|
|
c
Nhân
Ðọc "Thiền Ðịnh Cho Mọi Giới"
Và
Các Phản-Ứng Sau Ðó
Chơn Chánh
|
Theo chúng tôi,
trước hết mỗi người trong chúng ta nên thật bình bĩnh,
thật khách quan để nhìn sự việc một cách không thiên lệch
mà phê phán thì sự phê phán đó mới chính xác, mới công
bằng mà bản thân chúng ta không bị cuốn hút vào chính sự
việc đó. Thí như đánh cờ, người trong cuộc đôi lúc cũng
bị quáng, chứ người ngoài cuộc nhìn hai bên đánh cờ thì
thường rất sáng, vì không chút dính dấp. Tôi mong ước và
tha thiết ước mong đệ tử của hai Ngài chớ nên nóng nảy
mà vô tình làm tổn thương đến uy danh và công đức của
hai Ngài.
Dù là con ruột
của hai Ngài, như Tu-bồ-đề, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên,
A-Nan Ầ đối với đức Thích-ca đi nữa, chúng ta cũng phải
nên thật bình tĩnh mà xử sự, để chính hai Ngài không bị
lấn cấn với nhau. Thật ra, theo chúng tôi, việc này chẳng
đáng phải làm to chuyện, hoàn toàn không hay ho gì.
Bỡi dù gì đi
nữa, chúng ta cũng chỉ là đệ tử của quí Ngài, quí Ngài
vẫn luôn luôn là những bậc Ðạo-sư dẫn dắt chúng ta trong
c i này, ở hiện kiếp, đó là điều không ai có thể chối
cãi. Có khác chăng đi nữa là mỗi người trong chúng ta có
duyên với Ngài này, mà không có duyên với Ngài kia mà có
sự xa cách. Mà sự xa cách đó cũng chỉ là xa cách trong chỗ
pháp tướng của nhơn quả sanh diệt, huyễn hoá mà thôi, chứ
còn trong thật nghĩa của mọi pháp, đều trọn trong một chữ
"Như" huyền đồng, ảo diệu của Tự-tánh Như-lai mà thôi.
Ngay trong chỗ các bạn đang tranh cãi nhau, thật ra cũng chỉ
là huyễn nhơn nói chuyện với huyễn nhơn mà thôi.Và ngay
chỗ này, vì không tự biết kềm chế mà chính mình tự tạo
nghiệp vọng ngữ hồi nào không hay vậy.
Ngay như thời
đức Phật còn tại thế, các Ni-kiền-tử, các Bà-la-môn đến
tận chỗ Ngài tịnh cư mà tranh luận trong trạng thái nóng
nảy, tức giận, chửi bới Ngài cho đã miệng. Ðức Từ-phụ
của chúng ta không nói một lời. Ðể cuối cùng, những kẻ
nóng giận kia sắp sửa ra về, Ngài mới hỏi những kẻ đã
đến quấy rầy Ngài:
"Như có người
đem đến cho các Ông một vật gì mà các Ông không nhận thì
sao? - Thì người ấy phải tự mang vật bị từ chối trở
về. Ngoại đạo đáp.
Ðức Phật mới
nói cách từ tốn với những người vừa mắng nhiếc Ngài
:
"Thế thì hôm
nay các Ông hãy mang trở về tất cả những gì các Ông cho
Ta, vì Ta không chấp nhận nó".
Nêu câu chuyện
của đức Thế-tôn với ngoại đạo, chỉ nhằm mục đích
dè chừng cho các bạn, chớ vì quá nóng nảy trong việc bênh
vực Thầy của hai bên mà vô tình phạm vào giới cấm, tự
mình trói cột lấy mình. Và không những thế còn vô tình
vạch áo cho người xem lưng đó. Tự thân người viết hoàn
toàn trong chỗ vô tư, bình đẳng vì với chúng tôi, tất cả
chỉ vì sự sáng trong của đạo pháp, còn những việc khác
đều vô can, chẳng gì dính dấp.
Tuy nhiên, cũng
có người hỏi ngược lại: "Thế tại sao Ông lại viết chướng
ma đời mạt pháp để chỉ trích Thầy Chơn-Quang? - Xin thưa,
vì tôi nhận r như thật đó là ma gá vào người mà nói pháp
Phật để lừa người khác, để dẫn dắt người khác vào
ma đạo. Vì lòng thương người mà tôi viết để thức tỉnh
Thầy ấy, cũng như cảnh giác người khác nên sáng suốt để
khỏi phải rơi vào ma nghiệp. Còn đối với cá nhân Thầy
ấy, tôi chẳng có chút gì thù hiềm hay đố kĩ cả, thậm
chí còn chưa biết mặt mũi Ông ấy ra sao nữa.
Còn đối với
Ngài Thanh-Từ cũng như với Ngài Ðại-Lãn, là hai bậc Thầy
lớn (Ðại-sư) không xa lạ gì với tôi, đức-hạnh cùng tâm
nguyện cứu độ chúng sanh của hai Ngài đều to lớn như nhau,
tôi luôn tôn trọng và kính phục pháp-hạnh của hai Ngài.
Ðọc qua bài viết
"Thiền định cho mọi giới" bản thân người viết hiểu rất
r , chỉ vì cách dùng vài ngôn từ trong "Pháp Tu Thiền" có
chỗ bất ổn, sợ người tu dễ bị hiểu lầm nên mới sanh
kèn cựa một chút giữa hai Thầy mà thôi, chứ giải quyết
được chỗ khúc mắc này xong, thì hai Thầy cũng chỉ "Một".
