lúc họ chưa " diệt hết tất cả kiến văn giác tri " và " tâm chưa giữ u nhàn". Nhưng khi đến cuối bước đường thiền quán theo đuổi thì họ đặt được Chánh Niệm vào tâm bản nhiên, và coi như chỉ còn một Niệm trên Bản Tâm, hay là Bản Niệm, rất gần với cái ý "vô niệm" được nói tới . Tôi giải thích thêm vậy để tránh suy diễn là lời dạy của ngài Đạt Lai Lạt Ma "chưa đạt". Thật ra thì pháp Thiền quán mà ngài dạy cũng không dừng lại ở chỗ Vô Niệm.

Hòa


From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@e..>
Date: Sat Jan 5, 2002 9:31 pm
Subject: Sáu Phương Cách Đạt Tới Thiền Định

Sáu Phương Cách Đạt Tới Thiền Định, Dalai Lama

Ban Thiền Lạt Ma thứ Nhất giải thích có sáu phương cách để đưa tâm tới trạng thái Định. Thứ nhất là làm tâm trở nên giống như mặt trời không bị mây che khuất. Không cần cố ý làm ngừng các vọng niệm, hay thiền quán theo cách không còn có ý niệm, mà chúng ta chỉ tập trung sinh động lên cái thô tâm ban sơ, tức cái bản chất "ở đây - bây giờ" (hiện trú) và không suy lự của tâm. Nó giống như mặt trời không bị mây mù che khuất vẫn luôn luôn chiếu sáng, và không thể bị che mờ bởi bất cứ vọng niệm nào, hay bởi sự giao động, trì tre của tâm thức. Nếu chúng ta tập trung sinh động, mạnh mẽ lên sự sáng tỏ chiếu ngời của tâm trong một thời gian dài, tự nhiên chúng ta sẽ đạt đến trạng thái vào Định.

Cách thứ hai là làm cho tâm giống như con chim ưng bay lượn trên bầu trời. Khi chim ưng lớn bay trên không, nhờ có sức mạnh mà nó không đập cánh nhiều như loài chim sẻ nhỏ. Nó chỉ

bay vút lên cao với một sức mạnh lớn, và không cần đập cánh, nó lượn trên cao trong một trạng thái thư giãn. Cũng giống vậy, không cần giữ tâm quá chặt hay quá lỏng, chúng ta để tâm bay cao lên đến một trạng thái chiếu ngời với sự sáng tỏ và sắc sảo, và rồi cứ để tâm lượn trong đó một cách thoải mái, không cần đưa vào đó chánh niệm và tỉnh giác theo cách mở rộng, cuồng nhiệt nào.

Phương cách thứ ba là giữ tâm như con tàu đi trên đại dương. Khi gió thổi, mặc dù sóng nhỏ có thể nổi lên trên mặt nước, nhưng sóng nhỏ không thể làm lắc lư chiếc tàu chở khách vượt đại dương. Cũng giống như vậy, khi tâm tập trung trên một đề mục, ngay khi nó để cho vài vọng niệm nhỏ dấy lên, nó không bao giờ bị lay chuyển, dù là nhẹ Như thế, ngay cả khi một niệm khởi lên, nếu chúng ta không làm gì đặc biệt để ra khỏi niệm, nhưng chỉ giữ trong một luõc sự

bình lặng như chúng ta đang có, thì sẽ thấy là chúng ta không thể bị vướng mắc trong một niệm nào.

Cách thứ tư là giữ tâm như đứa trẻ thơ vào trong đền thờ. Khi một trẻ thơ nhìn xem bên trong đền thờ thì nó không xem xét, tra hỏi về những chi tiết của những tranh tượng ở trên tường. Chỉ thấy những đường nét sơ lược, đứa trẻ thơ nhìn mà không để trở thành liên hệ Cũng vậy, khi tâm quán chiếu đang đặt vào một đề mục tập trung, bất kể những vật gây cảm xúc nào hiện ra trước nó, dù hấp dẫn hay chán ghét, nó không nhìn những vật đó với sự dò xét, hay tra hỏi. Cái tâm chỉ giữ sự tập trung nhất tâm lên đề mục. Nói cách khác, lúc thiền quán chúng ta coi bất cứ vật nào ở trước chúng ta chỉ như là trò chơi của ánh sáng, và vẫn giữ sự tập trung trên đề mục thiền quán.

