CÓ ĐỚI
NGHIỆP VÃNG SANH KHÔNG
Date:
Fri, 17 Sep 2004 13:19:43 +1000 (EST)
From:
"Van Tuong Tran" <thienhue9@
Subject:
Có Đới Nghiệp Vãng sanh nơi Cỏi Cuc Lac không
To:
banbientap@thuvienhoasen.org
Thưa
các Huynh Đệ,
Tôi
gởi đến các Huynh Đệ hai bài Pháp của hai Thiền Sư:
- Thiền
Sư Thích Thanh Từ trong bài Pháp được trích trong sách NGUỒN
AN LẠC với đề tài : Chổ gặp gở và chổ không gặp gở
giửa Thiền Tông và Tịnh Độ Tông,nơi cuối trang 2,HT Thanh
Từ xác quyết KHÔNG CHẤP NHẬN ĐỚI NGHIỆP VÃNG SANH NƠI
CỎI CỰC LẠC . Xin các Huynh Đệ click vào địa chi :
http://www.budsas.org/uni/u-nguonal/nal09.htm
http://www.thuvienhoasen.org/nguonanlac-09.htm
- Thiền
sư Thích Nhất Hạnh trong bài Pháp HIỆN PHÁP TỊNH ĐỘ
trích Kinh A Di Đà giảng CÓ BẤT THỐi CHUYỂN . Xin các Huynh
Đệ đọc phần TƯ CÁCH BẤT THỐI nơi trang 5 qua đia chỉ
:
http://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha325.htm
http://www.thuvienhoasen.org/hienphaptinhdo.htm
Vậy
AI ĐÚNG AI SAI ?
Thiện
Huệ ( Trần văn Tường )
From:
tinhthuy@sbcglobal.net
To:
hoasen-1@yahoogroups.com
Subject:
Có đới nghiệp vãng sanh không
Date:
Tue, 21 Sep 2004 3:19:49
Chào
đạo hữu Thiện Huệ,
Đạo
hữu đưa ra hai câu hỏi, dựa vào hai bài thuyết pháp của
nhị vị Hoà Thượng Thanh Từ và Nhất Hạnh để hỏi ai đúng
ai sai. Câu hỏi thứ nhất là “Hoà Thượng Thanh Từ
xác quyết không chấp nhận đới nghiệp vãng sanh nơi cõi
cực lạc và câu hỏi thứ hai là “Hoà Thượng Nhất Hạnh
giảng “có bất thối chuyển”.
Người
viết xin chép lại dưới đây một vài trích đoạn của chư
tôn thạc đức để đạo hữu so sánh và tự tìm thấy câu
trả lời:
ĐỚI
NGHIỆP VÃNG SANH
Hoà
thượng Thích Duy Lực Trả Lời
http://www.thuvienhoasen.org/duyluc-khaithicuoicungtaivietnam-07.htm
Hỏi:
Thế
nào là đới nghiệp vãng sanh?
Đáp:
Có
nghiệp nhân phải có nghiệp quả, nhân quả rõ ràng. Nếu
muốn được đới nghiệp vãng sanh, mặc dầu nghiệp nhân
đã gieo mà được vãng sanh, tức là quả báo kiếp này khỏi
đến, nhưng phải có cái nguyện. Tịnh Độ có đại nguyện
và tiểu nguyện.
Nếu
tiểu nguyện cầu một mình mà được vãng sanh thì không hợp
nhân quả, vì ăn cục thịt phải trả cục thịt, giết một
mạng phải trả một mạng, nên phải đi đầu thai để trả
nợ, chứ không được vãng sanh.
Còn
đại nguyện như mình thiếu nợ mà không có tiền để trả,
thiếu tiền rất nhiều, nhưng mình có trương mục ngân hàng,
tiền ở ngân hàng có ít không đủ trả nợ, mình có thể
ký kỳ phiếu là 10, 20 năm sau trả. Người tu Tịnh Độ được
vãng sanh rồi mới trả, việc ấy giống như kỳ phiếu cũng
gọi là đại nguyện.
