|
|
c
Lời Mở
Ðầu:
(1) Vào trung
tuần tháng 11, trang web LotusPro của anh Tâm Kiến Chánh có đăng
1 bài của TT Ðại Lãn, tựa đề "Thiền Ðịnh cho mọi giới".
Bài nầy tác giả có chỉ trích Hòa thượng Thanh Từ . Và
từ đó đã tạo nhiều tranh luận trên diễn đàn HoaSen-1@
.
(2) Trước đó,
vào đầu tháng 11, đạo hữu Bình Anson có đăng trên trang
web BuddhaSasana một bài viết khác của TT Ðại Lãn, "Công án
và Nhận thức", bình luận về Thiền Công án. Bài nầy không
có chỉ trích một cá nhân nào cả .
Bài nầy là
do đạo hữu Bình Anson copy từ trang web Ðạo Phật Ngày Nay
. Bài nầy cùng với hơn 10 bài khác đã được đăng từ lâu
trên các websites HoaSen, Ðạo Phật Ngày Nay, v.v...
Ngay tại website
HoaSen, những bài của TT Ðại Lãn đã được xếp vào trong
1 mục riêng từ trước, có tựa đề là "Ðại Lãn", tại
URL: http://www.thuvienhoasen.org/VÐailan.html
(3) Message
của đạo hữu Bình Anson, đề ngày 25-Nov-2000, gửi đến
anh Hòa của diễn đàn HoaSen-1@ là để trả lời sự phê bình
của anh ấy (gửi ngày 24-Nov-2000) về lý do tại sao đạo hữu
Bình Anson đăng bài "Công án và Nhận thức". Trong message này,
đạo hữu Bình Anson không có đề cập chi đến bài "Thiền
Ðịnh cho mọi giới" của Phần (1) nêu trên.
(4) Ðể rộng
đường dư luận, chúng tôi cho đăng nguyên văn bài viết của
TT Ðại Lãn cùng những nhận xét của quý đạo hữu.
Thiền
Ðịnh Cho Mọi Giới
Ở
đây chúng tôi nêu lên chủ đề trên, có lẽ ai cũng có thể
hiểu Thiền Ðịnh dành chung cho mọi người từ lớn cho đến
nhỏ, từ già cho đến trẻ, từ xuất gia cho đến tại gia,
từ nội giáo cho đến ngoại giáo, đều có thể thực hành
được, điều đó là một cách hiểu đúng chính xác không
sai. Nhưng ở đây, chủ đề trên được đề cập nhiều hơn
dành cho giới Tịnh Ðộ tông, và Mật tông, vì chúng đang
bị những chướng duyên trong nội giáo làm chao đảo tín tâm
của họ, mà thủ phạm không ai khác hơn là giới tự nhận
cho mình là Thiền tông đã mang lại cho họ (Ở đây chúng
tôi không có tâm đố kĩ hay hủy báng chê bai gì về Thiền
tông, mà chúng tôi nêu lên những sự sai lầm của cá nhân
những người tự nhận mình là người thực hành Thiền tông,
không theo đúng cốt tủy của Thiền tông mà tự mình sáng
lập ra phương pháp tu rồi tự cho đó là Thiền tông Việt
nam vào cuối thế kỷ 20, và cũng từ đó ra sức chống báng
chê bai Tịnh độ tông và Mật tông, chứ chúng tôi không phải
hủy báng hay chê bai gì về Thiền tông cả; vì chính bản
thân người viết bài này là người đang thực hành Thiền
tông, và chúng tôi nói lên lập trường của Thiền tông là
giải thoát, bình đẳng, chứ không phải lập trường tranh
hơn thua, đúng sai, phải trái, thị phi để rồi hủy báng
nhau, bôi mặt đá nhau; mà ở đây chúng tôi đứng trên lập
trường tồi tà phụ chánh).
Ðúng như lời
đức Phật đã từng tuyên thuyết trong Kinh Lăng nghiêm và
nhiều kinh khác rằng: thời kỳ mạt pháp là thời kỳ Ma có
thể đội lớp Phật tuyên thuyết lời Phật dạy. Chúng có
thể ở dưới bất cứ hình thức nào miễn làm cho người
con Phật tin rằng họ là Phật, thì Ma cũng có thể làm được
hết, họ luôn luôn nói lời Phật nhưng việc làm của họ
là việc làm của Ma. Không Ma sao được, khi mà họ muốn xiển
dương Thiền tông của họ thì họ lại đi hủy báng đạp
đổ Tịnh độ tông, Mật tông để tranh thắng, dành người
về phần họ ( xin đọc quyển "Ba Vấn Ðề Trọng Ðại Trong
Ðời Tu Của Tôi" H.T. T. Thanh Từ viết, do nhà xuất bản Hà
nội x.b.1998); trong khi đó họ lại đi xiển dương cái gọi
là Thiền tông do tự họ chế ra cọng với sự cóp nhặt,
vá víu lại một cách mâu thuẫn, rồi dựng lên cái gọi là
Thiền tông Việt nam vào cuối thế kỷ hai mươi. Ngay trong
pháp tu mà họ đưa ra có sự sai lầm, mà chính người đưa
ra pháp tu cũng không biết là sai lầm thì thử hỏi họ có
kinh nghiệm gì về kết quả tu của chính họ hay không, chứ
đừng nói chi đến việc dạy người khác tu để đưa đến
chứng ngộ hay giải thoát!? Pháp tu "Tri Vọng Không Theo hay
Biết Vọng Không Theo" tự nó bẻ gãy chính nó, tự nó đạp
đổ chính nó, tự nó vô hiệu hóa chính nó. Vì sao chúng tôi
gọi pháp tu này là sai lầm, là tà kiến rơi vào đoạn diệt,
tự nó bẻ gãy chính nó, tự nó đạp đổ chính nó, tự nó
vô hiệu hóa chính nó? Vì Biết vọng không theo, có nghĩa là
khi chúng ta biết r bộ mặt thật của các pháp là hư vọng,
là vọng tưởng điên đảo, thì chúng ta sẽ
không theo nó
nữa, vậy có nghĩa là chúng ta đoạn tuyệt chúng, không theo
các pháp hư vọng nữa chứ gì? Nhưng ở đây có một điều
nghịch lý mâu thuẩn mà người chế ra pháp tu này không thấy,
đó là pháp tu "Biết Vọng Không Theo", nó là pháp vọng hay
nó là pháp chân? Nếu bảo nó là pháp Vọng thì pháp tu "Biết
Vọng Không Theo" cũng là vọng, mà đã là Vọng thì không theo.
