THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả
c
ÐỐI CẢNH VÔ TÂM

From: banbientap@thuvienhoasen.org
Kính chuyển đến quý  đạo hữu thư của đạo hữu Ut Ly để xin góp ý:

Xin chào tất cả mọi người trong Ban Biên Tập,
Tôi được một người bạn giới thiệu thuvienhoasen.org webpage nên vào đây xem và mong rằng có bạn nào đó có thể giúp tôi giải quyê’t một vấn đề là làm sao <<Ðối cảnh vô tâm>>.  Tôi đối cảnh tâm thường khởi hay thấy việc xấu tốt hay dở phải quấy của người mà chẳng chịu thấy lỗi mình vì vậy nên bị cái cảm giác vui buồn hờn dỗi bất chợt dẫn dắt đến mệt luôn, trở thành chướng đạo.
Xin thành thật cảm ơn. 
Ut Ly <lyut@ạ..> 


From:  phamdluan@ạ.. 
Date:  Mon Aug 12, 2002  9:29 pm
Subject:  Re: [vn-buđhism] Ðối Cảnh Vô Tâm

Chào D/H Ut Ly,

KKT: Chuyện << Ðối Cảnh Vô Tâm >>
thì có lẽ ai tu Phật cũng từng nghĩ đến.

Tùy theo căn cơ và sự hiểu biết của mỗi người mà Phật pháp có rất nhiều cách để đối trị như ngăn ngừa, chuyển hóa, tỉnh thức, quán chiếu, Sati, etc.

KKT không bàn về những việc này vì không biết D/H thích hợp cách nào ? Chỉ xin kể một câu chuyện đã được kể nhiều lần trên diễn đàn này, đó là chuyện CHIẾC THUYỀN KHÔNG của Trang Tử:

Trang Tử bảo rằng ta đang lái thuyền trên sông,thình lình bị một chiếc thuyền khác đụng vàọ Nếu dòm sang thuyền kia thấy chiếc thuyền đó không có người thì dù có bực mình tới mấy ta cũng không giận nổi .

Ngược lại nếu thấy thuyền kia có người thì ta liền nổi giận đùng đùng liền 

Tại sao lại như vậy ?

Ðó là ý nghĩa của CHIẾC THUYỀN KHÔNG vậy 

Peace,

KKT

Nước chảy xuống khe không cố ý
Mây luồn hang núi hẳn vô tâm ? 


From:  "legend77083" <hy_truong@h...> 
Date:  Mon Aug 12, 2002  9:37 pm
Subject:  Re: Ðối Cảnh Vô Tâm

Chào các dh và dh Ut Ly,
Ðối cảnh vô tâm tức đã đạt được cái mà người ta thường nói là Vô Ngã đó. Tuy nhiên làm sao để đạt được cái Vô Ngã thì phải tụ Bắt đầu từ cái dễ đến khó. 

Một người muốn đạt được cái trạng thái đối cảnh vô tâm thì điều trước hết là dẹp bỏ cái ngã ái. Tức là cái tôi của mỗi một. Hễ ai động đến là nói nổi dậy đùng đùng liền. Tuỳ theo hoàn cảnh mà nó biến đổi là vui, buồn, ghét bỏ, hay giận dữ. Chừng nào đẹp được cái tôi thì trạng thái đối cảnh vô tâm sẽ xảy ra với mình. Chuyện xem coi bộ dễ làm nhưng thực hành một cách đúng đắn thì là một chuyện khác. Chúc bạn thành công.
HT


From:  Hoang Lien-Tam <hoanglientam@y...> 
Date:  Tue Aug 20, 2002  9:50 pm
Subject:  DDo^'i Ca?nh Vo^ Ta^m

ÐỐI CẢNH VÔ TÂM

Thưa đạo hữu Ut Ly và quý đạo hữu,

"Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền" (*) xuất xứ từ bài kệ của vua Trần Nhân Tông, diễn tả tâm thái giải thoát của người tu hành.  Trạng thái tâm này là kết quả của một quá trình tu tập lâu dài.  Ðối với cảnh bên ngoài, dù đẹp hay xấu, trái hay phải, thuận hay nghịch, tiếng khen hay tiếng chê, mà tâm không hề xao xuyến, không hề dấy động, tâm như như bất động.  Vậy làm thế nào đạt được "đối cảnh vô tâm", làm sao sáu căn không dính với sáu trần?  Làm sao mắt thấy sắc không dính với sắc, tai nghe tiếng không dính với tiếng, mũi ngửi mùi không dính với mùi...?  Ðây chính là tâm yếu của người tu hành và là đối tượng của bốn mươi tám ngàn pháp tu trong đạo Phật.

