|
|
c
Ðọc
bài "Công Án Và Vấn Ðề Nhận thức"
của
Ðại Lãn
|
Subject:
[hoasen-1] Ðọc bài "Công Án và Vấn Ðề Nhận thức" của
Ðại Lãn
Date:
Sun, 26 Nov 2000 23:03:32 -0800
From:
"Hoa Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
To:
<hoasen-1@egroups.com>, <vn-buddhism@saigon.com>
Chào quý đạo
hữu,
Trong mấy năm
gần đây, HT Thanh Từ dịch thêm nhiều sách của Thiền tông,
và gần đây thì thấy có quyển chuyên về Thiền tham công
án, như Bích Nham Lục (di.ch) , và một quyển giảng giải một
số công án. Bích Nham Lục do Viên Ngộ Khắc Cần (1063-1135)
soạn trên cơ sở 100 tắc công án của Tuyết Ðậu Trùng Hiển
trước đó, với "lời bình luận giải thích thêm" (tôi nhấn
mạnh các chữ trong ngoặc kép).
Công án là một
thuật ngữ dùng để chỉ việc tham cứu một vấn đề nào
đóqua lời nói, cử chỉ, việc làm của các thiền sư tiền
bối, cố phát hiện những ý nghĩa sâu kín ẩn tàng trong đó,
và nhờ thế mà được giác ngộ, chớ không phải nhờ vào
việc học tập kinh Phật , hay ngồi tham thiền (theo nghĩa thông
thường). Công án xuất hiện sớm nhất vào đời thiền sư
Hi Vận ( mất khoảng 847 và 859), sau rất lâu Sơ tổ Thiền
tông là Bồ Ðề Ðạt Mă khoa?ng 470-543 ?) , và Lục Tổ là
Huệ Năng (638-713). Nghĩa là trong hơn 300 năm, ở giai đoạn
đầu tiên, Thiền Tông Trung Hoa không sử dụng công án . Và
sau này có phái Thiền tông cũng không hoặc ít sử dụng công
án , như phái Tào Ðộng. Nhưng nói chung công án đã đóng
góp phần rất lớn trong việc phát triển Thiền tông, và cũng
để lại một kho tàng văn học Phật giáo rất đặc thù,
rất đáng gìn giữ và nghiên cứu ngay cho những người không
thuộc Thiền tông. Cho nên có nhiều người thường nghĩ: nói
tới Thiền tông là nói tới công án. Thật ra Thiền công án
chỉ là một phần của Thiền tông và thường được gọi
là Thiền Tổ sự
Tôi chỉ nhắc
lại vài sự kiện lịch sử như trên để quý đạo hữu của
diễn đàn không quen với công án nắm được một vài nét
đại cương, còn việc đi sâu vào nhiều chi tiết khác thì
không thể làm được bây giờ. Sau đây tôi muốn chúng ta
thử nhìn lại bài viết của Ðại Lãn để thấy được nội
dung bài viết và suy đoán tại sao lại có bài viết như thế.
Bài viết dài
21 trang trên Msword, với những điẻm chủ yếu : đặt vấn
đề hoài nghi khả năng của ngôn từ, và chống lại việc
giảng giải công án Thiền. Ðó có thể là chống lại việc
HT TT đang làm như nói trên hoặc ai khác cũng đang làm công
việc tương tự Thế nhưng về điểm thứ nhất thì ngay từ
khởi điểm
Thiền tông đã
cũng chủ trương dứt bỏ văn tự (bâ't lập văn tự) , theo
nghĩa bỏ (hay giảm) việc học nghĩa lý kinh điển , tuy trong
thực tế thì Thiền tông cũng có những bộ thiền ngữ, thiền
lục rất đồ sô. Thế nhưng ở đây Ðại lãn khi nói về
sự bất lực của ngôn ngữ là để chống lại việc dùng
ngôn ngữ giảng giải các công án, cho đó là "trò hí luận
ngoa ngôn xạo ngữ". "Xạo ngữ" là chữ mới do Ðại Lãn đúc
ra dùng ở đây thật là cực tả .Tôi trích một phần trong
đoạn mở đầu dài gần 3 trang :
---------------------------------------
trong việc cố
gắng đại chúng hóa Thiền tông bằng cách bàn luận - giảng
giải - định nghĩa - phân tích Thiền như thế này, hay như
thế kia qua những bộ luận dày cộm, với mục đích là để
cho mọi người cùng hiểu như chúng ta; hay bày ra những trò
hí luận ngoa ngôn xạo ngữ, nhằm trang điểm cho một
thứ kiến thức
què quặt qua cửa miệng. Những việc làm này đối với Thiền
tông chúng không ăn nhập vào đâu cả, mà trái lại đối
với Thiền chúng sẽ bị rơi vào bệnh" Khẩu đầu Thiền,"
một con bệnh nguy hiểm, rất tối kĩ đối với Thiền tông.