Còn công đức của hai Ngài, theo ý chủ quan và sự hiểu biết
cạn cợt của tôi thì các Ngài đều là những Ðại Bồ-tát
ở hiện kiếp, đang vì Thế-tôn và Pháp của Ngài mà xiểng
dương không biết mệt mỏi.
Nhân thấy có
một số bạn thắc mắc trên mạng, rất nhiều người tôi
xin không nêu tên cá biệt, có lẽ vì chưa được gãi đúng
chỗ ngứa, nên tôi có mấy lời góp ý, để làm sáng tỏ
một lần cho xong sự việc.
Vì đem tâm mình
còn tại tiền nhơn quả mà suy tâm người, nên có khi cũng
có chỗ trật chăng, nên mong hai Ngài nếu tôi nói không đúng
thì xin được sám hối cùng mười phương hư không, ba đời
chư Phật, không dám vọng ngữ nữa mà tự tạo tội; lại
cũng xin hai Ngài tha thiết chỉ dạy, đính chính lại giùm
cho tôi chỗ thấy biết không chính xác ấy, cũng như cho tất
thảy mọi Phật tử đang tha thiết muốn đi đúng trên con
đường chơn chánh của Phật pháp .
Thưa hai Ngài!
Ðọc qua bài "Thiền định cho mọi giới" cùng những lời
phê phán của các đệ tử của quí Ngài trên mạng, chắc
hai Ngài cũng biết, chỉ vì những người phê-phán quá nóng
nảy, quá bức xúc, bỡi còn có chút tự ngã, tự làm người
trong cuộc nên lời lẽ xem ra không được bình tĩnh lắm.
Mong các Ngài từ-bi bỏ quá cho.
Và sau đây tôi
xin nêu ý kiến xây dựng của riêng tôi để các bạn Phật
tử cùng chia xẻ, nếu có gì sai sót xin được chỉ bảo,
để con đường tu học của tôi được rộng mở và thành
tựu công đức viên mãn.
1). "Biết vọng
là tu" :
Một vị tăng
tham vấn Hoà-thượng Khuê-Phong Tông-Mật:
Bạch Hoà thượng
, thế nào là tu ?
Ngài Tông-Mật
trả lời :
"Biết vọng là
tu".
Thật tướng
của các pháp đều huyễn hoá, thật tánh của chúng đều
Không.
Nên cả thảy
các pháp đều như hoa đóm xảy ra trong hư không.
Thật ra hư không
vốn không có hoa đóm, chỉ vì mắt nhặm mà nhìn có hoa đóm
hiện. Do vọng chấp mà lầm nên cứ tưởng hư không là chỗ
sanh ra hoa đóm.
Các pháp cũng
vậy. Bỡi vọng chấp mà có tứ tướng, có đầy đủ tất
cả các pháp, có đến đi sanh diệt, chứ trong chỗ tự thể
chơn thật thì như hư không, sáng trong tịch lặng, không chỗ
đến đi, không còn mất, lặng lẽ mà thường sáng soi.
Thế nên Ngài
Tông-Mật mới nói "Biết vọng là tu" là biết r các pháp đều
tự "Như", không chỗ dính dấp, nên tự sống trọn cách chơn
thật trong chỗ thấy biết chơn thật đó là tu rồi, còn phải
tu cách nào khác nữa. Ðã thấy biết như thật và sống trọn
trong chỗ chơn thật đó mà không khởi sanh một vọng niệm
nào, mình với tất cả các pháp đều dung thông, không chỗ
ngăn ngại, vượt hai bờ trói buộc, thì nói tu cũng được
mà nói không tu cũng được, vì nghĩa tu đối trong chỗ này
cũng không còn tồn tại nữa.
Chỗ "Biết vọng
là tu" dung thông, không ngăn ngại của Ngài Tông mật chẳng
khác Lão-tử thể hiện trong Ðạo-đức kinh:
"Hoà kỳ quang,
Ðồng kỳ trần - Cùng hoà sáng, đồng bụi trần) hoặc
"Thị chi bất
kiến danh viết DI,
Thính chi bất
văn danh viết Hi,
Bác chi bất đắc
danh viết VI .
Thử tam giả
bất khả trí cật,
Cố hỗn nhi vi
nhất.
Kỳ thượng bất
kiểu, kỳ hạ bất muội.
Thằng thằng
bất khả danh,
Phục qui ư vô
vật.
Thị vị vô trạng
chi trạng,
Vô vật chi tượng,
Thị vị hốt
hoảng.
Nghinh chi bất
kiến kỳ thủ. Tuỳ chi bất kiến kỳ hậu.
Chấp cổ chi
đạo. Dĩ ngự chi hữu. Năng tri cổ thuỷ,
Thị vị Ðạo
kỷ.
Tạm dịch Việt
văn :
"Nhìn mà không
thấy gọi là DI,
Lắng mà không
nghe gọi là Hi
Nắm mà không
được gọi là Vi.
Ba cái ấy chẳng
phân lìa nhau
Vì chúng đã
hoà làm MỘT.
Trên nó không
sáng,
Dưới nó chẳng
tối
Cao sâu vằng
vặt không tên gọi.
Rồi trở về
chỗ không một vật.
Nên cái hình
ấy chẳng có tướng mạo,
Cái hình tượng
của không một vật,
Tên là "không
có tên"
Chận không thấy
đầu,
Theo chẳng thấy
đuôi,
Giữ được đạo
xưa,
Chế ngự thực
tại
Biết r nguồn
cội,
Nắm giữ mối
Ðạo.