Có một bầy khỉ, con khỉ chúa lãnh đạo bầy khỉ nhỏ, không cho phép khỉ bỏ bầy đi kiếm ăn một mình nguy hiểm.  Nhưng trong bầy có một con khỉ tham ăn, tách ra khỏi bầy đi kiếm ăn riêng lẻ.  Chẳng may gặp người thợ săn dùng một loại cây nhựa thật dính làm bẫy, bên cạnh cây nhựa là những miếng mồi ngon nhử khỉ.  Vì lòng tham nên chú khỉ ta vừa chụp lấy mồi nên hai tay bị dính nhựa, rối hay chân cũng bị dính luôn, thế là người thợ săn bắt về.

Qua câu chuyện này chúng ta thấy rằng , khi sáu căn tức sáu bộ phận của con khỉ bị dính bẫy rồi, người ta bắt dễ dàng không ai có thể cứu được.  Cũng như vậy chúng ta, mắt thấy sắc liền nhiễm sắc, tai nghe tiếng liền nhiễm tiếng cho đến sáu căn bị dính chặt vào sáu trần liền bị nô lệ, bị sai sử.  Vì thế chúng ta nên nghe theo lời dạy của đức Phật là sáu căn tiếp xúc với sáu trần đừng đuổi theo, đuổi theo là tham cầu, đừng dính mắc, dính mắc là nhiễm trước.  Không tham cầu, không nhiễm trước tức là được giải thoát.

Cũng như vậy, chúng ta giống như đứa bé thò tay vào hũ kẹo.  Khi tay không, nó thò vào dễ dàng, nhưng vì thích kẹo quá nên nó nắm thật nhiều, không thể nào rút tay ra được.... Muốn rút tay ra được chỉ cần buông bỏ kẹo.  Ðức Phật dạy chúng ta đừng dính với sáu trần, các tổ dạy chúng ta buông xả, đừng tiếc , đừng tham như đứa trẻ tham kẹo hay đừng tham như con khỉ tham muì thơm.

Dù pháp môn nào, người tu Phật cũng phải lấy giới làm đầu.  Giữ giới cũng chính là giữ cho sáu căn không duyên với sáu trần.  Dù pháp môn nào, người tu Phật cũng bắt đầu bằng thực hành hạnh xả, xả thân và xả tâm.  Xả thân là giảm thiểu tối đa những nhu cầu tiêu thụ không cần thiết hàng ngày, thí dụ có một đôi dầy, không mua đôi dầy thứ hai, có năm áo mặc không mua thêm áo thứ sáu dù là đang on sale.... mục đích đừng cho thân đắm trước cảnh ngũ dục.  Còn xả tâm tức tự thanh tịnh hóa tâm, khi tâm vừa dấy niệm liền buông xả ngay.  Ðây là đối tượng của của các pháp tu thiền.  Dù pháp thiền nào, người tu cũng phải cần thấy rõ thân, tâm và cảnh, cả ba đều là không thật, là như huyễn.  Muốn được như vậy chúng ta cần phải phá ba cái chấp: chấp tâm, chấp thân và chấp cảnh.  Pháp chấp tâm là gốc, nếu thấy niệm dấy khởi biết liền nó là hư vọng, tức là đã phá chấp tâm và tâm hư vọng đã không thật thì thân và cảnh làm sao thật.  Cư sĩ Bàng Long Uẩn, trước khi thị tịch có nói rằng: "Xin chư vị, hãy coi những cái hiện hữu là không và cũng đừng coi cái không là thật.  Tất cả thế gian này đều như bóng, như vang." (I beg you just to regard as empty all that is existent and to beware of taking as real all that is non-existent.  Fare you well in the world.  All is like shadows and echoes.)