Phát
đại nguyện là cùng tất cả chúng sanh đều được vãng
sanh, phải thực hành đại nguyện là coi chúng sanh bình đẳng,
khi đã được vãng sanh rồi thành Phật thì những chúng sanh
chủ nợ thịt chủ nợ mạng được ưu tiên độ trước.
Như mình mỗi ngày gởi tiền vào ngân hàng thì sau này người
ta cầm kỳ phiếu đến ngân hàng mới lãnh được tiền.
Phát
đại nguyện mà không thực hành đại nguyện của mình phát,
còn ăn thịt chúng sanh, giết chết chúng sanh, tức là mỗi
ngày không gởi tiền vô ngân hàng thì sau này người ta đến
ngân hàng lãnh không có tiền, như thế là ngân phiếu giả,
ở thế gian phải bị tù, làm sao có công đức để được
vãng sanh? Vì chỉ miệng nói tâm nghĩ nhưng không thực hành,
gọi là nguyện giả.
Được
đới nghiệp vãng sanh đâu phải dễ! Thực hành được đại
nguyện cũng không phải dễ! Nói dễ là tham thiền mới thật
là dễ, chỉ cần hỏi và nhìn, ngoài ra không cần biết đến
cái gì hết, chỉ giữ cái không biết là đủ.
Hoà
Thượng Thanh Từ giảng: (trích đoạn)
“
có nhiều vị cho rằng tu Tịnh Ðộ rất dễ, chỉ cần niệm
Phật mười câu thì Phật đón về Cực Lạc liền. Dù kẻ
tạo nghiệp ác, trộm cắp nhưng niệm mười câu, cũng được
Phật đón về Cực Lạc, bởi vì họ nghĩ "đới nghiệp vãng
sanh", tức là mang nghiệp vẫn sanh về bên đó, không cần
đợi thanh tịnh mới được vãng sanh. Người tu Thiền không
chấp nhận như vậy. Cực Lạc là cõi thanh tịnh của Phật
mà mang nghiệp xấu ác ô uế, thì ai mà chấp nhận cho vào.
Như vậy nói đới nghiệp vãng sanh
là chuyện không thể chấp nhận được. ..”
Hoà
Thượng Tuyên Hoá giảng: (trích đoạn)
“Ðức
Phật A Di Ðà do lòng Ðại từ bi, Ðại nguyện lực, như nam
châm hút sắt, nhiếp thọ hết tất cả chúng sanh trong mười
phương vào trong cõi nước Tịnh độ của Ngài, nếu một
chúng sanh nào chưa được nhiếp thọ thì Phật A Di Ðà cũng
nguyện không thành Phật. Pháp môn niệm Phật là: "Ba căn khắp
độ, lợi độn gồm thâu". Hễ ai xưng niệm danh hiệu của
Phật thì đều có thể thành Phật. Ba căn là chỉ ba thiện
căn thượng, trung và hạ. Không luận là người thiện căn
lanh lợi, bình thường, cho đến ngu si, chỉ cần thường niệm
Phật đều có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở phương
Tây.
“Tín,
Nguyện, Hạnh là ba thứ tư lương của người tu theo pháp
môn Tịnh độ, như người trước khi đi xa cần phải dự
bị lộ phí và lương thực. Bạn muốn đi sang thế giới Cực
Lạc cũng phải chuẩn bị ba thứ tư lương; trước tiên phải
có lòng tin, nếu không thì sẽ không có duyên với thế giới
Cực Lạc. Trừ việc tự tin nơi chính mình, cũng phải tin
ở người khác, tin nhơn, tin quả, tin sự, tin lý.