Phương pháp thứ năm là giữ tâm như chim sẻ bay ngang qua bầu trời, và không để lại một dấu vết. Khi một con sẻ nhỏ bay ngang qua trời nó không để lại dấụ Cũng giống vậy, khi chúng ta kinh nghiệm những lạc thọ, khổ thọ hay xả thọ (trung tính) khởi lên lúc thiền quán, chúng ta cứ để chúng qua đi mà không để lại dấu vết. Không lưu luyến, xua đuổi, hay bị rối loạn u mê vì chúng, chúng ta gìn giữ việc tập trung trên đề mục quán chiếu.

Phương cách thứ sáu và cũng là cuối cùng là coi tâm như một miếng len bện cứng. Khi một miếng len bện cứng để vào trong nước nó sẽ lỏng ra và trở thành dẻo, mềm mạị Cũng vậy, khi tâm chìm vào trong Định, các mặt biểu hiện của tam độc và của các triền cái như giao động, trì trệ trở thành lỏng lẻo và tách rời khỏi cái tâm đang thiền quán.

Tu tập tinh thuần việc Thiền Định bằng cách đối phó với các vọng niệm theo những phương thức trên, thức giác của chúng ta bây giờ trở nên linh hoạt và lưu nhuận trong trạng thái hiện trú, không suy lự của tâm. Khi chúng ta đạt được nhất tâm trong trạng thái này, chúng ta nhận thấy tâm phát khởi lên một biểu hiện còn sáng rỡ hơn cả sự sáng tỏ của tâm. Cuối cùng, trước khi bị thu hút hoàn toàn (vào Định), chúng ta đến chỗ nhận ra được, một cách trọn vẹn và rõ ràng, một sự sáng tỏ minh bạch, không thể chất, không bị ngăn ngại bởi bất cứ vật gì, nguyên vẹn, trong sáng, không có màu sắc, không có hình dạng.

Tới giai đoạn này, chúng ta đã nhận ra được cái thô tâm ban sơ và thực hiện được một trạng thái Thiền Định tập trung lên cái tâm đó. Trên căn bản này, chúng ta quán chiếu về bản chất trống không sâu kín nhất của tâm. Nếu làm được điều này một caõch đúng đắn và thành công, thì khi làm hiện bày được cái tâm ban sơ tinh tế, chúng ta sẽ kinh nghiệm, mỗi lúc một rõ hơn, việc thiền quán đang đi tới khả năng quán chiêõu được bản chất Không của tâm với cái tâm ban sơ trong sáng, tinh tếõ nhất, lúc đó vừa là tâm quán chiếu, vừa là cơ sở của cái Không.

(Nguyễn Hòa dịch từ quyển Mahamudra)


From: "Hoa Nguyen" <thanhhuy@..>
Date: Sat Jan 5, 2002 1:36 am
Subject: Chánh Niệm và Tỉnh Giác trong Thiền Quán (Phần 2)

Chào anh PT Lâm và các đạo hữu, Bài sau đây nằm ở cuối quyển Mahamudra coi như là phần tổng kết của ngài Dalai Lama về các bài giảng trong sách ở trước đó. Có vài điều được nhắc lại, và cũng có vài điểm mới, với các phân đoạn nhỏ. Toi dịch thêm để bổ túc mesg Chánh niệm và Tỉnh Giác trong Thiền quán đã posted vừa rồị
Nguyễn Hòa

Chánh Niệm và Tỉnh Giác trong Thiền Quán (2)
Dalai Lama
Tập Trung Với Chánh Niệm Và Tỉnh Giác

Khi chúng ta nhận thức được cái tâm này "ở đây - bây giờ" (hiện trú)và không suy tư _ đó là trạng thái ban sơ của sự sáng tỏ và cái biết đơn thuần _ chúng ta lấy đó làm đối tượng tập trung cho thiền quán. Trong khi đang kinh nghiệm điều này, chúng ta tránh đừng để cho rơi vào tình trạng thu rút đến không còn sự hoạt động của tâm thức nào, hay không còn ý thức được điều gì, giống như khi chúng ta rơi vào tình trạng mê mang hay say ngủ. Nếu chúng ta thiền quán theo cách thức như vậy, thì ngay cả khi chúng ta có thể đặt lên được trên bản tính hiện truõ và không suy tư của tâm, chúng ta cũng không được lợi ích gì. Đó là vì có sự suy thoái chung của chánh niệm và tỉnh giác. Do đó, chúng ta phải cảnh giác là luôn luôn để thiền quán cùng đi với chánh niệm và tỉnh giác vững mạnh.