Chỗ "Biết vọng
là tu", nếu hành giả tự thấy biết như thật đó là các
pháp vọng, ngay cả tự biết như thật chính hành giả cũng
là huyễn nhân như bao huyễn pháp khác, rồi công phu huân tập,
trọn sống chơn thật dung thông trong nó, cũng là trong tất
cả các pháp mà không thấy ngại nhau, nghĩa là vượt lìa
tất cả mọi khái niệm trói buộc trong nhơn quả nhị nguyên,
không tốt xấu, không thiện ác, không thị phi, không trần
lao - không Niết bàn, không Chúng sanh, không Bồ-đề, thì ngay
đó nhận ra được chỗ nghe mà thật chẳng có nghe, thấy
mà thật chẳng có thấy, được mà chẳng có chỗ được,
vì ba tánh này huyền đồng trong một, sáng trong, không đến
đi, không còn mất, chẳng có không, an nhiên tự tại trong
chỗ Một diệu màu, cũng là cùng đạo không hai vậy. Câu
"biết vọng là tu" chính là nghĩa này.
Còn ở đây, Thầy
Ðại-Lãn có lẽ muốn nói, Pháp tu "Biết vọng không theo"
của Ngài Thanh-Từ chưa được hoàn hảo cho lắm, thay vì Ngài
nói "Biết vọng vọng diệt" để khuyến khích, chỉ dạy người
tu Thiền đừng để ý gì tới vọng-pháp, vì chúng không thật,
tự sanh ắc phải tự diệt, cùng với mình không dính dấp,
thì câu nói tự nó tròn trịa hơn, mà người tu theo pháp này
không sợ bị lầm lẫn trong chỗ theo, với không theo. Vì nếu
tinh ý một chút, chúng ta sẽ thấy rằng, chỉ vì hai chữ
"theo và không theo" đó mà người sơ cơ muốn tu Thiền nhưng
không có thiện tri thức trực tiếp hướng dẫn bên cạnh,
cứ mua sách về đọc rồi theo sự chỉ dạy trong đó mà tu,
thì dễ bị sanh tướng chấp trong chỗ ngôn ngữ là hai chữ
theo, và không theo.
Vì nếu theo, thì
là chấp thường, mà chấp thường thì dễ (tôi nói dễ) rơi
vào tà kiến, vì chấp thường "chấp có" cũng là chấp. Mà
nếu không theo, tức tìm cách xa lánh, trốn tránh nó cũng là
rơi vào chấp, "Chấp không", cũng là "chấp đoạn" vậy. Cho
nên theo hay không theo tự nó đều dính mắc vào một trong
hai bờ. Chúng ta phải thật bình tĩnh, và sáng suốt nhận
ra chỗ này. Bỡi nhận ra được chỗ này, thì không còn vướng
mắc, mọi thứ đều rộng mở, tất cả rỗng hoác, đến
nói cũng chẳng còn muốn mở miệng nữa.
Thế-tôn đã dạy
trong kinh Lăng-già:
"Ngã thường thuyết
không pháp, viễn ly ư đọan thường - Ta thường thuyết pháp
chơn không, lìa xa chấp đoạn và chấp thường". Bỡi vì chấp
thường thì rơi vào tà kiến, chấp đoạn thì rơi vào đoạn
diệt tướng. Nên cả hai Ngài đều lìa.
Hoặc trong Kim-Cang
kinh, Ngài dạy : "Như-lai sở thuyết pháp, giai bất khả thủ,
bất khả thuyết phi pháp, phi phi pháp - Chỗ nói pháp của
Như-lai đều chẳng chấp, chẳng thể nói là pháp, cũng chẳng
thể nói là chẳng phải pháp". Ðó mới chính là pháp chơn
thật của Như-lai vậy, hoàn toàn không chỗ dính mắc.
Thật ra, nói "Biết
vọng là tu" như Ngài Tông mật, hay là một câu cảnh giác
"Biết vọng thì vọng tự sanh tự diệt mất", cũng là "Tri
vọng vọng diệt" thì không bị vướng mắc gì.
Theo chúng tôi
nghĩ, có lẽ Thầy Ðại-Lãn cũng vì lòng từ bi, không muốn
Ngài Thanh-từ giữ nguyên hai chữ "Không theo" trong câu nói
"Biết vọng không theo" dễ làm cho người sơ cơ rơi vào ngôn
từ chữ nghĩa mà "chấp" lầm theo, với không theo mà uổng
phí công phu, chứ không có ý gì khác. Còn hai chữ "Biết vọng"
thì tự nó không dính dấp trong cách nói của Ngài Ðại-Lãn.
Nếu Hoà-thượng xem xét lại và có thể điều chỉnh hai chữ
"Không theo" bằng những từ khác thông thoáng hơn ắc có thể
làm lợi lạc cho chúng sanh nhiều hơn chăng ? Nếu được thế
thì Phật tử chúng tôi hoan nghênh lắm. Thật ra, những người
như chúng tôi và các bạn tôi đang tranh cãi trên mạng thì
không thể vì hai chữ "không theo" đó mà lầm được ý chỉ,
và pháp tu của Hoà thượng, nhưng chỉ sợ cho những người
sơ cơ, rất có thể dễ bị chấp lầm vào mặt chữ mà thật
hành sai Pháp tu Thiền của Ngài. Nay Ngài còn tại thế mà
sửa được thì cũng là phước lớn cho chúng sanh. Lỡ mai
kia Ngài trăm tuổi, thì ai dám sửa, mà không sửa thì người
dễ bị lầm, vì sẽ còn chuyện tam sao thất bổn, và diễn
dịch sai lầm ý chỉ của người xưa
nữa, chứ có
phải là việc nhỏ đâu? Nên tìm chữ nào cho thật rốt ráo
để sự lý được vẹn toàn thì thay cho hai chữ "không theo"
là hay hơn cả. Chúng tôi kính mong Hoà thượng xem xét lại.