“Thế
nào là tin ở chính mình? Ðó là tin ở tự mình quyết định
có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc phương Tây, đừng
nên khinh thường tự ti mà nói: "Tôi tạo rất nhiều tội,
làm sao có thể sanh về thế giới Cực Lạc ở phương Tây
được?" Nghĩ như thế tức là không tin ở chính mình. Không
luận là mình đã gây tạo ác nghiệp như thế nào đi nữa,
đều có thể có cơ hội đới nghiệp vãng sanh về thế giới
Cực Lạc phương Tây, nhưng mà nghiệp
mang theo là nghiệp cũ chớ không phải nghiệp mới. Tội nghiệp
đời trước có thể mang đi, nhưng chẳng thể mang đi ác nghiệp
tương lai được. Những ác nghiệp gây tạo trước đây hiện
tại đều cần phải sửa đổi; sau khi cải ác hướng thiện
mới có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc phương Tây.
Người nào sau khi niệm Phật, lại không chịu sửa lỗi, vẫn
tiếp tục tạo nghiệp, chẳng những không thể đới nghiệp
vãng sanh, mà ngay cả thế giới Cực Lạc phương Tây cũng
không đi được. Cho nên niệm Phật,
lạy Phật là gieo trồng nhơn lành để tương lai có thể thành
Phật, chẳng phải là nói hiện đời mà được. Sở dĩ người
tin theo Phật, chẳng nên biết rồi mà cố phạm. Khi chưa quy
y Tam Bảo và tin Phật, đã lỡ tạo ác nghiệp còn có thể
tha thứ. Nhưng sau khi tin Phật và quy y Tam Bảo rồi mà còn
gây tạo tội nghiệp thì tội ấy nặng thêm một bực, là
do biết mà còn phạm. Cho nên phải tin nơi chính mình có khả
năng "cải hóa tự tân", thì chắc chắn sẽ được vãng
sanh thế giới Cực Lạc phương Tây.
Lục
Tổ Huệ Năng giảng: (trích đoạn)
“…
Nếu ông không đoạn trừ tâm thập ác, thì thân ông đầy
dẫy nghiệp tội, từ đầu đến chân, mỗi gốc chân lông
đều chứa đựng nghiệp tội, thì làm sao ông có thể đến
Tây phương được? Phật nào mà đến rước ông? Ông làm
điều tốt dù không cầu vãng sanh Tây phương cũng sẽ được
vãng sanh. Nếu ông làm điều xấu
xa tội lỗi, mà cầu vãng sanh Tây phương thì cũng không được
vãng sanh. Vì ông có tội nghiệp trói buộc ông, tuy nói đới
nghiệp vãng sanh, đó chỉ là nói như vậy mà thôi, ông cần
phải tự tịnh kỳ ý mới
có thể được. .. Nếu ông không
ngộ tự tâm, lại không làm điều thiện mà chỉ có niệm
Nam Mô A Di Ðà Phật cầu vãng sanh Thế giới Cực Lạc Tây
phương thì lộ trình xa vời thăm thẳm không có cách nào đến
được. http://www.thuvienhoasen.org/phapbaodanluocgiang-00.htm
Trong
Kinh A Di Đà, Đức Phật dạy:
"Cực
lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị a bệ bạt trí,
kỳ trung đa hữu nhứt sanh bổ xứ, kỳ số thậm đa, phi thị
toán số, sở năng tri chi, đản khả dĩ vô lượng vô biên
a tăng kỳ thuyết. Chúng sanh văn giả, ưng đương phát nguyện,
nguyện sanh bỉ quốc. Sở dĩ giả hà? Đắc dữ như thị chư
thượng thiện nhơn câu hội nhứt xứ. Bất khả dĩ thiểu
thiện căn phước đức nhân duyên đắc sanh bỉ quốc".