Vậy thì người chế ra pháp tu này lấy cái gì để TU? Vì
ngay pháp tu "Biết Vọng Không Theo" cũng là pháp vọng, vì chúng
không ở ngoài vọng, do đó chúng ta không theo nó; như vậy,
pháp tu này đã bị chúng ta loại bỏ nó như muôn nghìn pháp
vọng khác rồi!? Còn trường hợp nếu chúng ta Biết Chân
thì có theo hay không theo?! Giải quyết nó như thế nào? Trong
khi đó đức Phật dạy Phiền Não Tức Bồ Ðề, Sanh Tử Tức
Niết Bàn. Vậy nếu Vọng Tưởng phiền não bị loại bỏ
không theo nó nữa, thì lấy chi để chúng ta đạt Niết Bàn
? Tu là sửa vọng, nhưng ở đây lại không theo vọng tức
là bỏ vọng? Vâảy ở đây chúng ta lấy cái chi để chúng
ta sửa nó thành chân, trong lúc vọng đã bị loại, bị vất
bỏ, bằng cách không theo; ngay đến pháp Biết vọng không
theo, chúng ta cũng không dùng pháp này để tu nữa, vì chính
bản thân của pháp tu này cũng là vọng?! Hơn nữa cái biết
này, ngay chính chúng cũng là cái biết của vọng, chứ không
phải cái biết của Giác ngộ, do đó cái vọng mà chúng ta
biết đó không thể diệt được, như trong "Giác mê, mê diệt"
của Phật được. Nếu như cái biết này mà diệt được
vọng, hay làm cho vọng lắng xuống khiến tâm
trở nên thanh
tịnh như H.T. nói thì thế gian này ai cũng có thể thành Phật
một cách dễ dàng, không cần tu chi hết, chỉ cần tri vọng
là thành Phật, là giác ngộ rồi, và chính H.T. cũng là Phật
rồi cần chi phải khổ sở tìm cách này hay cách khác hủy
báng chê bai Tịnh độ tông và mật tông? Khi mà cái vọng
này không chuyển được thì chúng ta sẽ phải tri vọng từ
kiếp này sang kiếp khác, rốt cuộc rồi đâu cũng vào đó,
không những thế mà khi chúng ta càng biết vọng nhiều chừng
nào thì càng huân tập vọng nhiều chừng đó. Như vậy rốt
cuộc là chúng tự tạo nghiệp vọng vô minh thêm, chứ đâu
phải tu để chuyển vô minh thành giác ngộ!? Khi tiền đề
của nó chính bị nó phá, thì thử hỏi những mệnh đề lệ
thuộc đi theo sau nó có còn đứng vững hay không? Ðó là điều
mà chúng tôi gọi pháp tu này là Ðoạn Diệt Tà Kiến là như
vậy. Những điều này chúng tôi cũng có đề cập sơ qua trong
hai quyển : "ÐƯỜNG VỀ HO THẲM" và "BUÔNG TAY HO THẲM" nhưng
ở đó chúng tôi đề cập chúng theo cách điệu của Thiền
tông, nên khó có người khám phá ra chỗ tận cùng của ý,
muốn nói của chúng tôi. (Ở đây chúng tôi xin mở ngoặc
một tí, ngay đến việc sau khi chúng tôi phê bình về pháp
tu "BIẾT VỌNG KHÔNG THEO" của H.T. là ÐOA€N DIỆT TÀ KIẾN,
thì có đệ tử của Ngài đến cật vấn chúng tôi là: Tại
sao Thầy bảo pháp Tu của H.T. là Ðoạn diệt tà kiến? Khi
đó chúng tôi mới hỏi ngược trở lại người đến hỏi
chúng tôi là: Vậy đạo hữu nghĩ pháp tu của H.T là VỌNG
hay là CHÂN? Ông ta ngập ngừng một lúc rồi trả lời: Là
Vọng! Chúng tôi hỏi tiếp: Nếu là Vọng thì lấy cái gì
để cho H.T. và đạo hữu tu? Ông ta không trả lời được.
Sau đó chúng tôi nói tiếp: Hãy cẩn thận! Ðừng để mình
đánh lừa mình, và người khác đánh lừa mình. Sau khi đưa
Ông ra khỏi cửa chúng tôi có nhắn gởi lại với H.T. rằng:
"GIÁC MÊ, MÊ CHUYỂN" đây là một sự thật chứ không phải
"TRI VỌNG KHÔNG THEO" đâu! Nếu H.T. muốn pháp tu của mình
đưa ra mà không sai lầm đoạn diệt thì nên sửa lại là:
"TRI VỌNG, KHÔNG CHẤP." Thì khả dĩ chấp nhận được, và
sẽ không có sự sai lầm, vì chúng có khả năng để cho hành
giả tiếp tục tu cho đến khi giải thoát được tất cả
mọi thứ vọng. Ở đây không chấp khác với không theo, vì
không theo là đoạn tuyệt không sống với vọng, trong khi không
chấp, không có nghĩa là đoạn tuyệt với vọng, mà vẫn sống
với vọng nhưng không chấp vào nó, nên không bị lệ thuộc
vào nó, và không bị nó trói buộc. Có thế mới tránh được
hai lỗi THEO và KHÔNG THEO của chấp thường và chấp đoạn.
Như vậy pháp tu này chỉ sai lầm trong hai chữ KHÔNG THEO, chứ
hai chữ TRI VỌNG thì hoàn
toàn không có
gì gọi là sai lầm cả. Trên là cách điệu hỏi đáp của
Thiền tông, nếu ai cùng căn cơ thì nhận ra ngay yếu chỉ,
còn không thì thật là khó vào.) Vì vậy cho nên chúng tôi
mới có những lời dong dài này đối với mọi người, mà
không ngoài mục đích là Tồi tà phụ chánh.
Cũng trong chiến
dịch này, hiện nay, ở trong nước chúng ta cũng đã xuất
hiện thêm một bóng Ma nữa đó là Thầy Chơn Quang, không hiểu
chúng có liên hệ gì đến bóng Ma trước hay không, nhưng chúng
cũng ra sức nổ lực hủy báng Tịnh độ tông, Mật tông và
luôn cả Ðại thừa một cách "mục hạ vô nhân," thiếu hiểu
biết, thuộc dạng điếc không sợ súng, hay ếch ngồi đáy
giếng nhìn trời bằng vung. Họ đã và đang ra sức đánh phá
Phật giáo, gây chia rẽ nhau bằng cách gây mâu thuẫn giữa
nội bộ Phật giáo qua việc chống phá Tịnh độ tông, Mật
tông, giữa Ðại thừa và Tiểu thừa. Sở dĩ chúng tôi gọi
họ là Ma vì, nếu họ là Phật thì không bao giờ họ lại
đi hủy báng bậc đạo sư mà họ đang tôn thờ bao giờ, dù
là hủy báng dưới bất cứ hình thức nào cũng là hủy báng.