2). Về câu :"Phiền
não tức Bồ-đề. Sanh tử tức Niết-bàn".của một bạn nào
đó đề cập.
Ðây là chữ trong
bộ Ðại-thừa Trang-nghiêm kinh luận. Quyển 6 Phẩm Tuỳ-tự.
Và nhiều bộ luận khác như Ðại-trí-độ luận quyển 6,
Pháp-Bảo-đàn .
Trong bốn câu
mở đầu Chứng-Ðạo ca của Thiền-sư Vĩnh-gia Huyền-giác,
nói rất r về nghĩa này. Nếu có dịp chúng ta sẽ nói riêng
về đề tài này, kẻo làm mất thì giờ của bạn đọc. Ðây
là một đề tài rất hay. Nếu bạn có duyên với Tổ-sư Thiền
, biết dụng nó làm thoại đầu mà tham thì ắc có ngày bạn
cũng được như thùng lũng chảy đó. Vì chỗ khởi nghi của
bạn rất có căn cơ với Pháp này. Cầu chúc bạn thành công.
"Tuyệt học vô
vi nhàn đạo nhân,
Bất trừ vọng
tưởng bất cầu chân,
Vô minh thật
tánh tức Phật tánh,
Aũo hoá không
thân tức Pháp-thân".
(Chứng-đạo ca)
Ðây chính là
câu trả lời cho câu hỏi "Phiền não tức Bồ-đề, Sanh tử
tức Niết-bàn" của bạn đó.
3) Biết có hai
loại :
Biết của Tri:
tức cái biết của tri thức, là cái biết do học tập, kinh
nghiệm mà có. Cái biết này cũng chỉ là cái biết của vọng
thức, cái biết còn trong mê, như chiêm bao nằm mộng không
khác. Cái biết này còn trong chỗ sanh diệt của nhơn quả,
như cái biết thiện ác, phải trái, tốt xấu, hơn thua, Thánh
phàm vvẦnghĩa là còn trói buộc trong khái niệm đối đãi
của hai bờ.Biết của Giác: tức cái biết của bậc Thánh-trí,
của Bồ-tát, của Phật, viên thông (bao trùm, xuyên suốt),
vượt khỏi nhơn quả và khái niệm
nhị nguyên .
Người vừa chợt ngộ tánh thì tự hay biết, mà nói không
thể tới vậy. Vì không muốn trong nhà có chuyện xào xáo,
nên chúng tôi có bài viết này. Rất mong, hết sức thông cảm
cho.
Phật gia Cư sĩ
Chơn-Chánh.
From:
<chungsinh@aol.com>
To:
<hoasen-1@egroups.com>
Sent:
Thursday, November 23, 2000 6:45 AM
Subject:
Re: [hoasen-1] Nhan doc bai "Thien dinh cho moi gioi"
Kính thưa Phật gia Cư sĩ Chơn-Chánh
,
Trong bài " Thiền định cho mọi
giới " , tác giả Ðại Lãn viết :
---" Trong khi đó đức Phật dạy
" Phiền não tức Bồ Ðề , Sinh tử tức Niết Bàn " . Vậy
nếu vọng tưởng phiền não bị loại bỏ không theo nó nữa
, thì lấy chi để chúng ta đạt Niết Bàn ? "
Do đó , có đạo hữu hỏi :
---" Ðức Phật nói câu này trong
kinh nào ? "
Nay , Cư sĩ trả lời :
---" Ðây là chữ trong bộ Ðại
Thừa Trang Nghiêm Kinh Luậân , quyển 6, phẩm Tùy Tự . Và
nhiều bộ luận khác như Ðại Trí Ðộ Luận , quyển 6 , Pháp
Bảo Ðàn v...v..."...
Kính thưa Cư sĩ ,
Nếu tôi nhớ không lầm thì đạo
hữu nào đó ( tôi xin lỗi đã không nhớ tên người hỏi
, nhưng câu hỏi thì tôi nhớ được đại ý ) đã hỏi , đại
khái rằng :
---" Ðức Phật nói câu đó trong
kinh nào ?
Tôi hiểu nỗi thắc mắc của đạo
hữu ấy . Ðó là , nếu do đức Phật nói , thì xuất xứ
phải từ kinh ( trừ kinh Pháp Bảo Ðàn là trường hợp đặc
biệt , tuy là Ngữ Lục nhưng vẫn được ghi là kinh , theo
ý Lục Tổ ) . Nếu câu nói được trích ra từ Luận , là
những tác phẩm do chư Ðại Bồ Tát , chư Tổ Sư , hoặc các
tác giả sau này viết , thì lại là trường hợp khác rồi
, thưa Cư sĩ . Chư Tổ thường dùng phương tiện thiện xảo
để tháo đinh nhổ chốt cho người học đạo . Ðôi khi, có
những câu nói khiến người nghe ngơ ngác , choáng váng , khựnghẳn
dòng tư tưởng lại . Nếu những lời chư Tổ nói được
ghi chép trong các bộ Luận , Ngữ Lục , đều được gán cho
là lời đức Phật nói , thì sau này , chúng ta sẽ có thêm
những " cái được gán cho là Phật nói " thêm vào các bộ
kinh do chính đức Phật nói , như :
Hỏi :
---" Phật là gì ?"