Nghĩa
là cõi tây phương cực lạc là nơi chỉ có các bực bồ tát
"nhứt sanh bổ xứ", tức là các bực "thượng thiện nhơn"
sắp thành Phật, những người hiền thiện bậc thượng, gặp
gỡ nhau mà thôi. Những người còn đầy dẫy tham sân si, đầy
dẫy nghiệp chướng, đầy dẫy phiền não thì nhứt định
không thể nào đạt được cảnh giới đó. Không thể chỉ
lấy có một chút ít thiện căn
phước đức làm nhân duyên, để
cầu nguyện về cõi cực lạc đó được.
Trong
Kinh A Di Đà, Đức Phật cũng dạy:
"Nhược
hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, văn thuyết A Di Đà Phật,
chấp trì danh hiệu, nhược nhứt nhựt, nhược nhị nhựt,
nhược tam nhựt, nhược tứ nhựt, nhược ngũ nhựt, nhược
lục nhựt, nhược thất nhựt, nhứt tâm bất loạn. Kỳ nhơn
lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư thánh chúng hiện
tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời, tâm bất điên đảo,
tức đắc vãng sanh A Di Đà Phật cực lạc quốc độ".
Nghĩa
là nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe được danh hiệu
Phật A Di Đà, luôn luôn trì giữ danh hiệu đó trong tâm trí,
lúc nào cũng niệm Phật, nhớ nghĩ tới Phật, trong một ngày,
hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bảy
ngày, đạt được tâm yên không loạn. Khi thọ mệnh hết,
người như vậy giữ gìn được tâm
không điên đảo, tức thời được vãng sanh cõi nước tây
phương cực lạc của Đức Phật A Di Đà.
Tại
sao vậy? Bởi vì khi tâm của người đó luôn luôn niệm Phật,
không còn lăng xăng, lộn xộn, không còn loạn động vì các
việc đối đãi thị phi, hơn thua, tốt xấu, cho nên cảm ứng
được cảnh giới tịnh độ của Đức Phật A Di Đà vậy.
Nghĩa là nhờ tâm được thanh tịnh, bất loạn động, bất
điên đảo, cho nên người đó thấy được "Phật Tánh", tức
là "Pháp Vô Sanh", không còn sanh tử luân hồi, tức đắc vãng
sanh tây phương cực lạc.
BẤT
THỐI CHUYỂN
Văn
Kinh
"Này
nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh về nước Cực Lạc
đều có tư cách bất thối chuyển, trong số ấy có nhiều
vị đã là bồ tát nhất sinh bổ xứ. Số lượng của các
vị này đông đảo vô cùng, không thể dùng toán học mà kiểm
đếm được, ta chỉ có thể dùng danh từ vô số A Tăng Kỳ
để diễn tả mà thôi."
Hoà
Thượng Nhất Hạnh giảng:
Trong
kinh này Bụt liên tiếp đưa ra những hình ảnh rất tích cực
về nước Cực Lạc, và sau khi đưa ra những hình ảnh tích
cực, Bụt nói: "Còn nữa... này nữa..". Trong nguyên văn là:
"Phục thứ Xá Lợi Phất!" chúng ta dịch là "Này nữa Xá Lợi
Phất!'' ...''Này nữa Xá Lợi Phất! Tất cả những ai sinh
về nước Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển". Nghĩa
là không còn bị sa đọa trở lại.
Thối là đi lui, hễ sinh sang nước đó rồi thì chỉ đi tới
thôi, không đi lui, không rơi rụng trở lại nữa, nghĩa là
không rơi rụng vào trong cõi đau khổ, chìm đắm và hệ lụy.
Tại sao? Tại vì có một cái gì giống như một cái lưới
giăng làm cho mình có muốn rơi xuống cũng không rơi xuống
nữa. Cái lưới đó là cái lưới gì mà giữ cho ta không sa
đọa trở lại? Ðức Thế Tôn sẽ cho chúng ta biết trong một
đoạn kinh tiếp theo.