Thật ra họ đâu có hủy báng Phật bao giờ, nhưng có một
điều mà họ không nhận ra được là họ đi hủy báng các
tông phái khác của đức Phật cũng chính là hủy báng đức
Phật, cũng là hủy báng chính mình mà họ không biết, hay
họ có biết nhưng đó là nhiệm vụ của họ!? Chúng ta có
quyền phê bình chỉ trích một cá nhân nào đó đã sai lầm
trong việc xiển dương Phật pháp, chứ chúng ta không có quyền
hủy báng một phương pháp nào đó của đức Phật dành cho
căn cơ khác với căn cơ của mình. Nếu mình làm như vậy
là vô tình mình hủy báng chính đức Phật, vì tất cả mọi
pháp môn do Phật nói ra đều tùy theo căn cơ của chúng sanh
mà Phật cho thuốc (pháp), với mục đích là làm lành con bệnh
đó; và khi bệnh đã lành rồi thì lúc đó chính là lúc con
bệnh được giải thoát (thân bệnh thì giải thoát đau khổ
về vật chất cơ thể mà tâm họ không chịu nổi, Tâm bệnh
thì giải thoát mọi khổ đau về phiền não vô minh). Vậy
mục đích cuối cùng của các pháp môn đức Phật dạy là
GIẢI THOÁT KHỔ ÐAU cho chúng sanh dưới mọi hình thức. Vì
là vô lượng pháp môn để đối trị với vô lượng căn
cơ bệnh, nên phải tùy thuộc vào căn bệnh mà cho thuốc chữa
trị chứ không thể lấy thuốc trị bệnh này đem chữa cho
bệnh nọ được, không thể lấy pháp dành cho người tu thiền
ép buộc người tu Tịnh độ tu được v.v...
Nếu là một vị
Thiền sư, một vị Pháp sư thì trước hết phải hoàn thiện
nắm vững được những sở học của mình về Phật lý tổng
quát cùng thâm nhập sâu vào pháp tu chuyên môn của mình, bằng
cách thực hành để đưa đến việc tri hành hợp nhất rồi
sau đó mới đi hướng dẫn người. Nếu không vậy thì người
đó chưa phải là một Thiền sư , chưa phải là một vị Pháp
sư chính hiệu; vì họ chưa nắm vững được bệnh án của
chúng sanh trong việc cho thuốc chữa trị bệnh, nên việc hướng
dẫn của họ không đạt kết quả, nhiều lúc đưa người
ta đến chỗ tẩu hỏa nhập ma, hay đi vào đường ma lối
quỷ, đó là chuyện có thể xảy ra không thể nào tránh khỏi
được. Thí dụ như người có căn cơ tu Tịnh độ mà mình
bắt họ phải tu theo Thiền chẳng hạn, thì điều gì sẽ
xảy ra nếu họ không tẩu hỏa nhập ma, thì có lẽ cũng khùng
khùng điên điên, hay mát mát gì đó suốt cả một đời không
gỡ nổi, vì chính vị thầy hướng dẫn họ đâu có kinh qua
những kinh nghiệm này! Và đây cũng là những hiện tượng
thường xảy ra trong giới tu Thiền lâu nay, mà những người
đứng ra hướng dẫn học Thiền nào ai hay biết. Ðó là một
việc làm nguy hiểm, nó cũng giống như một bác sĩ khám bệnh
cho thuốc vậy; nếu là bác sĩ nắm r được bệnh lý của
từng con bệnh thì đều chắc chắn là lúc nào họ cũng bắt
mạch và cho thuốc đúng căn bẹânh, và vì thế căn bệnh
sẽ mau thoát khỏi, còn nếu không phải là bác sĩ mà khám
bệnh kê toa cho thuốc thì điều gì sẽ xảy ra nếu không
nói là chết người xảy, thì cũng làm cho con bệnh nặng thêm,
vì chính họ không nắm r bệnh lý
của mọi bẹânh
nhân, thì làm sao họ có thể cho thuốc chữa lành cho bệnh
nhân được. Cốt l i của vấn đề ở đây là: Ðể được
gọi là một Thiền sư, một Pháp sư thật sự, thì trước
hết vị đó phải thông Phật lý, và phải có trình độ tu
chứng, hay ít ra cũng có kinh nghiệm về pháp tu của mình,
sau đó mới nói đến việc ra dạy người, hay hướng dẫn
cho người khác. Cũng vậy nếu muốn được gọi là một Bác
sĩ thì trước hết vị đó phải có bằng bác sĩ, và điều
quan trọng là phải thông suốt y lý bẹânh án, và thông cả
dược liẹu đều trị, sau đó mới nói đến chuyện hành
nghề bác sĩ, còn nếu không phải là bác sĩ mà đi chữa bệnh
cho người thì chắc chắn người đó trước hết sẽ là làm
cho người ta chết, và sau đó chính mình phải ngồi tù. Ðiều
quan trọng ở đây chính là việc: "Muốn cứu người chết
đuối, thì trước hết ta phải biết bơi, biết lặn, và biết
cách cứu người không biết bơi, sau đó mới nhảy xuống
sông cứu người, còn nếu không biết mà nhảy xuống cứu
người thì chính người cứu cũng chết luôn nói chi đến
việc cứu người." Cũng vậy, trong cách hướng dẫn người
tu, trước hết chúng ta cũng phải thông đường đi nước
bước của pháp môn mình hướng dẫn cho người, nghĩa là
mình đã kinh qua rồi, đã thông suốt rồi, nếu không thì
chính người hướng dẫn người cũng sẽ lạc vào chốn u
u minh minh của đường ma lối quỷ mà thôi. Ở đây dứt khoát
không có chuyện vừa tu vừa hướng dẫn người tu theo mình
được. Vì sao? Vì trong lúc người hướng dẫn đang tu pháp
đó mà cũng hướùng dẫn người khác cùng tu theo mình thì
điều gì sẽ xảy ra, nếu người được hướng dẫn gặp
những trở ngại, hay thấy những điều lạ lùng trong lúc
tu, mà người hướng dẫn chưa từng thấy, chưa từng kinh
qua, chưa từng bị trở ngại thì làm sao có thể có kinh nghiệm
để trả lời và giải quyết những quyết nghi này cho đệ
tử là lành hay là dữ? Là đúng đường hay sai đường? Ðó
một điều hệ trọng hàng đầu trong việc tu trì, thế mà
chúng tôi thấy có người dám coi nhẹ vấn đề này, đứng
ra vừa tu vừa hướng dẫn người khác tu theo phương pháp
đang tu của mình, và cũng dám bạo phổi viết vào trong sách
phụ lục phần ÐẾN NHÀ là: "Lúc trước tôi chỉ thấy khởi
niệm là hai, nếu bặt niệm thì tâm thanh tịnh tròn sáng.
Và bây giờ tôi lại thấy tâm cảnh không hai,
nó không còn
giới hạn nơi mình mà nó ở khắp mọi nơi. Tôi thấy như
vậy nên cách tu cũng chuyển theo. (tr. 85) T.T.V.N.C.T.K.20)" Không
hiểu như vậy họ cho rằng cái thấy nào là đúng và cái
thấy nào là sai đây? Theo ở đây thì cho chúng ta thấy cái
thấy trước là cái thấy sai trong hiện tại, và nó chính
là cái thấy đúng của trước đây ? Vậy cái đúng trong hiện
tại sẽ là cái thấy gì ở trong tương lai đây? Nếu trong
tương lại có một cái thấy nữa? Vậy thì hướng dẫn người
theo mình cho đến lúc nào có cái Thấy tánh như thật đây?