Ơỹ đây, họ đã biến Thiền tông thành một thứ Thiền
học bệnh hoạn, và đẩy chúng trở thành một thứ Thiền
giáo không hơn không kém, để từ đó họ mang chúng ra bàn
luận mổ xẻ như một đối tượng cần phải đạt đến
và, cái tệ hại không thể tha thứ được là, họ đã dùng
những công án người xưa, đem ra giải phẩu phân tích bàn
luận, để chứng t cái sở học của họ. Họ đâu biết rằng,
việc bàn công án của họ, không những không đem đến cho
mọi người một sự đạt ngộ nào về Ðạo cả, mà ngược
lại còn làm cho người ta xa lìa ngăn cách hơn; vì họ cứ
tưởng rằng: Lý Thiền lý Ðạo là như thế này hay như thế
kia, rồi an tâm cho rằng mình đã đạt Ðạo, đã đạt Thiền.
Từ đó, chấp vào khái niệm ngôn từ qua lời bàn của chúng
ta, cho đó là Ðạo là Thiền; thế là muôn kiếp ngàn đời,
họ bị chết chìm trong mớ khái niệm ngôn từ đó, làm sao
thoát ra được? Cho dù chúng ta nổ lực giảng giải phân tích
đến chỗ kỳ cùng của nó, và khiến cho mọi người hiểu
được, thấy được đi chăng nữa, thì cái hiểu và cái thấy
này, vẫn là cái hiểu cái thấy về một khái niệm biểu
hiện cho một thực tại, mà chúng ta chưa được thấy như
thực chính nó. Do đó, cái hiểu và cái thấy này, vẫn ở
trong vọng thức điên đảo phân biệt; còn tự nó, lý Thiền
lý Ðạo vẫn ở ngoài tầm tay và ngoài trí phân biệt của
chúng tạ Cái hiểu cái biết cái thấy ở đây, cũng giống
như kiến thức của bọn mù không hơn không kém. Vì kiến
thức của bọn mù có được về thế giới quanh họ, là nhờ
vào những người sáng mắt, dẫn nói phân biệt cho họ về
những sự vật chung quanh, và nhờ đó họ mới có những khái
niệm tưởng tượng theo thế giới mù của họ về hình tượng
màu sắc v.v... Nhưng những kiến giải tri thức này, chỉ là
những khái niệm mườn tượng về sự vật chung quanh, chứ
không phải chính như những sự vật mà họ nhận thấy bằng
mắt.
----------------------------------------------------------------------------
Như trên tôi
có nói chuyện giảng giải công án không phải la chuyện mới
mẻ gì vì đã có từ ngày quyển Bích Nham Lục được viết,
hay ngay trước đó nữa. Và cũng từ sau ngày đó không lâu
đã có hai ý kiến trái ngước nhau : nên hay không nên giảng
giải công án cho thiền sinh, cho người trong hay ngoài
Thiền tông, khi
họ muốn tìm hiểu. Tôi không muốn can dự vào cuộc "tranh
luận " như vậy, chỉ nêu một trường hợp cho những ai tò
mò tìm hiểu vấn đê ` này. Trong Thiền tông thông sử có
ghi công án Câu Chi Nhất Chỉ :" Hoà thượng Câu Chi đời Ðường
chỉ giơ một ngón tay thay vì trả lời câu tham vâ'n ". Tất
nhiên ít ai hiểu được một công án như vậy muốn nói gì.
Va `sau đây là lời giảng giải của Thiện Chiêu :" Cách giơ
tay của hòa thượng Câu Chi là học của hoà thượng Thiên
Long, vì ông ta nhờ nhất chỉ mà ngộ đạo. Nhất chỉ là
xuyên suốt ngàn vạn hiện tượng khác nhau của thế giới.