Bất
thối chuyển nghĩa là không còn sa đọa trở lại. Những người
nào sinh về cõi Cực Lạc đều có tư cách bất thối chuyển
cả. Và trong số đó có nhiều vị bồ tát đã là nhất sanh
bổ xứ. Bồ tát nhất sanh bổ xứ là bồ tát sẵn sàng được
sinh ra một lần cuối để thành Phật. Muốn cõi nào thì đi
về cõi đó để thành Bụt. Giống như đức Thích Ca Mâu Ni
trước khi sanh, ngài là bồ tát nhất sanh bổ xứ, sinh ra lần
chót ở cõi Ta Bà và thành Bụt ở đây. Số lượng các vị
này tức là các vị bồ tát nhất sanh bổ xứ đông đảo
vô cùng, không thể nào dùng toán học để kiểm đếm được.
Ta chỉ có thể dùng danh từ vô số (A Tăng Kỳ) để diễn
tả mà thôi. A Tăng Kỳ có nghĩa là vô số. Chữ A tức là
vô và Tăng Kỳ là số.
http://www.thuvienhoasen.org/hienphaptinhdo.htm
Hoà
Thượng Tuyên Hoá: (trích Đoạn)
Bộ
kinh này có năng lực gì? Đó là bất thối. Bất thối có
tác dụng gì? - Chính là vãng sanh; được
vãng sanh thì có thể được bất thối chuyển.
Tu các pháp môn khác đều không được an toàn lắm, vì không
có bảo hiểm. Giống như trì chú, trì được mấy năm, cảm
thấy không có thành tựu gì rồi thôi không trì nữa; đó
là thối lui đấy. Hoặc giả bạn niệm Phật đã mấy năm,
cảm thấy không có tiến bộ chi, lại lui sụt đi. Hoặc giả
đời này không lui sụt mà đời sau lại lui sụt. Đời này
rất tinh tấn niệm kinh, trì chú, nhưng chưa thành công, đến
đời sau lại không tinh tấn mà bỏ xuôi đi.
Tại
sao thế? - Bởi vì "La-hán còn có mờ mịt khi trụ thai, Bồ-tát
còn có mê khi cách ấm", đừng nói chi đến phàm phu. La-hán
một khi trụ thai cũng có thể quên mất thần thông đã có.
Bồ-tát một khi đầu thai cũng còn bị mê đi, nếu gặp được
thiện tri thức chỉ điểm cho phương pháp tu hành bèn có thể
khai ngộ; nếu không gặp được thiện tri thức chỉ điểm
cho, thì đời này sẽ bị lui sụt, đời sau càng lui sụt thêm
nữa, sẽ không dễ gì lại phát được tâm Bồ-đề. Nhưng
nếu vãng sanh về thế giới Cực-Lạc phương Tây thì không
còn bị lui sụt nữa, chỉ có một mực tiến tới thôi, có
thể đến được bốn thứ bất thối: Vị bất thối, Hạnh
bất thối, Niệm bất thối và Cứu cánh bất thối.
1.
Vị Bất thối: Khi sanh về thế giới ở phương Tây sẽ chứng
được quả vị Phật. Nếu sanh về nước kia, sẽ hóa sanh
trong hoa sen; khi hoa sen ấy nở sẽ thấy Phật, nghe pháp, chứng
nhập Vô sanh pháp nhẫn, không còn bị đọa lạc nữa.
2.
Hạnh bất thối: Có một số người đời này tu hành tinh
tấn, đời sau lại biếng nhác, đó là tu hành không có tâm
trường viễn. Nhưng sanh về thế giới Cực Lạc phương Tây
thì sẽ không có biếng trễ nữa, mà chỉ có tinh tấn dõng
mãnh tiến lên mà thôi.
3.