Vì cái Thấy Tánh như thật là cái thấy tánh chỉ có một,
không sai biệt, trong khi người hướng dẫn thì khi thấy như
thế này, khi thấy như thế nọ, thì cái thấy này cũng chỉ
là cái thấy của sai biệt, cái thấy của vọng mà thôi, cái
thấy này nếu ai có học giáo lý thì cũng sẽ thấy như vậy
thôi, vì đó là cái thấy của kiến giải, có phải là cái
thấy của chứng ngộ đâu?! Vậy thì thử hỏi người hướng
dẫn, dẫn người đi đâu vậy? Ði quanh quẩn trong đường
ma lối quỷ sao!? Ðây chính là hiện tượng đang phổ biến
hiện nay của Phật giáo đã và đang xảy ra trong giới học
Thiền, trong nước cũng như ngoài nước. Sở dĩ ở đây chúng
tôi muốn nhấn mạnh đến vấn đề này, là vì hiện tại
trong nước đã và đang có chiến dịch hủy báng chê bai Tịnh
độ tông, Mật tông và kinh điển Ðại thừa, mà những người
ra làm việc này không ai xa lạ gì với chúng ta như trên chúng
tôi đã đề cập đến, chỉ vì họ không phải là những
Thiền sư, những Pháp sư thật sự như những yêu cầu ở
trên, nên họ đã làm những việc làm thiếu hiểu biết, thiếu
sáng suốt để dẫn đến có những chấp thủ cực đoan. Trước
hết cứ cho mình là nhất, sau nữa là chỉ có pháp tu của
mình là hơn hết còn những pháp tu khác là thua kém, hay không
phải pháp tu của Phật. Về tất cả mọi phương pháp tu,
thật ra không có phương pháp nào là nhất cho mọi căn cơ
cả, mà phương pháp tu đó nhất đối với căn cơ đó, và
ngược lại chúng sẽ là một nguy cơ nếu là không phải căn
cơ đó. Sở dĩ chúng ta thường gặp trong các kinh điển, lúc
độc tụng thường thấy đức Phật bảo kinh này là nhất,
đọc kinh khác đức Phật cũng nói kinh đó nhất v.v... Như
vậy đức Phật dạy có mâu thuẫn, ba phải hay không? Thật
ra đâu có gì mâu thuẫn và ba phải đâu, tại vì chúng ta
không hiểu được thâm ý của đức Phật dạy đó thôi. Vì
mục đích đức Phật nói kinh này nhất, là nhất cho căn cơ
này, nói kinh kia nhất, là nhất cho căn cơ kia, nói kinh nọ
nhất, là nhất cho căn cơ nọ; chỉ vì chúng ta không hiểu
được thâm ý của đức Phật cho nên mới chấp vào kinh đó,
hay giáo pháp mà đức Phật nói nhất đó, và y cứ vào đó
lấy làm phương pháp tu cho mình, rồi cho phương pháp tu của
mình là hơn các phương pháp khác. Cũng vì sự hiểu biết
hạn chế này cho nên phát sanh ra không biết bao nhiêu là mâu
thuẫn giữa các tông phái với nhau, và cũng từ đó vấn đề
cạnh tranh thu hút môn đồ từ đó cũng sinh ra. Tông này nói
cách tu mình nhất, Tông kia bảo cách tu mình nhất, và ra sức
bài
xích những pháp
tu không phải là pháp tu của mình, lẫn nhau. Họ tự vỗ ngực
bảo pháp tu của mình mới đúng là pháp tu của Phật, vì
pháp tu tọa Thiền của mình là pháp tu của chính đức Phật
khi ngài còn tại thế tu, và nhờ nó mà thành Chánh giác, còn
các pháp tu khác thì không phải, hay có phải đi chăng nữa
thì cũng đi chậm, không thể giải thoát nhanh như họ được
v.v.... và kêu gọi hành giả quay về với họ; trong khi họ
không biết rằng việc làm của mình là sai lầm, không biết
gì về vấn đề khế cơ khế lý đối với căn cơ hành giả,
họ không hiểu việc người ta không đến với mình là vì
căn cơ của họ không thích hợp với pháp tu của mình. Ðó
là những nguyên nhân gây ra sự xóa trộn xích mích chia rẽ
trong phật giáo hiện nay. Tại sao họ lại có những việc
làm như vậy? Vì như trên chúng tôi đã nói, họ không thông
suốt Phật lý, không hiểu những thâm ý của Phật lý khi
nói ra cái nhất, cùng tiến trình tu chứng của họ cũng không,
cho nên đưa đến tình trạng thiếu nhận thức hiểu biết
về Phật lý căn bản trong cái tổng thể của nó, mà chỉ
biết nhận thức theo kiểu hiểu biết một chiều cho nên họ
chỉ biết
duy nhất có một
con đường đưa đến giải thoát khổ đau là Thiền tông,
ngoài ra không còn gì nữa. Cho nên khi người ta không tu theo
mình lại đâm ra hủy báng nói xấu pháp môn của người ta,
làm như vậy có xứng danh là một người tu Phật hay không?
Ðừng nói chi đây lại là một người tự nhận mình là một
Thiền sư! Trong Thiền tông không bao giờ có những hạng người
như vậy đâu, nếu có chăng nữa thì đó cũng chỉ là một
cá nhân nào đó học hành không đến nơi đến chốn, tu tập
chưa đến đâu, hay họ chỉ là người đội lớp Thầy tu,
măỉc chiếc áo, cạo trọc đầu làm tay sai cho các thế lực
vô minh chống phá Phật giáo, nên mới có những hành động
như vậy. Trong khi đó thì đức Phật đưa ra vô số con đường
để hướng dẫn chúng sanh thoát khổ, tùy theo căn cơ duyên
nghiệp của chúng sanh mà chữa trị căn cơ bệnh của họ,
để rồi qui về một mối GIẢI THOÁT chúng bằng con đường
Trung Ðạo THIỀN ÐỊNH dành chung cho mọi căn cơ trước khi
đạt NIẾT-BÀN. Thiền tông cũng chỉ là một trong những con
đường, trong đó có cả Tịnh độ tông, Mật tông .v.v...
Vậy Thiền định đâu phải chỉ dành riêng cho Thiền tông
không đâu, mà bất cứ Tông nào cũng đều phải dùng pháp
Thiền định để giải thoát khổ đau sanh tử nếu hành giả
của Tông phái đó muốn giải thoát. Ðiều này chúng ta ai
cũng thâáy r ràng và một cách cơ bản rằng GIỚI-ÐỊNH-TUỆ
chúng nằm trong BA TANG GIÁO ÐIỂN, trong MƯỜI HAI BỘ KINH,
bộ nào lại không có; và nó cũng ở rải rác trong các kinh
nhỏ như giáo lý TỨ THÁNH ÐẾ phần Bát Thánh đạo có chánh
Ðịnh; hay BA VÔ LẬU HỌC tức GIỚI-ÐỊNH-TUỆ, trong Ba mươi
bảy phẩm trợ đạo; hay trong LỤC BA LA MẬT, THẬP BA LA MẬT
có Thiền Ðịnh ba la mật v.v.... Nghĩa là Thiền Ðịnh dành
cho từ căn cơ thấp nhất là con Người cho đến Trời, Thanh
văn, Duyên giác, và cao nhất là Bồ Tát đều dùng Thiền Ðịnh
trong pháp tu tập của mình, và tùy thuộc vào căn cơ của
từng giới mà có gia giảm trong các pháp trợ đạo. Ở đây
chỉ có sự sai biệt khác nhau trong phương pháp hướng dẫn
thực hành chúng tùy thuộc các tông phái, và cũng tùy vào
căn cơ của hành giả giữa các tông phái với nhau mà thôi,
nhưng chỉ có Thiền Ðịnh thì giới nào cũng phải có hết.
