HIỆN TƯỢNG OSHO
Hoàng
Liên Tâm
PHẦN
2:
ĐƯỜNG
LỐI TRUYỀN ĐẠO
Nói
rằng ông Osho là một Đạo Sư và những lời giảng dạy của
ông là Giáo lý thì không đúng vì tất cả những lời giảng
của ông không có gì mới lạ, chỉ là sự góp nhặt rồi
pha trộn từ một số giáo lý của các đạo Kỳ Na giáo (Jainism),
Ấn Giáo (Hinduism), Phật Giáo, Lão Giáo (Taoism), Thiên Chúa
Giáo (Christianity) và một vài tư tưởng triết học đương
thời. Ông bắt đầu sự nghiệp bằng việc giảng dạy
môn Triết học tại đại học, rồi từ đó chuyển qua dạy
về khoa Tâm linh cho những đệ tử và những người theo ông.
Thị trường khoa Tâm linh học ở Ấn Độ thời đó rất cạnh
tranh và ông là một người giỏi về tiếp thị. Ông
đã tung ra thị trường một sản phẩm mới nhiều hấp dẫn.
Đó là những lời hứa hẹn “giác ngộ và giải thoát”
bằng một đường lối rất quyến rũ là con đường tình
yêu và tình dục; mà ông tin rằng sẽ được đón nhận ở
cả phương Tây lẫn phương Đông.
Mặc
dầu là một người độc tài, độc tôn, độc đoán, nhưng
ông lại là một nhà thuyết giảng có tài, có mãnh lực quyến
rũ và thuyết phục người nghe, người đọc. Văn tiếng
Anh ông viết giản dị, sáng sủa. Ông thuyết giảng rất
nhiều và thuộc đủ mọi đề tài.
Với
Phật Giáo, ông ca ngợi đức Phật, dùng những thuật ngữ
nhà Phật, nên người đọc, nhất là những Phật tử mới
vào đạo hay những người có ý muốn hướng về một nền
đạo học Đông Phương cảm thấy thích thú và gần gũi với
ông. Ông nói thao thao bất tuyệt về kinh Kim Cương, Bát
Nhã Tâm Kinh và Kinh Pháp Cú. Ông thuyết giảng về Vô
Ngã và Không Tánh của Phật Giáo. Ông cũng giảng và
đề cao nhiều pháp thiền định khác nhau của nhiều tôn giáo,
như của Mật tông: Kundalini, Mandala và Tình Dục, lẫn của
cả Thiền Minh Sát Vipassana của Phật giáo Nam Tông, cũng như
thiền quán âm thanh của kinh Lăng Nghiêm v... v… Ông có lối
diễn giảng như hỏa mù, vừa ca ngợi, vừa xuyên tạc đạo
Phật (một cách tinh vi), lại vừa lợi dụng uy tín của đức
Phật, dùng đức Phật như một cái dù che; nhưng thực chất
bên trong nôị dung những điều ông giảng lại chứa đựng
những tư tưởng đối nghịch với tư tưởng nhà Phật. Đây
chính là điều mà người ta thường gọi là “cái bẫy của
ngôn ngữ”.
Chúng
ta hãy đọc một đoạn của Osho dưới đây: ”Đừng
lo sợ gì cả, vì toàn bộ tiến trình giáo lý Bát Nhã Tâm
Kinh sẽ giúp anh phóng thể, khai sáng cái bản ngã: cái “Tôi”
đó thực không hiện hữu – chỉ cái “Tôi” đó là cái
duy nhất không hiện hữu, không thực! Ngoài ra tất cả
đều thực có. Có nhiều đạo sư đã nói: “Thế giới
này là ảo ảnh và linh hồn mới hiện hữu – cái ‘Tôi”
là thực, ngoài ra đều là ảo giác.” Đức Phật lại
giảng trái ngược lại: “Cái Tôi là không thực, còn những
thứ khác là thực.” Tôi đồng ý với Đức Phật
về quan điểm này hơn tất cả những lập thuyết, quan niệm
của những đạo sư khác…”[Osho:
Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích nữ Minh Tâm]
Đức
Phật không hề nói “cái Tôi
là không thực, còn những thứ khác là thực…”
Những người am tường giáo lý đạo Phật đều biết trong
suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, Đức Phật đều là
tuỳ căn cơ, hay nói một cách khác, tuỳ bệnh “chấp thật”
của chúng sinh mà cho thuốc khác nhau. Ngài phá chấp thật:
phá Ngã chấp, Pháp chấp và Không chấp; [01] ngay cả lời
nói của Ngài, Ngài cũng nói là vọng tưởng, chớ nên chấp
thật.
Một
đoạn khác, cũng trong Bát Nhã Tâm Kinh, Osho cho rằng Tiểu
ngã hoà nhập vào Đại ngã là Niết Bàn: “Chỉ
có người nào yêu và thiền định thì mới có thể chết
tỉnh thức được. Và một khi anh chết trong
tỉnh thức rồi, thì anh không cần phải lộn lạo luân hồi
trở lại cuộc đời này nữa, vì anh đã học xong bài học
thế gian rồi. Rồi anh tan biến vào vũ trụ, hội nhập
vào đại thể, hoà mình vào chân ngã – đó là Niết Bàn
tịch tĩnh đấy, anh ạ! [Osho:
Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích nữ Minh Tâm]
Đây
chính là quan niệm của Ấn Độ giáo hay Bà La Môn Giáo.