Vô tư tức vô ngã tức tính Không cho nên vạn vật chỉ là
một. "
Ðó là cách lý
giải của Thiện Chiêu , không biết có đúng với nguyên lý
của công án không, có giúp ích gì cho thiền sinh, chỉ biết
mỗi thiền sư lý giải mỗi công án có thể khác nhau xa. Như
vậy thì việc giảng giải một công án cũng chưa chắc giúp
người tham cứu hiểu được công án đó, hay khi họ dùng
trả lời cho thầy thì chưa chắc được chấp nhận. Huống
chi ngay từ thời trước đây ở Trung quốc đã có hơn 1700
công án. Bây giờ thì số đó lên rất cao. Riêng ở Nhật
tôi có đọc nhưng không nhớ chắc lắm thì số công án hiện
có từ 20 ngàn tới 40 ngàn, và càng ngày càng được đặt
ra thêm. Vậy thì có ai giải được hết không, và nếu cho
là có thì lại có thêm công án mới, ít nhất thì cũng hợp
với thời đại hay căn cơ hơn để thay thế công án cũ. Tôi
đã viết việc giải hay không giải công án không phải là
điều tôi quan tâm ở đây (va `do vậy tôi đã không mua cuốn
sách đó của HT TT sau khi thử đọc qua).
Việc đáng nói
là nội dung bài viết dài 21 trang của Ðại Lãn chỉ muốn
nêu lên luận điểm không nên giảng giải công án thì có
đáng được đăng ở trang chuyên về Thiền không .Tôi đa
~viê't trong một message :" Tại sao lại đăng một bài viết
có y' kiến thị phi chưa biết đúng sai ", là trong ý nghĩ đó.
Mong
anh Bình Anson
hiểu ro ~y' tôi hơn. Dù là chuyện nêu lên đúng hay sai thì
vẫn còn có nhiều người không cùng ý kiến đó.
Ðể chứng minh
thêm bài viết của Ðại Lãn chỉ có mục đích như trên'
tôi ghi thêm phần kết luận dài khoảng một trang, thật ra
thì có nhiều ý chung chung nhưng cũng thấy cái ý chánh là
không nên làm chuyện giải nghĩa công án :
Ðể thay lời
kết luận, chúng tôi tha thiết yêu cầu mọi người trong chúng
ta,hãy vì sự nghiệp giải thoát của mọi người, mà ngưng
đi những việc làm tai hại đó, vì chúng không có lợi, mà
ngược lại sẽ có hại cho chính ngày hôm nay và ngay cả mai
sau; bỡi vì chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp tình trạng
căn cơ của họ nghiêng nặng về lý trí phân biệt. Cho nên
đối với những người học Ðạo, họ chỉ biết đắm mình
vào thế giới ngôn ngữ văn tự, để rồi bị chúng đánh
lừa trở thành nô lệ, và tự th a mãn cho đó là cứu cánh,
đáng lý ra chúng chỉ là phương tiện bị vượt qua, nên đức
Phật Thích Ca đã từng tiên liệu trong kinh Lăng Già ngài đã
phủ nhận: "Bốn mươi chín năm ta chưa hề nói lời nàọ"
Thế mà cái hậu quả ấy vẫn xảy ra, càng ngày càng thêm
tệ hại không
phương cứu chữa! Chúng ta nên quay nhìn lại xem cái kiến
thức, mà chúng ta đã nổ lực thâu lượm nhờ vào ngôn ngữ
văn tự, tư duy học hỏi đó, có phải là cái bản lai diện
mục xưa nay của chúng ta hay không? Hay đó chỉ là cái quái
thai của vọng thức điên đảo phân biệt? Vậy thì cái bộ
mặt thật xưa nay của chúng ta nó ở đâu? Hãy cẩn thận!
Ðừng tự đánh lừa mình! Ðừng đánh lừa mọi ngườí!
Hãy tự thực hành theo những lời dạy của đức Phật, cho
dù chỉ là một chữ hay một câu đi chăng nữa, nếu chúng
ta thực hành thấu đáo vượt qua khỏi chúng, thì đó là một
việc làm lợi ích, chứ không phải học hỏi so sánh đối
chiếu thiên kinh vạn quyển qua ngôn ngữ này ngôn ngữ nọ,
để hiểu biết những lời dạy của đức Phật, rồi đem
ra bàn luận mổ xẻ phân biệt chúng đúng sai chi li qua sách
vở hay lời nói, rốt cuộc tham vẫn còn tham, sân vẫn còn
sân, và si vẫn còn si. Ðó không phải là mục đích tối hậu
của những lời dạy đức Phật, mà mục đích tối hậu của
đức Phật là thực hành giải thoát tất cả mọi trói buộc
của tham-sân-si ngay
trong cuộc sống
này, chứ không phải học để biết tham sân sị Như thế
chúng ta học để làm gì cho phí công vô ích, trong khi chúng
không can hệ gì đến vấn đề giải thoát tham-sân-si!?