Chánh niệm là khả năng tâm thức đi theo trạng thái thiền quán để giữ sự chú ý cố định trên đề mục tập trung, để không xao lãng đề mục. Với chánh niệm, chúng ta thường xuyên nhớ tới đề mục, trong ý nghĩa thường xuyên giữ nó trong tâm, không để nó đi mất. Chức năng của tỉnh giác là liên tục kiểm tra tâm thức xao lãng, hay bất cứ sự dời chuyển nào ra khỏi đề mục tập trung, cũng như kiểm tra tình trạng trì trệ tâm thức. Với tỉnh giác, chúng ta lúc nào cũng giữ sự chuẩn bị chỉnh sửa tình trạng thiền quán nếu chúng ta nhận ra sự lạc hướng hay lỗi lầm nàọ Đây là sự trình bày chung về chánh niệm và tỉnh giác.

Làm Sao Tu Tập Tỉnh Giác Khi Trong Định

Điều quan trọng nhất để đạt đến trạng thái tâm không thay đổi trong Định là dùng chánh niệm và tỉnh giác một cách thích hợp. Gyelrong Tsultrim -nyima đã giải thích là nếu chúng ta nhìn vào khía cạnh tâm nắm giữ một cách nhất tâm đề mục tập trung để không xao lãng đề mục, chúng ta gọi đó là chánh niệm. Nếu chúng ta nhìn vào khía cạnh tâm vẫn nhất tâm đặt lên hay tập trung trên đề mục bao lâu mà nó nắm giữ đề mục, chúng ta gọi đó là Định. Như vậy hai khả năng tâm thức đó có cùng một thực thể , chúng đến như trong cùng một bao gói, và thực sự, chúng là cùng một tâm được nhìn từ hai chức năng khác nhau : nắm giữ đề mục và duy trì tình trạng đặt tâm lên đề muc.

Sụ giải thích về hai yếu tố tâm thức này đến từ kinh nghiệm thiền quán. Cách để thực hiện Định thật sự là cách mà chúng ta thực hiện chánh niệm. Bằng cách nắm giữ đề mục tập trung để không bao giờ mất nó, chúng ta thành tựu cách duy trì tình trạng đặt tâm một caõch nhất tâm lên đề mục, và bị thu hút vào trong đề mục đó.

Shantideva đã cắt nghĩ a làm sao phát triển sự tỉnh giác :" Khi việc đặt tâm được thực hiên, trong cái nghĩa chánh niệm đang giữ nó không rời cổng của tâm, thì tỉnh giác đến một cách tự nhiên. Ngay cả việc đặt tâm đó rời khỏi, tỉnh giác sẽ đem nó trở lạị". Định nghĩa riêng về tính bảo vệ của tỉnh giác là kiểm tra đi, kiểm tra lại tình trạng của thân và tâm.

Tsongkapa phân biệt hai mức độ tỉnh giác mà chúng ta cần khai triển. Mức độ thông thường là khi tỉnh giác đến cùng lúc với chánh niệm. Mức độ khác thường là sau này khi tỉnh giác thỉnh thoảng kiểm tra tại chỗ. Tuy nhiên, chánh niệm là yếu tố tâm thức tu tập chủ yếu, trong khi tỉnh giác là thứ yếu vì nó đến một cách tự nhiện trong trạng thái chánh niệm.

Khi chúng ta nói tỉnh giác là kết quả của chánh niệm, không phải là chúng ta muốn nói hai thứ đó đi theo mối liên hệ nhân quả, như caõi mầm nẩy từ hạt. Mối liên hệ của chúng giống như mặt trời và những tia ánh nắng. Nếu có mặt trời thì tự động có tia nắng cùng một lúc. Cũng giống như thế, nếu chúng ta có được chánh niệm mạnh mẽ như mặt trời, thì do đó chúng ta cũng có được tỉnh giác. Điều này dường như là sự giải thích đến từ kinh nghiệm thiền quán.

Khi chúng ta kiểm tra trạng thái tập trung bằng tỉnh giác, chúng ta làm điều đó chỉ với một góc của tâm. Phần chính là việc đặt tâm một caõch nhất tâm lên đề mục tập trung, trong khi chỉ một góc của tâm giữ việc kiểm trạ Chúng ta cần tìm ra số đo đúng mức cho việc này, bởi vì nếu chúng ta giữ sự canh chừng quá mạnh với tỉnh giác, sẽ có cơ nguy làm mất đề mục tập trung. Nói cách khác, lúc đó chúng ta sẽ tập trung nhiều vào sự canh chừng hơn là vào đề mục được để tâm. Cho nên chúng ta phải để tâm chìm sâu vào đề mục tập trung, cho tâm bị thu hút vào trong đó, tuy nhiên vẫn giữ sự canh chừng với một góc của tâm để kiểm tra coi việc đặt tâm được duy trì thích hợp hay không.