Ðức Phật đáp :
---" Ba cân gai "...
---" Cục c..khô "...
vân vân và vân vân ....
Vậy nhắc lại , vì tôi không có
phước đức lớn được đọc nhiều kinh, luận , xin Cư sĩ
trả lời r ràng dùm câu đó là do đức Phật đã nói trong
kinh nào . Ðiều đó rất cần thiết để tránh những hiểu
lầm và những thêm thắt vào kinh điển sau này . Ngoài ra ,
tôi cũng có thêm vài thắc mắc , sau khi đọc bài của Cư
sĩ , thí dụ , để hù dọa những
người không đồng ý với tác giả Ðại Lãn , Cư sĩ dùng
những câu như :
---..."...chính mình tự tạo nghiệp
vọng ngữ hồi nào mà không hay ...
---..."...tự mình trói cột lấy
mình "...
---..."...vạch áo cho người xem
lưng ..."...
---..."...vô tình phạm vào giới
cấm ...
và còn làm cho người ta phải hoang
mang thêm bằng những câu như :
---" ...nên mới sinh kèn cựa một
chút giữa hai Thầy mà thôi , chứ giải quyết được chỗ
khúc mắc này xong , thì hai Thầy cũng chỉ " Một" . Còn công
đức của hai Ngài , theo ý chủ quan và sự hiểu biết
cạn cợt của tôi , thì các Ngài
đều là những Ðại Bồ Tát ở hiện kiếp , đang vì Thế
Tôn và pháp của Ngài mà xiển dương không biết mệt mỏi
...
Tôi là người hoang mang , vì nếu
tu hành lên được tới " cấp bậc Ðại Bồ Tát" rồi , mà
còn " sinh kèn cựa " , là vẫn còn giữ nguyên tật xấu của
chúng sinh còn sống mê muội trong màn vô minh dầy đặc như
tôi , thế thì tu tới bậc gì mới phá được Ngã chấp ,
hỏi làm sao mà tôi không hoang mang cho được, thưa Cư sĩ ?
Kính chúc Cư sĩ thân tâm thường
an lạc .
Chúngsinh
Subject:[hoasen-1]
Re: Nhan doc bai "Thien dinh cho moi gioi"
Date:Thu,
23 Nov 2000 07:47:45 -0000
From:hy_truong@hotmail.com
To:hoasen-1@egroups.com
Gởi các đạo
hữu trong Hoa Sen,
Việt Nam bây giờ
rảnh không lo tu, mà cứ thích viết văn có lẽ từ đây phải
đổi pháp danh của các quí vi. Ðại Lãn, Chơn Chánh, v.v...
thành "Thích Viết Văn" thì hơn. Vì họ hiểu Phật pháp cũng
giống như người ăn dừa mà chỉ ăn vỏ xanh bên ngoài nên
đâu có biết dừa có nước ngọt và cơm dừa ăn cũng ngon
nữa. Người nào đã ăn và uống thực nước và cái của
dừa thì đâu có cần để ý cái trái dừa ra làm sao và cây
nó mọc như thế nào đâu, do đó tranh luận thì vô bổ Nhân
tiện đây tôi có hai câu kệ nhắc nhở cùng quí vị.
"Y kinh giải nghĩa
tam thế Phật oan
Ly kinh nhất tự
tức đồng ma thuyết"
--- In hoasen-1@egroups.com,
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@e...> wrote:
> Cám ơn bài
của cư sĩ Chơn Chánh đã cho biết ông Ðại Lãn này là Ðại
sư. Nhưng nói theo chữ thường dùng trong nước thì cư sĩ
Chơn Chánh , chắc chắn theo cách viết thì cũng là đang ở
trong nước, đã ""đánh đồng " phải và trái, mê muội và
trí tuê. Tôi sẽ trở lại vấn đề khi có chút thời giờ
để viết.
> H.
> ----- Original
Message -----
> From: Lotus Productions
> To: Hoa Sen
> Sent: Wednesday,
November 22, 2000 12:52 PM
> Subject: [hoasen-1]
Nhan doc bai "Thien dinh cho moi gioi"
> Bai moi
> Nhan doc bai "Thien
dinh cho moi gioi" va cac phan ung sau dọ
> Phat gia Cu si
Chon Chanh
> http://www.lotuspro.net/11-2000/nhandoc.htm
Subject:
Re: [hoasen-1] Than gui quy Dao huu
Date:Sat,
25 Nov 2000 12:49:42 EST
From:Vanchungthanh@aol.com
To:hoasen-1@egroups.com
In a message dated
11/25/00 8:59:55 AM Pacific Standard Time,
thanhhuy@email.msn.com
writes:
<< ra cái
ngụy biện của Ðại Lãn và Chơn Chánh nằm ở chỗ mập
mờ đánh lận , lấy một câu nói trong trường hợp riêng
làm một chân lý phổ quát, lấy nguyên lý (chưa kiểm chứng
đúng sai) về bản thể tuyệt đốí để bàn về hiện tượng
tương đối trước mắt. Hãy đập đầu vào tường để coi
cái tường có thật là "Không " ? Lý luận của bài viết của
ông này cũng là vậy, nằm trong cái nhận thức, trình ....>>
Kính thưa chư
đạo hữu ,
Trích Luận :
..." ...Các đức
Phật căn cứ nhị Ðế
Vì tất cả chúng
sinh nói pháp
Thứ nhất là
nói thế-tục-đế
Thứ hai nói đệ-nhất-nghĩa-đế
Nếu người nào
không thể nhận thức
Phân biệt r hai
đế lý này
Thì đối với
Phật pháp thậm thâm
Không hiểu được
nghĩa Chân- thật- đế
Nếu không căn
cứ vào tục-đế
Thì không thể
nào biết Chân-đế......"...