Niệm bất thối: Ví như người tu hành ở thế giới Ta Bà,
hôm nay nghĩ đến việc tu hành đã qua phát sanh niệm tinh tấn,
tinh tấn được một thời gian cảm thấy khổ cực quá, chẳng
bằng nghỉ ngơi cho được thoải mái, rồi không tinh tấn
nữa mà nảy sanh ý niệm lười biếng. Hạnh dầu không thối,
nhưng niệm đã thối rồi. — trong quá trình mấy mươi năm
ngắn ngủi này, tâm biếng lười nhiều hơn tâm tinh tấn,
niệm làm sao không thối chuyển được? Khi sanh về thế giới
Cực Lạc phương Tây, ở đó ngày đêm sáu thời đều nghe
thuyết pháp thì không thể nào có ý niệm thối thất tâm
Bồ-đề được.
4.
Cứu cánh bất thối: Khi sanh về thế giới Cực Lạc được
hóa sanh trong hoa sen, thì bất cứ lúc nào, cũng không thể
lui sụt được. Không lui sụt là không lui rớt về địa vị
phàm phu hoặc quả vị Tam thừa.
Một
khi sanh về thế giới Cực Lạc thì sẽ được bốn thứ bất
thối, cho nên lớp huyền nghĩa thứ tư là lấy "Vãng sanh bất
thối" làm lực dụng của kinh này.
http://www.thuvienhoasen.org/kinhadidaluocgiai-04.htm
Tùy
bịnh cho thuốc tùy căn cơ mà nói Pháp vì vậy mà Chư Tổ
Thiền Tông khi xưa mỗi vị nói dạy chúng cũng khác nhau không
thể mà nói ai dạy hay hơn ai là bởi vì chúng của mổi vị
đều khác nhau.
Người
nghe Pháp nên trước tự xét căn cơ của mình trước khi mà
phê bình.
Có
người căn lành sâu dày nên chỉ nghe qua một bài Pháp nói
về Lý Vô Thường thì Tâm liền Xả được các sự Tham Luyến
Pháp Thế Gian.
Có
người thì căn lành cạn nên nghe hàng trăm lần bài Pháp nói
về Lý Vô Thường thì mà Tâm chưa có thể Xả các sự Tham
Luyến Pháp Thế Gian.
Vajra
http://www.datviet.com/forums/showthread.php?t=60539
Chào
Vajra, và Dharma,
Pháp
môn nào cuối cùng cũng hướng về mục đích giải thoát.
Người ta ưa bới móc để mọi người tranh cải đấy thôi.
Trích
lời của HT Thích Thanh Từ :
"CHỖ
GẶP GỠ VÀ CHỖ KHÔNG GẶP GỠ GIỮA THIỀN TÔNG VÀ TỊNH
ÐỘ TÔNG "
Giảng
tại Chùa Tam Bảo - Hà Tiên 1999.
...
Tu
các pháp môn của Phật giống như người leo núi. Một ngọn
núi cao, người ở hướng Tây có lối lên của hướng Tây,
người ở hướng Ðông có lối lên của hướng Ðông, hướng
Nam, hướng Bắc cũng vậy. Trong bốn lối đó chúng ta thích
lối nào thì đi lối đó. Ðã chọn rồi phải quyết chí đi.
Dù leo lên thấy khó, cũng ráng mà leo lên đến đỉnh. Ðường
đi từ bốn hướng khác biệt, nhưng tới đỉnh rồi thì đều
gặp nhau. Cũng vậy, pháp môn Tịnh Ðộ, pháp môn Thiền,...
vv. tên có khác, hướng tu có khác, nhưng cứu kính đều gặp
nhau.
Hiểu
như vậy rồi, chúng ta tu không còn chê bên này khen bên kia,
mà chỉ nên tự trách mình chưa cố gắng, chưa quyết tâm.
Mong rằng tất cả chúng ta cố gắng thực hiện công phu tu
hành của mình đạt đến kết quả viên mãn, theo nhân duyên
riêng của mỗi người trong tinh thần hòa hợp và đúng với
lời Phật dạy. ...
Phap
Luan
http://www.datviet.com/forums/showthread.php?t=60539&page=2&pp=8