Vậy mà những người trong cái gọi là Thiền tông Việt nam
vào cuối thế kỷ 20, không thấy chúng hay sao? Hay không học
đến chúng, chỉ biết đến cái Thiền của Thiền tông mình
không thôi, rồi đâm ra có thái độ trịch thượng của kẻ
cả phê phán tông phái này, chê bai tông phái nọ. Trong khi
ngay đến cái Thiền của Tông phái mình cũng không nắm vững
cốt tủy của nó nữa, đem công án của các vị Thiền Tổ
sư ra bàn luận mổ xẻ một cách sai lầm, bậy bạ như nhà
học giả Lý Việt Dũng đã từng nêu ra hàng trăm điểm lỗi
lầm, bậy bạ trong việc bàn luận, và dịch thuật về Công
án Thiền Việt Nam và Trung hoa, Ông đãù dẫn chứng đối
chiếu từ các kinh sách Thiền giáo và Thiền tông của Ðại
Tiểu thừa giáo một cách r ràng minh bạch đàng hoàng, trong
quyển: "Lạm bàn một số điểm chưa đạt trong: 1- Tuệ trung
Thượng sỹ ngữ lục giảng giải. 2- Phần đầu quyển Thiền
sư Việt Nam dẫn dịch từ Thiền Uyển tập anh. 3- Tham đồ
hiển quyết và thi tụng các Thiền sư đời Lý giảng giải."
Qua quyển sách
này, thật tình cả sự nghiệp dịch thuật và viết lách của
H.T. bị sụp đổ hoàn toàn, và cho chúng ta thấy r cái kiến
thức về Phật học nói chung và Thiền tông nói riêng của
H.T. là không có. Như vậy mà hầu hết nhiều người vẫn
còn bênh vực một cách cố chấp bảo rằng: " Tuy kiến thức
H.T. còn hạn hẹp như vậy, nhưng Ngài là người có tu có
đức, không nên chỉ trích hay xúc phạm đến H.T." Thật ra
người ta bảo vậy mới nghe ra thấy có vẻ đúng, nhưng r
ràng họ không biết thế nào là người có tu, người có đức
cả. Vì theo họ trên lý thuyết có thể sai lầm, nhưng trên
thực hành H.T. hằng ngày ngồi thiền, dạy người ngồi thiền,
thì chính cái đó là cái tu, cái đức. Thật ra họ đâu có
hiểu rằng trên cơ sở lý thuyết của phương pháp tu đã
sai lầm, thì cái kết quả thực hành cách tu kia cũng sai lầm
theo. Vậy thì cái đức có được từ đâu mà sanh ra đây?!
Vì người có đức thực sự là người tu theo đúng pháp tu
của Phật, thực hành đúng theo pháp Phật, thì cái đức mới
sanh ra, còn ở đây thực hành pháp sai lầm mà bảo sanh ra
đức, thì việc này làm sao có thể xảy ra. Ở đây chúng
tôi chưa nói đến việc thất đức, vì họ dẫn chính mình,
và người khác đi theo đường ma lối quỷ, thì đây chính
là tạo tội chứ sao gọi là tạo đức được! Cho nên mọi
người hãy cẩn thận đừng vì người ta nổi tiếng, vì nhiều
người thiếu hiểu biết chạy theo mà mình cũng bắt chước
chạy theo, làm thành một phong trào thời thượng mà thiếu
cân nhắc, và tin một cách mù quán vào chúng, không những
tự hại mình mà còn vô tình đồng lão với các thế lực
vô minh, rốt cuộc ôm nhau mà vào địa ngục chứ không sai
đâu. Như trên chúng tôi đã nói THIỀN ÐỊNH không phải chỉ
có Thiền tông mới có thôi, mà chúng là pháp tu cần thiết
của mọi tông Phái trong Phật giáo.
Như trên chúng
tôi đã trình bày, con đường Trung đạo Thiền định, không
phải chỉ dành riêng cho Thiền tông không đâu, mà chúng dành
chung cho tất cả các tông phái Phật giáo trong đó có Tịnh
độ tông, và Mật tông. Con đường Trung đạo Thiền Ðịnh
này bên Thiền tông thì: "TÂM VẬT NHẤT NHƯ, NGOÀI TÂM KHÔNG
KHÁC." Bên Tịnh Ðộ tông thì: "NHẤT TÂM BẤT LOAN." Bên Mật
tông thì: " TAM MẬT TƯƠNG ƯNG." Khi mà chủ thể và đối tượng,
năng và sở, tâm và vật không còn ngăn cách sai biệt, chúng
không phải là hai cũng không phải là khác nữa, thì con đường
Trung đạo thiền Ðịnh hiển bày. Ðây chính là con đường
mà chư Phật quá khứ, chư Phật hiện tại, chư Phật vị
lai đã đi, đang đi và sẽ đi. Do đó chúng ta những người
con Phật, dù là Thiền tông hay Tịnh độ tông, hay Mật tông
v.v... phải luôn luôn tâm niệm rằng: "Không có bất cứ một
pháp tu nào là nhất hết, là tối thượỉng thừa nhất hết,
nó nhất khi pháp tu đó thích hợp với căn cơ của người
đó; ngược lại nó sẽ không nhất và có thể làm trở ngại
cho đường tu của người đó khi nó không hợp với căn cơ
của họ, nếu họ không tự biết mà chỉ biết chạy theo
người khác, hay chạy theo phong trào." Vậy mỗi người trong
chúng ta phải tự lựa chọn cho mình một pháp tu nào đó thích
hợp với căn cơ của mình, trong vô lượng pháp môn tu do đức
Thế tôn đã để lại. Và chúng ta cũng phải luôn cảnh giác
đối những vị Thầy hay bất cứ một ai khi đến khuyên bảo
chúng ta tu mà luôn luôn khoe khoan pháp môn mình là nhất và
ra sức chê bai hay chỉ trích pháp tu khác cho là sai đường,
cho là không đúng, thì biết rằng họ đang làm việc của
Ma, phải xem xét lại những lời nói của họ. Chúng ta nên
biết rằng mỗi pháp tu như vậy, chúng chỉ là những pháp
phương tiện, mà những phương tiện đó chúng ta cần phải
vượt qua chúng, mới mong đạt được cứu cánh giải thoát
được. Hơn nữa khi chúng ta đã lựa chọn pháp tu thích hợp
với chúng ta rồi, thì việc kế tiếp là cần phải lựa chọn
vị Thầy dẫn đường chĩ dạy cho chúng ta nữa, không phải
bạ đâu chúng ta cũng nhận là Thầy, trong khi vị đó chưa
rành về đường đi nước bước của mình. Chúng ta phải