Giảm Trừ Vọng Niệm

Khi chúng ta nhận ra được sự sáng tỏ và cái biết đơn thuần là bản chất của tâm, chúng ta nắm chặt nó với chánh niệm, và như Ban Thiền Lạt La thứ nhất đã nói trong bản văn, một caõch nhất tâm "nhìn ngắm trọn vẹn " nó. Khi chúng ta đang thiền quán như vậy, nếu tâm dấy lên một tâm khởi hay những vọng niệm, trước hết chúng ta phải nhận ra được chúng. Khả năng làm được điều này tuỳ thuộc vào tỉnh giác.

Ở bất cứ trường hợp nào, trong cái tâm "ở đây-bây giờ" (hiện trú), không suy tư, chúng ta ngắm nhìn bản tánh của nó một cách sinh động và trọn vẹn, nắm giữ chặt với chánh niệm điều này như là một đề mục thiền quán, và duy trì sự canh chừng với tỉnh giác. Nếu khi đó, tâm bất chợt khởi lên một vọng niệm, thì đừng nghĩ chuyện ngăn chặn nó, mà chúng ta nhận rõ ra nó và tập trung vào bản chất của nó. Cái tâm hiện trú, không suy tư _ nói cách khác là cái tâm ban sơ _ cũng giống như một đại dương. Khi chúng ta xem các vọng niệm như những đợt sóng ngắn dấy lên từ đại dương mà không ra khỏi bản chất của nước, chúng ta sẽ không thấy các vọng niệm làm hại gì cho cái tâm hiện trú và không suy tư của chúng tạ Đây là điểm đặc biệt của phương cách nhận ra bản chất của vọng niệm, nghĩa là nhận ra những vọng tâm như chúng đang là gì đó. Khi tâm phát khởi một niệm, nếu chúng ta nhận ra được bản chất của niệm này, thì bởi vì chúng ta vẫn an trú trong tâm hiện trú và không suy tư, bao lâu mà caõi tâm nhận ra một niệm là một niệm vẫn chưa ngừng dứt, chúng ta không bị cái niệm đó nắm giữ. Đó là điểm chủ yếu của kỹ thuật nhận ra các niệm như chúng đang là gì.

Một phương pháp khác ở đây là khi tâm khởi lên một vọng niệm, thì có ý thức về nó ngay và chận ngừng nó lạị Nếu khi nhận ra được một niệm như là niệm ngay khi tâm khởi lên niệm đó, chúng ta theo dõi nó, theo dõi nhưng không dính mắc vào nguồn gốc phát sinh ra nó. Hoặc là, nếu chúng ta dùng phương cách thứ hai, chủ tâm ngăn chận bất cứ niệm nào khởi lên ngay khi nhân ra được nó, chúng ta cũng lại quay về với chính cái tâm hiện trú, không suy tự Nếu chúng ta tiếp tục việc tu tập, áp dụng siêng năng và liên tục cách này hay cách kia, chúng ta sẽ kinh nghiệm được, như là kết quả của thói quen do chúng ta vun bồi, tình trạng tâm an nghỉ trên tâm, mà trong đó các vọng niệm bị giảm trừ rất nhiềụ

Buông Thả sự Nắm Giữ Chặt Chánh Niệm

Khi chúng ta đạt tới tình trạng thiền quán mà các vọng niệm làm tâm xao lãng đã bị giảm trừ rất nhiềụ thì như Ban Thiền Lạt Ma thứ nhất nói " Hãy buông thả và thư giãn nắm giữ chặt chánh niệm, mà không làm mất chánh niệm". Điều nay có nghĩa là, ở bên dưới sâu của sự tập trung chúng ta vẫn duy trì một chánh niệm mạnh, nhưng trên bề mặt chúng ta nới nhẹ ra và thư giãn. Không cần nắm giữ quá chặt hay khăng cưõng trên bề mặt của sự tập trung.

Nếu nới lỏng mức nắm giữ của chánh niệm quá nhiều, tâm sẽ mất sự tươi mơõi và có thể mất cả sự sắc sảo của việc tập trung. Điều này gây ra sự trì trệ trong tâm, và làm tâm mất sức mạnh để nâng lên caọ Do đó chúng ta phải coi chừng không nên nới lỏng quá nhiều mứõc độ nắm giữ của chánh niệm. Chúng ta cần điều chỉnh mức nắm giữ đóõ cho vừa phải để việc vào Định không cóõ sai sót gì. Hơi thư giãn ở điểm này là cách thiền quán tốt nhất.
 

 

 
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap
Xx
Xx