( Trích Trung Quán
Luận , trang 207 . Luận giả: bồ tát Long Thọ ; dịch giả
: hòa thượng Thích Quảng Liên , tu viện Quảng Ðức xuất
bản.)
Bồ tát Long Thọ
đã nói :" Nếu không thể phân biệt được hai đế lý tương
đối và tuyệt đối , thì không hiểu đạo Phật ..."...Ðúng
vậy , lúc còn đang cần phải " Chư ác mạc tác , chúng thiện
phụng hành ..." , không làm điều này , siêng làm điều kia
, hai chuyện trái ngược hẳn nhau , mà lại cứ " Phiền não
tức Bồ đề " , " Sinh tử tức Niết Bàn "....., hết ý !!!
Cũng như đạo hữu Hòa , tôi cũng nhận thấy một số trong
chúng ta có cái tật thích nói lời cao tột , những lời phá
chấp của chư đại Tổ Sư , những lời của những người
mà tâm đã " không " rồi , trong khi trình độ tu chứng của
chúng ta thì ..., xin tự thẩm định .
Có điều là
những bậc mà " Tâm đã không " đã thoát vòng nhị biên ,
" Có đối với Không " , thì chuyện nhân quả cưng sẽ " có
hay là không " khác với chúng ta là những người mà cái gì
cũng ...CÓ !!!
Kính ,
Chungsinh
Thân gởi quý
Ðạo hữu .
Mấy hôm nay thấy
quý Ðạo hữu tranh luận đúng sai trên diễn đàn, tôi cũng
có mấy góp ý.
a. Những gì Ông
Phật gia cư-sĩ Chơn-Chánh nói trong "Nhân đọc Thiền định
cho mọi giới" , các Ðạo-hữu thấy có phải đều là vọng
cả phải không? Hoàn toàn là nói trong chỗ vọng. Không những
sự nói đó của Ông Chơn-Chánh là vọng, mà cả Thầy Ðại-Lãn,
cũng như Thầy Thanh-Từ cũng đều nói từ trong chỗ vọng.
Bỡi vì nếu nói chơn thì chắc chắn chẳng ai có thể mở
miệng nổi, vì Phật pháp vô ngôn.
Như vậy lời
của quý Ðạo-hữu đó là chơn hay vọng ? Cũng đều là vọng
cả.
Nếu mỗi người
đã tự có cái tâm bình đẳng thì không chấp một pháp nào,
cũng là tự sáng, thấy các pháp trong chỗ thực tại trước
mắt đều là huyễn hoá, không chỗ dính dấp, trói buộc.
Bỡi nếu có chấp thì chính quý Ðạo hữu làm hư ngay pháp
mà quý ÐH đang tu học, vì biết nó là vọng mà quý ÐH chấp
nó, để rồi tranh cãi đúng sai, phải trái thì r ràng quý
Ðạo hữu biết vọng mà vẫn theo vọng; thế mà quý Ðạo
hữu cứ nói là biết vọng không theo. Chính quý Ðạo hữu
tự mâu thuẫn với pháp hành của chính mình.
b. Tôi thấy Ông
Chơn-Chánh nói trong tánh cách thật khiêm nhường đối với
các vị Thầy, thế mà quý ÐH chỉ vì chỗ tự ngã quá lớn,
chỉ vì bênh vực Thầy mà không tự dòm lại chính mình để
thấy r tánh bình đẳng mà tự sáng tâm. Nói để biểu lộ
cái thấy biết của mình ra cũng chính là cách thí pháp, dẫn
đường cho người khác, chứ đâu phải nói để cho đã miệng,
hả lòng tức giận của tự ngã mà chụp mũ người khác là
phá đạo .
c. Riêng kinh nghiệm
bản thân tôi, tôi tu để thành tựu cho chính tôi trước đã,
mà không tu giùm cho bất cứ một ai khác, kể cả thành tựu
giùm cho Thầy tôi. Vì tôi biết có muốn cũng chẳng được
nào. Cứ tự sáng tâm trước đã, tự r nó thì tất thảy
bình đẳng.
- Nó tự như vậy,
hiện khởi như vậy, tự thấy biết chơn thật như vậy mà
nói không thể tới, xưa nay nó không tăng, không giảm, không
sạch, không nhơ, không diệt, và ta cứ sống thật bình thường,
bình đẳng trong chính nó thì thấy có gì sai trái đâu, cứ
như vậy mà giữ gìn thì tự thấy biết tánh tướng thật
của các pháp, không phân biệt mà tự nó vẫn biện biệt
r ràng, mà nói thì không được.
- Khi đã tự ngộ
thì cái gì là không đạo tràng, cái gì là không chân thật.