tìm ra những bậc minh sư có thực học, thực tu, thực kinh
nghiệm, nếu không muốn nói là có thực chứng. Nếu không
vậy thì cả hai phải ôm nhau mà vào địa ngục không thể
nào tránh khỏi, vì chính họ không biết được đường đi
của họ thì làm sao có thể hướng dẫn người khác đi mà
không vào đường ma lối quỷ sao được! Ðối với những
bậc hướng dẫn mọi, ngoài những việc cần và đủ để
làm một người hướng dẫn người theo pháp môn tu của mình
ra; chúng ta còn là những sứ giả của Như Lai, vì sứ mệnh
truyền giáo của Ngài, chúng ta phải luôn luôn tôn trọng sự
tự do lựa cho pháp tu của mọi người, và luôn có tinh thần
bình đẳng trong các phap tu. Khi một người nào đó đến với
pháp môn của mình, nếu qua tiếp xúc mà thấy căn cơ họ
không hợp với pháp môn của mình thì mình có nhiệm vụ hướng
dẫn chỉ bày giới thiệu cho họ đến nơi nào mà mình biết
rằng họ hợp với pháp môn đó, hơn là chúng ta nhận người
một cách bừa bãi rồi để xảy ra những tình trạng trở
ngại trong bước tu của họ, hay im lặng trong khi họ đang
cần tìm pháp môn thích hợp cho họ. Ngoài những điều trên
ra trong Phật giáo vấn đề thực hành là vấn đề cốt l
i của tu, nếu hành giả không tu không thực hành, mà chỉ
biết đến để học hỏi nghiên cứu không thôi thì, cũng
giống như người biết nói rất giỏi về lý thuyết phương
pháp nấu ăn, nhưng khi đói không tự theo phương pháp lý thuyết
để nấu ăn, thì chắc chắn sẽ bị đói thôi, do đó khi
mà chúng ta dã có phương pháp tu thích hợp với mình rồi
thì điều trên hết là bắt đầu thực hành áp dụng chúng
ngay vào trong cuộc sống.
Ðại Lãn
(Do Lotuspro cung
cấp cho Diễn Ðãn Hoa Sen)
Subject:[hoasen-1]
Về bài " Thiền Ðịnh cho mọi giới " của Ðại Lãn
Date:Thu,
23 Nov 2000 13:17:18 -0800
From:"Hoa
Nguyen" <thanhhuy@email.msn.com>
To:<hoasen-1@egroups.com>,
<vn-buddhism@saigon.com>
Chào quý đạo
hữu,
Nhân bài viết
của Ðại Lãn (từ trong nước, được diễn đàn Hoasen-1 giới
thiệu) chủ yếu phê bình phép tu tập Thiền "Thấy Vọng Liền
Lìa", có in trong sách "Thiền tông cuốí thế kỷ 20" và trong
nhiều tác phẩm khác của HT Thanh Từ (HT/TT), tôi đã có những
nhận xét sơ lược trong hai mesg đã post trên
hoasen-1. Nhưng
để cho công bằng với cả hai bên, nay chúng ta thử nhìn lại
kỹ hơn điều HT Thanh Từ giảng dạy và điều mà ông Ðại
Lãn (DL) gán cho là của HT/TT để từ đó nhận định trên
cái giả định là HT/TT đã viết sai lạc về phép tu Thiền
như thế nào đó.
Trước hết, chúng
ta thử đọc xem HT/TT đã nói gì về mục đích của tu Thiền,
có hợp với chủ trương của Thiền tông không, và tiếp theo
xem pháp môn "Thấy Vọng liền Lìa" có giúp đạt được mục
đích đó không. Sau cùng xét xem Ðại Lãn đã "phê phán" phương
pháp đó như thế nào . Theo quyê? n " TT cuốt TK 20", HT /TT đã
cho mục đích của tu Thiền (co' ba bậc, tôi chỉ xét bậc
trung , coi như hợp cho nhiều người hiện chọn tu Thiền, trang
81) :
" Giác Ngộ (bâ.c)
trung : Giác ngộ bậc trung là Vô Niệm, đốí phá vô minh trung.
Nơi vô minh trung do niệm khởi làm mờ tánh giác. Ở đây thấy
r niệm là hư ảo không thật, là bóng dáng của ngoại trần
chớ không phải tâm ta. Không phải tâm ta nên ta không nhận
nó và theo nó. Nó là cái làm rối bời, làm mờ tánh giác
của ta. Bất cứ niệm thiện niệm ác gì đều cũng là vô
minh, vì niệm nào dấy lên cũng che mờ tánh giác...Ta phải
nhìn thẳng thấy niệm khởi là không thật, nó là bóng da'ng,
nó là tạm bợ, thể nó là không. Niệm lặng mất, thể không
hiện tiền là chân thật. "
Và sách đó nhắc
lại chuyện Ðạt Ma an tâm cho Huệ Khả : " Niệm khởi là
rối bời, là xao xuyến ...Diê.u thuật của tổ Ðạt Ma bắt
ta nhìn thẳng lại nó, thử xem nó có thật không mà cầu an.
Biết nó không thật, nó tự tan biến lặng lẽ, đâ'y là an
tâm. Chỗ niệm không khởi gọi là không tâm hay vô
niệm... Ðạt
được chỗ không tâm hay vô niệm mới nhận ra thể không
ấy là chân thật. nên kinh Bát Nhã nói :" Không tươ'ng là
thật tướng ".
Như vậy, HT Thanh
Từ muốn dạy một thứ Thiền gần với Thiền tông "nguyên
thủy" ở Trung hoa của hai vị tổ lớn là Bồ Ðề Ðạt Ma
, và Huệ Năng. Ðó là pháp môn tìm "không thấy
tâm để an tâm"
của Sơ tổ và lấy "vô niệm làm tông " của Lục Tổ Thiền
tông. Vềsau, qua nhiều thế hệ và tông phái, phép tu Thiền
được cải tiến thành phức tạp thêm, như tham
công án , khán
thoại đầu để có được nghi tình, và càng xa với phương
pháp quán tâm đơn giản lúc ban đầu. Chỉ có phái thiền
Tào Ðộng ngày nay còn chủ trương toa. thiền để đi tới
tâm "vô niệm", và phái Thiền Trúc Lâm của Việt Nam với
lời thơ nổi tiếng: (đô'i cảnh) "vô tâm mạc vấn Thiền"
Ðã đạt tới chỗ "vô tâm" thì không cần phải học Thiền).
Ðó là chỗ khởi điểm của HT/Thanh Từ : trở về với cội
nguồn của Thiền
tông và của những gì dân tộc VN đã có, và HT hy vọng phương
pháp đó thích hợp với căn cơ của đa số con ngườ (VN)
thời đại này, vì tính đơn giản, dễ tu dễ tập của nó.