Kinh Lăng Nghiêm nói: "Luân hồi sanh tử cũng do lục căn, giải thoát tự tại cũng do lục căn"  Do đó muốn giải thoát, được chứng Niết Bàn, phải đóng cửa lục căn lại.  Ðóng cửa lục căn tức là đừng để sáu căn nhiễm dính với sáu trần. Và muốn đóng cửa lục căn, theo pháp môn thiền tham thoại đầu là phải phát khởi nghi tình, do nghi tình mà nhiếp cả lục căn, lúc nghi tình khởi là lúc mắt thấy vẫn thấy, nhưng thấy như không thấy; tai nghe vẫn nghe, nhưng nghe như chẳng nghe.  Mắt thấy tai nghe mà vẫn không dính mắc, các căn khác cũng vậy, ai chê hay khen gì cũng không dính, ai nói mình ngu dốt cũng không màng, cái gì xấu đẹp trước mắt cũng không lưu tâm đến.  Hễ có niệm biết tức là chưa khởi nghi tình thì chẳng thể nhiếp được sáu căn.  Ðối với pháp môn tu niệm Phật, dùng niệm nhiếp niệm, trong tâm mặc niệm bốn chữ A Di Ðà Phật, một cách đều đặn, mới đầu chú tâm vào chữ A, sau dùng mắt tâm chiếu soi vào trong thân tâm tìm xem tướng chuyển động của làn sóng mặc niệm ở đâu cho đến khi tất cả niệm tưởng lao xao đều qui tụ về một điểm, rồi dần dần nhất tâm cũng không còn, đưa hành giả đi vào thế giới lúc nào cũng được tâm thể vô niệm.

Trong kinh Tạp A Hàm có kể một câu chuyện Ngài Phú Lâu Na trình xin với Phật đến một nơi vắng vẻ tu hành và xin Ngài chỉ dạy chỗ tâm yếu để chóng đạt đạo.  Ðức Phật dạy:

– Muốn đạt được chỗ tâm yếu đó không gì hơn là mắt thấy sắc đừng bị sắc trói cột, đừng dính với sắc. Tai nghe tiếng đừng để tiếng lôi cuốn, đừng dính nhiễm với tiếng. Mũi ngửi mùi đừng bị mùi cột trói, đừng dính mắc với mùi. Lưỡi nếm đừng bị vị trói buộc, đừng dính mắc với vị. Thân xúc chạm dù cho êm ái nhẹ nhàng vui thích hay thô nhám khó chịu cũng không bị dính cột trói, đừng dính mắc với xúc. Ý duyên với pháp trần không bị pháp trần lôi dẫn, không dính mắc với pháp trần. Nếu mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, không dính mắc với sáu trần, đó là nhân đến Niết bàn.

Nghe Phật dạy như vậy rồi, ngài Phú Lâu Na đảnh lễ từ giã Thế Tôn, xin tìm một chỗ vắng vẻ tu. Ðức Phật hỏi ngài định đi đâu, ngài thưa định sang một nước ở phương Tây để tu.
Ðức Phật nói:
– Ta nghe dân xứ ấy hung dữ lắm, ông qua đó họ làm khó, làm sao tu được?
Ngài Phú Lâu Na bạch:
– Bạch Thế Tôn, nếu người ta khó dễ với con, con vẫn can đảm tinh tấn tu.
Phật hỏi:
– Giả sử như họ chửi mắng ông thì ông nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con là vẫn còn hiền vì chưa đánh đập con.
– Giả sử họ dùng tay chân thoi đánh ông thì ông nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng tay chân thoi đánh con là vẫn còn hiền vì chưa dùng dao gậy đánh con.
– Giả sử họ dùng tới dao gậy đánh ông thì ông nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng dao gậy đánh con là vẫn còn hiền vì chưa giết con.
– Giả sử họ giết ông thì ông nghĩ sao?
– Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con thì cũng tốt vì họ giải quyết sớm giùm con thân ô uế này. Con cám ơn họ nhiều hơn.
Bấy giờ Phật bảo:
– Nếu ông được như vậy thì nên qua đó tu.
Ngài Phú Lâu Na với pháp Phật dạy và ý chí sắt đá đã qua xứ ấy tu, chỉ ba tháng liền chứng quả A la hán.