Chỉ vì chúng ta còn mê nên các pháp trở thành sai trái do
tâm ta phân biệt chấp trước. Nếu không phân biệt, chấp
trước thì có gì là không dung thông, tự tại ? Sở dĩ chúng
ta vì có tâm mê lầm cho rằng các pháp là thật có nên vọng
chấp phân biệt muốn nó thuộc về mình và theo nó, nên mới
có theo và không theo, cũng từ đó có sự sai biệt, ngăn cách,
mâu thuẫn lẫn nhau. Chính những hiện tượng này, đức Phật
gọi là những sợi dây tự mình tạo ra và tự mình trói buộc
chính mình.
- Trước hết
đức Phật muốn triệt hạ tâm vọng chấp cho rằng các pháp
là thật có, bằng cách phủ nhận chúng là không thật có,
nhưng không có nghĩa là đức Phật chủ trương các pháp là
không, mà cái "không" này chỉ để phủ nhận cái sai lầm
của chấp "có"mà thôi, chứ không phải các pháp là thật
sự không có, mà sự hiện hữu có được của chúng nhờ
vào các pháp "duyên" vào nhau mà hiện khởi, nên có sự hiện
hữu đó; sự hiện hữu này không thật là của nó, mà chúng
hình thành được là nhờ vào các duyên.
Ví như thân con
người, chúng ta gọi đó là một cái ngã, nhưng cái ngã này
không thật có, mà nó là một tổ hợp của Ðất, Nước,
Gió, Lửa (Chỉ cho sắc tướng), + cộng với Thọ, Tưởng,
Hành, Thức ( các Uẩn) nên có một cái ngã hiện hữu. Vậy
cái ngã hiện hữu này không thật có, mà nó chính là tổng
hợp tất cả những thành phần trên.
Ở đây chúng
ta gọi từng món một Ðất là ngã, Nước là ngã, Gió là
ngã hay lửa là ngã?
Hoặc Thọ là
ngã, Tưởng là ngã, Hành là ngã hay Thức là ngã? Riêng từng
cái một đó thì không thể nào gọi nó là ngã được. Nhờ
tất cả các yếu tố đó hợp vào nhau mà có một xác thân,
vừa có Tâm vừa có Vật mà chúng ta tạm gọi là ngã. Do đó
cái tên ngã này, theo đức Phật dạy thì chúng ta chỉ tạm
gọi là Ngã, và cái ngã này chỉ là một giả danh, mượn
giả danh để tạm gọi mà thôi, chứ thật ra cái ngã này
không có tự tánh của chính nó, vì tự tánh của nó không
phải Ðất, Nước ...Hành, Thức. Chính cái không có tự tánh
này mà đức Phật gọi là Không-Tánh, hay Không-Tự-Tánh, hay
Pháp-Không, và chính vì cái Không này nó hiện hữu, nên mới
gọi là "Chơn-không mà Diệu-hữu" vậy.
Có mấy lời góp
ý cùng quý Ðạo hữu.
Phổ-Ðồng.
Subject:Re:
[hoasen-1] Re: Chứng Ðạo ca
Date:Fri,
24 Nov 2000 15:44:04 -0800
From:"Hoa
Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
Reply-To:hoasen-1@egroups.com
Chào Ð/H Chung
Sinh,
Chắc đạo hữu
muốn nói về chuyện Ðại Lãn.Tôi được cái may hay cái rủi
là không biết Ðại Lãn là ai, nên có cái nhìn tôi cho là
tươi mát, không có thành kiến gì, dù coi thường hay kính
phục Ðại Lãn. Tôi chỉ xét nhũng gì Ðại Lãn đã viết.
Ông ấy trong bài đả kích HT TT đã viết : bây giờ là thời
Mạt pháp nên theo lời Phật trong kinh Lăng Nghiêm có Ma ra thuyết
pháp. Ở đoạn sau Ðại Lãn gọi Chơn Quang là Ma, và viết
thêm con Ma đó có thể liên hệ gì với con Ma trước không.
Nhiều ngươi nói Chơn Quang trước có học ơ Thường Chiếu
(hay là tin đồn), nhưng lời móc ngoặt (giữa HT TT Và CQ) như
trên thật là độc địa
Khi Ðại Lãn dùng
lời lẽ như vậy để chỉ một vị chân tu, đã trước tác
nhiều nhất ở VN, lập tự viện dạy đệ tử cũng nhiều
là MA, thì tôi cũng nghĩ Ðại Lan là loại ma vương nho nhỏ.
Và từ đó tôi nhìn thấy Ðại Lãn "dưới cái ánh sáng đó
".
Sáng nay có anh
nhắc lời của Huệ Năng bảo là " thấy lỗi của người
cũng là lỗi". Huệ Năng là bậc đạo cao, có thể nói một
lời như vậy, tuy là Huệ Năng cũng đã từng chỉ trích nhiều
người , trước tiên là Thần Tú. Còn bây giờ có người
làm vẻ cao đạo thì thấy khó coi, như chuyện bắt chước
Tây Thi .
Tôi đã đọc
bài của Ðại Lãn trên homepage của anh Bình Anson là "Công
Án và Nhận Thức". Ðó là bài mà Ðại Lãn dùng chỉ trích
việc HT Thanh Từ đã viết sách giải nghĩa một số công án.