Ðể dạy phương
cách làm sao cho được "vô tâm, vô niệm" HT/TT đưa ra pháp
" Thấy Vọng liền lìa"hay "Biết vọng không theo" ( sách dẫn
trang 110): " Thiền giả để tâm vắng lặng, vừa có vọng
tưởng dấy lên liền "biết vọng không theo". ..Vo.ng lặng
thì tâm lặng, vọng dấy liền biết vọng. Cứ thế mãi cho
đến vọng thưa dần và im bặt. Nếu vọng tưởng quá mạnh
, biết vọng mà vẫn còn lôi đi, thiền giả nên thấy vọng
ấy vốn không...Nê'u vọng tưởng quá mạnh nên trụ tâm tại
chót mũi hay giữa rún. Song chỉ tạm thời cho qua cơn mãnh
liệt của chúng thôi. Vọng tưởng bình thường nên giữ biết
vọng không theo, chẳng cần làm gì khác.... Nế`u hoàn cảnh
thuận tiện, hành giả sau khi xả thiền, đi kinh
hành, tâm vẫn
biết vọng không theo. Bắt tay làm việv nào chỉ biết trong
việc làm ấy, có vọng tưởng kéo đi, buông chúng không theọ"
Như vậy thì phép
tu này cũng áp dụng luôn vào những lúc không còn ngồi Thiền,
như pháp tu "Tỉnh Thức, giữ Chánh niệm" của thầy Nhất
Hạnh. Xét cho cùng thì phép "Tỉnh Thức, sống trong hiện tại
" của thầy Nhất Hạnh không phải do thầy "chế "ra , mà đã
có trong các kinh điển ngay từ thời nguyên thủy. Thầy NH
chỉ làm cho nó "sống lại" sau một thời gian dài nằm yên
ngủ trong những lớp bụi bậm của thờ ơ, coi thường, lảng
quên, và giới thiệu cho hàng triệu người tu tập theo. Pháp
"thấy vọng không theo" của HT TT tôi nghĩ cũng chỉ là phương
pháp được dùng trước kia rồi (tôi nhớ là đã có, nhưng
không dẫn chứng ở đây được hôm nay), và ngày nay HT "phục
hồi " lại phép tập Thiền đó và đem áp dụng rộng rãi
cho đời. Những ai quen với việc ngồi Thiền, quán tâm thì
hiểu ngay cái "thấy vọng" mà HT TT nói ở đây là "nhận diện"
nhơ `ti?nh giác cái vọng niệm chợt khởi lên từ chỗ "vô
niệm"
đã đạt trước
đó dù cái vô niệm này có thể rất là ngắn ngủi. Rồi
lìa bỏ vọng niệm ngay, hay nếu chưa lìa được thì chỉ
theo d i mà không cố gắng tìm hiểu, can thiệp, như tự đặt
các câu hỏi cái vọng này đến từ đâu, tại sao đến, phải
làm thế nào để diệt được nó. Tìm hiểu, can thiệp như
vậy chỉ làm cho vọng tưởng, vọng niệm khác nổi lên, và
không thể "an tâm" được , mà còn có thể rơi vào trạo cử.
Thế nhưng ông
"đại sư" Ðại Lãn của cư sĩ Chơn Chánh không biết gì về
điều căn bản đơn giản đó cả. Ông Ðại Lãn đã đi tìm
hiểu, phân tích cái vọng tưởng để nhận ra chỗ nào là
vọng là chân mà từ bỏ, trong khi câu nhắc nhở đầu tiên
của Thiền tông là "đừng nghĩ thiện , nghĩ ác" (vì đều
là vọng tưởng) . Chính vì vậy mà DL cho pháp tu này vô dụng,
và cư sĩ Chơn Chánh cho là "chưa hoàn hảo" . Chúng ta nhớ
HT Thanh Từ ngay trong quyển sách trên giới thiệu nhiều pháp
tu khác nhau, và "Thấy vọng liền lìa " chỉ là một. Bảo
một pháp tu nào là "chưa hoàn hảo" thì không biết gì về
Phật pháp, nhất là về những phương cách thức thực hành.
Chỉ hoàn hảo cho một giai đoạn tu tập, dưới sự chỉ dẫn
tường tận của bậc thầy, nếu gọi là có sự hoàn hảo.
Ở các giai đoạn kế tiếp, cao hơn, thì cách tu tập ban đầu
phải được vượt qua, thay thế, bằng không sẽ là một trở
ngại lớn trên đường tu. Thí dụ điển hình như pháp Tam
Quán của Thiên Thai tông. Còn chính ông Ðại Lãn thì không
biết gì về Thiền, Thiền tông, ngoài những câu Thiền ngữ,
những chuyện Thiền thoại cố chép lại cho đầy trang chữ
.Thâ.t ra thì có thể DL đã chép lại những thứ đó từ hàng
ngàn trang sách dịch thuật công phu của HT THanh Từ. Cho nên
tôi rất ngờ ông Ðại Lãn này là tu sĩ chân chính, mà có
thể là cán bộ văn hoá (xe't về cách viết văn của ông),
được cho "nằm " giữa giới Phật giáo trong nước, để phá
hoại Phật giáo từ bên trong, mà bước đầu là hạ uy tín
của những bậc chân tu có nhiều đệ tư? trong và ngoài nước
như HT Thanh Từ. Cái chủ trương đó có thể thấy được
, vì sau khi Ðại Lãn viết bài Thiền Ðịnh cho mọi giới",
thì nhờ diễn đàn Hoasen-1 giới thiệu tôi có đọc bài của
Như Nhuận (?), chắc cũng là "tu sĩ" như Ðại Lãn, nức nở
khen Ðại Lãn viết hay, thách HT Thanh Từ trả lời , và cho
HT/TT không dám trả lời là tự biết mình đã sai trái rồi.
Hôm qua lại có cư sĩ Chơn Chánh, cũng trong nước, đứng ra
làm trọng tài, khen đại sư Ðại Lãn vì lòng từ bi mà viết
(bâ.y bạ ) như vậy, và xử huề hai bên, mỗi người đều
có chỗ đúng hết. Tóm lại, tôi thấy rất r Như Nhuận và
Chơn Chánh là thứ "cò mồi" được sử dụng theo thủ đoạn
thường dùng trong nước, để phụ giúp kéo HT TT xuống và
đưa Ðại Lãn lên thành ngang hàng.
Hòa
PS :
Thử đọc vài
đoạn Ðại Lãn viết, và trước tôi đã có nhận xét , để
thấy DL có hiểu gì về chuyện tu Thiền và về những gì
HT Thanh Từ viết đâu :
DL:
"Pháp tu "TRI VỌNG
KHÔNG THEO hay BIẾT VỌNG KHÔNG THEO" tự nó bẻ gãy chính nó,
tự nó đạp đổ chính nó, tự nó vô hiệu hóa chính nó.
Vì sao chúng tôi gọi pháp tu này là sai lầm, là tà kiến rơi
vào đoạn diệt, tự nó bẻ gãy chính nó, tự nó đạp đổ
chính nó, tự nó vô hiệu hóa chính nó? Vì Biết vọng không
theo, có nghĩa là khi chúng ta biết r bộ mặt thật của các
pháp là hư vọng, là vọng tưởng điên đảo, thì chúng ta
sẽ không theo nó nữa, vậy có nghĩa là chúng ta đoạn tuyệt
chúng, không theo các pháp hư vọng nữa chứ gì?..."