------------------------------------------------------------
Một bài viết
vê `Thiền tông với công án mà kết luận bằng ba chữ quen
thuộc Tham Sân Si thì lạ lắm. Thiền tông ít nói đến chuyện
đó (tuy là vấn đề chung của Phật giáo) mà nói về cái
Tâm, và cái điểm nhắm không phải "giải thoát tham sân si"
(nghĩa ??) mà là Kiến Tánh. Trong cả bài về Thiền tông này
Ðại Lãn không hề nói gì về chữ Tâm và Kiến Tánh, ngoại
trừ một hai lần dùng chữ đãcó sẵn, không tránh được
, như :" Hơn nữa, cái Tự tánh xưa nay của chúng ta chưa từng
che dấu, nó luôn luôn hiển bày hiện hữu; nhưng tại sao chúng
ta không thấy được lại đi tìm cầu nó?"
----------------------------
Nghĩa là tuy có,
nhưng rất 'it, chỉ một hai lần. Còn về cái kiến tánh thì
đáng nghi ngờ lắm . Ðại Lãn chỉ dùng chữ "có thể" : "
Vậy thì việc thấy tánh thành Phật không phải là việc không
thể không làm được, và công án Thiền không phải vì những
lý do trên, mà không vượt qua nổi ." "Qua những trình bày
ở trên, r ràng công án không phải là đối tượng không thể
không vượt qua được
Cái cách nói không
dứt khoát, rụt rè về "kiến Tánh của Ðại Lãn khiên tôi
tin DL là người đứng ngoài Thiền công án, chỉ đọc nó
nhưng chưa chắc trọn tin ở giá trị của nó. Và đây là
về những người tu tập Thiền Tổ sư dưới mắt Ðại Lãn
: Giờ đây hành giả như người đui, người mù, người điếc,
người câm, đôi lúc họ quên cả ăn uống ngủ nghỉ làm
việc... Vì lúc này là lúc ngũ căn của họ không bị ngũ
trần bên ngoài chi phối, do đó những người đang sống chung
với họ, với tâm tạp loạn phân biệt như chúng ta, sẽ nhìn
thấy cách sống của họ khác với cuộc sống của chúng ta,
vì họ đang đi nghịch dòng sanh tử, trong khi chúng ta đang
đi thuận dòng sanh tử, có nghĩa là họ đang đi nghịch chiều
với chúng ta. Do đó, chúng ta mới có cái nhìn thấy họ như
là một người ngu ngốc khờ dại, khùng khùng điên điên,
hay nói theo danh từ thời đại là mát mát.
--------------------------------------
Không biết những
chuyện như trên đúng được mấy phần trăm. Nếu chỉ mười
phần trăm thì cũng đáng ngại lắm.
Những phần khác
là chuyện kể về Thiền (Thiền thoại) mà Ðại Lãn gọi
là công án, và những ý kiến chung chung về nghi tình thấy
có trong tất cả sách viết về công án, cho cho là không có
gì đáng bàn.
Tóm lại đây
làvài điều tôi nhận thấy :
1/ Chủ đích và
nội dung bài viết "Công án và vấn đề nhận thức" không
phải trình bày ý nghĩa cùng tính cách riêng của pha'p tu công
án, mà nhằm đả kích việc giảng giải công án mà ai đó
đang làm. Tôi không nhất thiết phải đoán đó là aị
2/ Ðại Lãn không
có một niềm tin đủ mạnh vào việc tham công án. Thái độ
giống như một người đang đứng ngoài Thiền Tổ sư mà nghiên
cứu vấn đề.
3/ Ðại Lãn rất
ít nói về chữ Tâm , vì ngại gi `đo' hay vì không quan tâm.
Dẫu sao thì Thiền tông cũng còn được gọi là "Tâm Tông"
với những câu nói ai cũng biết như : dĩ tâm ấn tâm, tức
tâm tức Phật, bình thường tâm, vô tâm...Co' thể nào là
khi nói nhiều về Tâm sẽ dễ nghĩ tới chuyện "duy tâm " ?
Thật ra nhà Thiền cũng thường nói : "Duy Tâm Tịnh độ ",
Tam giới duy tâm", mà có ngại ngùng gì đâu. Ngay cả cái khẩu
hiệu của "Thiền Tổ sư" do Ðại Lãn đưa ra chỉ có hai chữ
"Chỉ Thẳng", mà không nói r chỉ thẳng cái gì . Cho nên tôi
mới đã nói đó là cái từ rất vô nghĩa. Phải nói r là
Chỉ Thẳng Tâm để cho đúng với tôn chỉ của Thiền tông,
để khỏi bị hiểu lầm (hay hiểu ngầm ) là Chỉ Thẳng Vật.
Nhưng Ðại Lãn cũng cứ lập lờ.
x
|