Vậy mà tại sao anh Binh Anson lại đăng một ý kiến thị phi
chưa chắc là đúng. Tôi nghĩ vì không nhận thấy được Ðại
Lãn đã muốn viết gì. Tôi lên tiếng cũng để vài người
đọc lại những điều Ðại Lãn viết kỹ hơn. Rồi sau đó
ai muốn bênh vực gì cho Ðại Lãn thì ta tranh luận thẳng
thắn. Mà không cần làm ra vẻ cao đạo
Hòa
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
To:
<hoasen-1@egroups.com>, <vn-buddhism@saigon.com>, "Binh Anson" <binh_anson@yahoo.com>
Subject:
[hoasen-1] Fw: Về bài viết của TT ÐL (Re: Chứng Ðạo Ca)
Date:
Sat, 25 Nov 2000 08:07:36 -0800
Chào quý đạo
hữu,
Theo lời yêu cầu
của anh Bình Anson, tôi forward đến diễn đàn mesg dưới đâỵ
Nhưng, vì vấn đề thành rộng lớn thêm ngoài ý định lúc
đầu, tôi sẽ phải có vài lời nhận định về bài "Công
án và Nhận Thức của Ðại Lãn , khi tôi có được chút thời
gian rảnh rỗị
Kính
Hòa
----- Original Message
-----
From: Binh Anson
<binh_anson@yahoo.com>
To: Hoa Nguyen <thanhhuy@email.msn.com>
Sent: Friday, November
24, 2000 11:33 PM
Subject: Về bài
viết của TT DL (Re: Chứng Ðạo Ca)
> --- Hoa Nguyen
<thanhhuy@email.msn.com> wrote:
> [...] Tôi đã
đọc bài của Ðại Lãn trên homepage của anh Bình Anson là
"Công Án và Nhận Thức". Ðó là bài mà Ðại Lãn dùng chỉ
trích việc HT Thanh Từ đã viết sách giải nghĩa một số
công án. Vậy mà tại sao anh Binh Anson lại đăng một ý kiến
thị phi chưa chắc là đúng. Tôi nghĩ vì không nhận thấy
được Ðại Lãn đã muốn viết gì. Tôi lên tiếng cũng để
vài người đọc lại những điều Ðại Lãn viết kỹ hơn.
Rồi sau đó ai muốn bênh vực gì cho Ðại Lãn thì ta tranh
luận thẳng thắn.
> [...]
> BA: Kính anh Hòa,
> Cám ơn anh đã
forward đến tôi về message của anh gửi vào HoaSen-1@. Xin trình
bày vài điểm, và xin anh chuyển đến HoaSen-1@ để cho r ràng
(vì tôi đã rút tên ra khỏi diễn đàn nầy). Hình như anh
cũng có gửi message đó vào cả diễn đàn vn-buddhism@ nữa
. Nếu đúng như thế, thì cũng xin anh forward thư nầy vào vn-buddhism@.
> (1) Vào đầu
tháng 11, tôi có đưa vào website BuddhaSasana một bài viết của
TT ÐL về Thiền Công Án. Bài nầy là tôi copy từ website "Ðạo
Phật Ngày Nay - Buddhism Today" của Ðại đức Thích Nhật
Từ. Theo tôi,
bài nầy không có ý chỉ trích một cá nhân nào, mà chỉ có
những phê bình về thiền công án . Ðúng hay sai là tùy sự
phán xét của độc giả .
> (2) Trang web
BuddhaSasana chỉ đăng có 1 bài của TT DL. Tuy nhiên, bài viết
nầy cùng với hơn 10 bài viết khác của TT DL đã được đăng
trên Internet từ lâu, tại các trang web khác, chẳng hạn
như các websites
HoaSen và Ðạo Phật Ngày Nay . Mời quý vị đến đọc để
kiểm chứng.
Thân kính,
Bình
Subject:
Re: [hoasen-1] Than gui quy Dao huu
Date:
Sat, 25 Nov 2000 11:03:31 -0800
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
Reply-To:
hoasen-1@egroups.com
Chào quý đạo
hữu,
Tôi vừa nhận
được mesg này. Ðọc thấy hình như là muốn nói về tôị.
Nội dung thì bênh ông Chơn Chánh là khiêm tốn, tiếp sau bài
ông Chơn Chánh bênh Ðại Lãn là có lòng từ bi. Nếu tôi có
trả lời gì đó thì lại có thêm người nhảy ra bênh ông
này nữạ
Nên chỉ trả
lời một điểm. Cái kiểu nói "tất cả đều vọng" thì Ðại
Lãn đã có nói rồi ,cho nên ÐL bảo pháp "tri vọng ly vọng"
của HT Thanh Từ cũng là "vọng" (thì đã có sao ), và đương
nhiên phải hiểu thêm mọi kinh điển cũng đều vọng hết
(đây mới là tai hại). Nói như vậy thì còn nói gì nữạ
Tôi đã vạch
ra cái ngụy biện của Ðại Lãn và Chơn Chánh nằm ở chỗ
mập mờ đánh lận , lấy một câu nói trong trường hợp riêng
làm một chân lý phổ quát, lấy nguyên lý (chưa kiểm chứng
đúng sai) về bản thể tuyệt đốí để bàn về hiện tượng
tương đối trước mắt. Hãy đập đầu vào tường để coi
cái tường có thật là "Không " ? Lý luận của bài viết của
ông này cũng là vậy, nằm trong cái nhận thức, trình độ
như thế. Còn chuyện Tâm, Không Tánh luận gì đó ở đoạn
sau bài viết là thứ hoa? mù che dấu sự thiếu hiểu biết
và kém khả năng lý luận , nên tôi không cần bàn.
Hòa
Xem
Tiếp
x
|