H:
Ông Ðại Lãn
này không hiểu pháp "Tri Vọng không theo" là gì cả, chỉ dùng
luận cứ dốí trá (ơ? đây là đặt vào miệng người khác
điều họ không có nói) để bài bác. Ðây cũng không phải
là pháp tu mới, mà đã có từ xưa. Bây giờ thầy TT chỉ
dùng lại để dạy đệ tử. Chỉ có nghĩa dùng tỉnh giác
để quán tâm. Khi thấy có vọng niệm nào khởi lên thì lìa
bỏ, không theo vọng. Tất nhiên lúc đầu có rất nhiều vọng
niệm, và sức tỉnh giác chưa đủ "sáng" để nhận thấy
đó là vọng niệm nên tâm có thể bị lôi cuốn đi xa theo
vọng . Nhưng dần dần vọng niệm bớt đi, và khi vừa khởi
lên là bị "nhận diện là vọng" và tâm "không
theo nữa". Mục
đích cuối cùng là bớt dần vọng niệm và (co' thể) tới
chỗ tâm vô niệm.
Càng lúc Ðại
Lãn còn nói sai. La ` người tu theo Thiền công án, nhưng chưa
thấy chỗ ngộ hay chứng gì, mà chỉ có dùng luận lý lanh
quanh với nhiều chữ nghĩa để bài bác, hay xuyên tạc. Người
đọc ít học hơn, hay thích lý sự, rất có thể bị mê hoặc.
Như đoạn dưới đây dùng lý lẽ ngụy biệngiữa Chân với
Vọng để "đánh phá " : bảo phương pháp tu tập có tính thư,c
hành của HT TT cũng là Vọng (dư.a vào kinh điển của Phật
giáo tất cả đều là Hư Vọng). Tôi thấy sao nó quá giống
thủ thuật quen thuộc của người cán bộ văn hoa' trong nước
về tôn giáo : dùng một câu kinh kệ để "quật lại " tôn
giáo :
> DL:
"Nhưng ở đây
có một điều nghịch lý mâu thuẩn mà người chế ra pháp
tu này không thấy, đó là
"pháp tu BIẾT
VỌNG KHÔNG THEO, nó là pháp vọng hay nó là pháp chân? Nếu
bảo nó là pháp VỌNG thì pháp tu BIẾT VỌNG KHÔNG THEO cũng
là vọng, mà đã là VỌNG thì không theo. Vậy thì người chế
ra pháp tu này lấy cái gì để TỦ Vì ngay pháp tu BIẾT VỌNG
KHÔNG THEO cũng là pháp vọng, vì chúng không ở ngoài vọng,
do đó chúng ta không theo nó; như vậy, pháp tu này đã bị
chúng ta loại bỏ nó như muôn nghìn pháp vọng khác rồi!?
Còn trường hợp nếu chúng ta BIẾT CHÂN thì có theo hay không
theỏ! Giải quyết nó như thế nàỏ? "
Rồi Ðại Lãn
lại dối gạt người không quen biết nhiều về kinh điển
Phật giáo :
> DL :Trong khi đó
đức Phật dạy PHIỀN NÃO TỨC BO ÐỀ, SANH TỬ TỨC NIẾT
BÀN. Vậy nếu VỌNG TƯỞNG PHIỀN NÃO bị loại bỏ không
theo nó nữa, thì lấy chi để chúng ta đạt NIẾT-BÀN? Tu là
sửa vọng, nhưng ở đây lại không theo vọng tức là bỏ
vọng?
>
Hòa:
Ðã có câu hỏi
: Phật nói hai câu trên chỗ nào vậy. Phật chỉ dạy dứt
phiền não để hết khổ, và có hết khổ ,chấm dứt sinh
tử mới vào được Niết Bàn. Vướng vào phiền não là đang
ở trong cảnh giới của địa ngục hay súc sinh.
> DL :
> Vây ở đây
chúng ta lấy cái chi để chúng ta sửa nó thành chân, trong
lúc vọng đã bị loại, bị vất bỏ, bằng cách không theo;
ngay đến pháp Biết vọng không theo, chúng ta cũng không dùng
pháp này để tu nữa, vì chính bản thân của pháp tu này cũng
là vọng?! Hơn nữa cái biết này, ngay chính chúng cũng là
cái biết của vọng, chứ không phải cái biết của Giác ngộ,
do đó cái vọng mà chúng ta biết đó không thể diệt được,
như trong "Giác mê, mê diệt" của Phật được.
Hoà:
Ở đây r ràng
HT TT dạy không phân biệt chân hay vọng gì hết, vì bất cứ
Niệm nào dấy lên đều là vọng, không kể Thiện hay Ác.
Vậy mà Ðại Lãn này cố ý nghĩ sai, hiểu sai để gọi là
phê phán một cách rất ồn ào . Nếu không là có chủ tâm
cố ý xuyên tạc ở đây thì là không biết gì hết về Phật
pháp, về Thiền học, ngoài những lời trống không để mê
hoặc một số người chắc cũng không nhỏ (vì trong
đó có cả nhà
Phật học Nam tông có tiếng ở Úc châu).
DL :
>Nếu như cái
biết này mà diệt được vọng, hay làm cho vọng lắng xuống
khiến tâm trở nên thanh tịnh như H.T. nói thìthế gian này
ai cũng có thể thành Phật một cách dễ dàng, không cần tu
chi hết, chỉ cần tri vọng là thành Phật, là giác ngộ rồi,
và chính H.T. cũng là Phật rồi cần chi phải khổ sở tìm
cách này hay cách khác hủy báng chê bai Tịnh độ tông và
mật tông? Khi mà cái vọng này không chuyển được thì chúng
ta sẽ phải tri vọng từ kiếp này sang kiếp khác, rốt cuộc
rồi đâu cũng vào đó, không những thế mà khi chúng ta càng
biết vọng nhiều chừng nào thì càng huân tập vọng nhiều
chừng đó. Như vậy rốt cuộc là chúng tự tạo nghiệp vọng
vô minh thêm, chứ đâu phải tu để chuyển vô minh thành giác
ngộ!? Khi tiền đề của nó chính bị nó phá, thì thử hỏi
những mệnh đề lệ thuộc đi theo sau nó có còn đứng vững
hay không? Ðó là điều mà chúng tôi gọi pháp tu này là ÐOAN
DIỆT TÀ KIẾN là như vậỵ
>
Ở trên chỉ là
những lời nói bậy bạ, không đúng đâu vào đâu. Tôi cũng
đã nhận xét đó là lốí viết với những ngôn từ ngồn
ngộn, áp đảo, dùng trong kỹ thuật tuyên truyền, nhưng không
có chút Phật vị, Phật chất nào ở trong. Có lẽ là lời
của ma vương với tiếng trống, tiếng phèn la inh ỏị
H.
Xem
Tiếp
x
|