Nói tóm lại, tất cả các pháp môn của Phật khi chúng ta hành trì miên mật đều đưa đến đối cảnh vô tâm:

Mắt trông thấy sắc rồi thôi
Tai nghe thấy tiếng, nghe rồi thì không
Trơ trơ lẳng lặng cõi lòng
Nhẹ nhàng ta bước khỏi vòng trầm luân.
(không nhớ rõ tác giả)

Hoàng Liên Tâm

(*)
Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia tung hữu bảo hưu tầm mịch,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.


From: Ho trung Tu <hotrungtu@dng...>
Date: Mon, 25 Nov 2002 00:19:32 +0700 
Subject:  Re: Ðối Cảnh Vô Tâm

Ðối cảnh vô tâm ! Tôi không hiểu đối cảnh vô tâm là cái thứ gì mà người ta nói về nó nhiều đến như vậy ? Ðừng để sáu căn dính mắc với sáu trần và bảo đó là thanh tịnh ? Bảo đó là trơ trơ như tượng gỗ biết đi có được không ? Liệu đây có phải là Pháp tu của Phật Thích Ca,  liệu đây có phải là mục đích của Người khi chuyển bánh xe Pháp ? 

  Chuyện chiếc thuyền không của TrangTử là chuyện chiếc thuyền của Trang Tử, người Phật tử cũng tu cho đến như Trang tử thì đạt à ? Thế thì thành Ðạo sư, Pháp sư chứ đâu phải Thiền sư ? Mà cũng không hiểu tại sao đối cảnh vô tâm lại được con người ta đem ra dạy bảo nhau nhiều thế trong khi ai cũng biết là chẳng thế nào vô tâm cho được . Ừ, thì thấy mà như mù , nghe mà như điếc cũng dễ thực hiện đi mặc dù điều này xã hội chẳng ai bảo là bình thường, thế nhưng đến ngữi thơm cũng như ngữi thối thì đã bắt đầu thấy khó rồi, đến ăn ngon mà không cho nước bọt tiết ra để tiêu hóa cho tốt thì đã thực sự mang bệnh rồi. ngửiCác thầy rất hay giảng về cái tâm không sân không si, không nổi tam bành lục tặc khi đối cảnh , thế nhưng đó là chuyện hiếm khi, còn cái bình thường bên mình thì thường bỏ qua bởi quả thật rất khó nếu không nói là không thể nào vô tâm được . Hiện nay bao nhiêu đại đức, bao nhiêu Hòa Thượng, bao nhiêu tỳ kheo thực hành được đối cảnh vô tâm ? Bảo đảm đó chỉ là món võ chỉ đem ra dùng khi thất bại hoặc khi mà cái ngã bị xúc phạm, còn hằng ngày thì quên . Ngon đẹp sạch thơm vẫn cứ thấy thích hơn là dở xấu bẩn thối. 

Thế nhưng có thật là đó là mục tiêu mà đức Thế Tôn nhắm đến khi chuyển bánh xe pháp ? Ðạo Hữu Hoang Liên Tâm đã trích rất nhiều những lời đúng của Phật nói trong các kinh về sự chân thật của mục tiêu đối cảnh vô tâm. Thế nhưng cũng ở trong các kinh, nhất là trong kinh Duy Ma Cật ta thấy rất nhiều các câu sau : " Không khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi, không đoạn phiền não mà vào niết bàn mới là ngồi yên lặng (Với Xá Lợi Phất)", và ngài Huệ Năng cũng bảo trong Pháp Bảo Ðàn " Thứ nhất là đừng chấp không , cho dẫu không tâm tĩnh tọa thì cũng là cái không vô kí đó. Lại có một hạng mê mờ không tâm tĩnh tọa, trăm điều không nghĩ đến, bèn tự xưng là đại; hạng người như vậy đừng bao giờ nói với họ bởi lẽ họ là tà kiến đấy. Nếu trăm điều không nghĩ, tuyệt diệt tâm niệm thì đấy là đảo ngược pháp lại mà trói lấy mình, ấy là biên kiến.". 

Còn có thể tìm thấy rất nhiều những câu tương tự như vậy trong các kinh nhất là khi Phật và chư tổ phá cái chấp không . Thế nhưng việc trích dẫn các kinh, nhất là kinh Phật thì thường con người ta đều có thể tìm thấy sự minh họa cho bất cứ tư tưởng quan điểm nào từ xấu xa, sơ đẳng cho đến đẹp đẽ cao diệu nhất . Và kinh nghiệm cũng cho thấy việc trích dẫn kinh điển tuy sang trọng nhưng thường ít thuyết phục tính tương đối của tất cả các pháp mà Phật đã nói ra. Ðến vạn pháp duy tâm tạo và "49 năm qua ta chẳng nói một lời nào" thì mọi sự thuyết phục, chứng minh đều là tương đối. Vậy chúng ta hãy thử tìm cách hiểu cái Ðối cảnh vô tâm ấy ở góc độ đời sống thử xem sao. Dĩ nhiên là chỉ bàn trên quan điểm Thiền tông , các quan điểm của các tông phái khác không bàn ở đây. 

Có hai cách để hiểu Ðối cảnh vô tâm. Cách thứ nhất là cách nhiều người đang hiểu rằng đó là một chân lý, một nguyên tắc sống, giống như là một giới phải giữ để đạt đến giác ngộ . Cách hiểu này được mọi người dễ dàng chấp nhận bởi không có cái nguyên tắc sống, triết lý sống   nào mà con người không làm được . Các chủ thuyết duy tâm chủ quan như hiện sinh, khắc kỷ và cả Krishnamurti lôi cuốn được nhiều người cũng chính bởi vì thế, nó cần đến ý thức, cần đến một sự nhận thức một chân lý nào đó của cuộc sống rồi biến thành hành động , sống theo đúng cái đã được nhận thức ấy. 

Ðạo phật không phải vậy. Phật không nêu lên bất cứ cái chân lý nào để con người nhận thức rồi sống theo, làm theo. Ðạo Phật chỉ là một phương pháp , là ngón tay chỉ mặt trăng. Chuyện này đã nhiều người nói nhưng rồi cuối cùng các tranh luận cũng đều sa vào chuyện khẳng định chân lý. Sự thật thì tất cả các kinh với những lời Phật dạy đều mang hai nghĩa , nghĩa khuyến dụ và nghĩa mô tả, không ở đâu có nghĩa chân lý bởi theo tinh thân Phật giáo thì bất cứ cái chân lý nào cũng đều bị phủ định cho dù đó là chân lý cuối cùng, tối thượng. Tiếc là có quá nhiều tông phái nêu lên chân lý rồi sống với chân lý mà không biết là đã tự lấy dây buộc mình cho du đó là dây vàng, là dây sự thật, chân thật, vĩnh cửu, bất tử, bất hoại, thường hằng .V.V.. 

Trở lại với Ðối cảnh vô tâm, cách hiểu thứ hai là : Chư Phật , chư tổ vẫn thường mô tả cái trạng thái tinh thần, cái đời sống tinh thần mà mình đang sống, đang cảm nhận ấy lại cho chúng sinh nghe và hình dung rồi phấn khởi, tín tự tâm rồi theo , rồi phấn đấu để đến cái tâm cảnh ấy như chư Phật , chư tổ. "Ðối cảnh không tâm mạc vấn Thiền" là câu mô tả, câu tự sự cái tâm hồn của tác giả Trần Nhân Tông cho người biết, người nghe chứ đó đâu phải là một chân lý sống rồi hùa nhau bảo cố gắng đối cảnh vô tâm ? Nhiều người tu tập, phấn đấu nhiều năm, nhiều thế hệ không đến , không đạt rồi lại hiểu rằng cứ ý thức đối cảnh cố gắng vô tâm là giác ngộ ! Ðối cảnh vô tâm là một trạng thái của bậc giác ngộ chứ không phải là một pháp tu. Muốn đến trạng thái ấy thì xin đọc lại các pháp tu của năm nhà bảy phái Thiền tông rồi chọn một pháp thích hợp với mình. Cần nhớ rằng một tổ nào đó đã nói rằng tu thiền là phải đắc, tu mà không đắc thì không phải tu thiền. Còn tại sao lâu lâu rồi không nghe nói ai chứng đắc thì là chuyện khác nữa. 

Kính, 
Hồ Trung Tú 
 
 
 


x

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Word Doc VNI Times E-mail Sitemap