Đối với Phật giáo thì mọi khái niệm, tư tưởng về Bản
Ngã, dù là Tiểu Ngã hoặc Đại Ngã đều bị quét sạch,
kể cả cái công cụ quét cũng bị quét luôn. Ngay cả
đến giáo lý của Phật giảng dạy cũng chỉ được coi là
phương tiện như con đò đưa người qua sông. Khi đã
đến được bến đò thì phải bỏ đò và người đưa đò
tức Phật cũng phải bỏ luôn và phải bỏ luôn cả cái vọng
chấp gọi là bến đò nữa mới có thể đạt tới cái mà
sách vở tạm dùng ngôn từ mà gọi là Niết Bàn, Chơn Như.
Còn
trên phương diện hành trì, giáo lý nhà Phật chủ trương
diệt dục vì dục là nguồn gốc của khổ đau và luân hồi
thì Osho lại chủ trương ngược lại. Ông đề cao
dục, ca ngợi dục, quảng bá dục; nhất là tình yêu và tình
dục, ông dành nhiều buổi thuyết giảng về tình dục và
viết thành một quyển sách nói về Dục. Ông chỉ
dạy kỹ thuật giao hoan nam nữ cho dài lâu. Nên lưu ý,
đây là điểm quan trọng trong quá trình truyền đạo của
ông, là “đường lối hành trì” để hành giả đạt đến
giác ngộ giải thoát, đến Niết Bàn hay Thượng Đế” của
cái gọi là “giáo lý” của “Đạo sư Osho”. Xin trích
đoạn:
“..Nhưng
người đã nghiên cứu về dục, người đã đi sâu vào nó,
người đã thiền về những kinh nghiệm nhiều kiếp, đều
nêu ra rằng nếu giao hợp chỉ kéo dài một phút thì con người
sẽ ham muốn nó lần nữa vào ngày hôm sau, nhưng nếu nó có
thể được kéo dài trong ba phút thì người đó sẽ không
nghĩ về dục trong một tuần tiếp sau. Hơn nữa, họ đã quan
sát rằng nếu giao hợp có thể được kéo dài trong bẩy phút
thì người đó sẽ tự do khỏi dục đến mức không ý nghĩ
đam mê dục nào nẩt sinh trong người đó trong ba tháng. Và
nếu thời kì giao hợp có thể kéo dài ba giờ thì người
đó sẽ tự do với dục mãi mãi; người đó sẽ không bao
giờ ham muốn nó lần nữa!
Nhưng
kinh nghiệm của con người nói chung chỉ kéo dài trong một
khoảnh khắc; thậm chí khó mà tưởng tượng được một
thời kì ba giờ. Tuy nhiên, tôi lặp lại: nếu
một người có thể vẫn còn trong tư thế giao hợp, có thể
vẫn còn trong samadhi đó, trong sự
chìm ngập ba giờ, thế thì chỉ một hành động giao hợp
đó cũng đủ để giải phóng người đó khỏi dục cho phần
còn lại trong cuộc đời mình. Nó để lại sau một kinh nghiệm
mãn nguyện, một kinh nghiệm phúc lạc đến mức nó kéo dài
cả đời. Sau việc giao hợp hoàn hảo đó thì không còn rào
chắn để đạt tới vô dục thực sự.
Thậm
chí sau cả đời kinh nghiệm dục chúng ta cũng chẳng bao giờ
đạt tới bất kì đâu gần cái giai đoạn tối cao đó, gần
điều thiêng liêng đó. Tại sao? Người ta đạt tới tuổi
già chín muồi, đi tới cuối cuộc sống của mình, nhưng người
đó chưa bao giờ được tự do khỏi sự thèm khát dục, khỏi
niềm đam mê giao hợp. Tại sao? Bởi vì người đó chưa bao
giờ hiểu mà cũng không được bảo cho về nghệ thuật dục,
về khoa học dục. Người đó chưa bao giờ xem xét nó; người
đó chưa bao giờ thảo luận về nó với người đã chứng
ngộ.
Bạn
có thể ngần ngại rằng một kinh nghiệm mà thường chỉ
kéo dài một khoảnh khắc lại có thể được kéo dài trong
ba giờ, cho nên tôi sẽ nêu ra cho bạn một số điểm chỉ
dẫn. Nếu bạn chú ý tới chúng, thì cuộc hành trình tới
vô dục sẽ trở nên đơn giản hơn.
Việc
thở của người ta càng nhanh, thì thời gian giao hợp càng
ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp thì
việc đó càng kéo dài hơn. Và việc
giao hợp càng kéo dài lâu, thì càng nhiều khả năng từ dục
tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức.
Như tôi đã nói trước đây, việc hiểu về vô ngã, về vô
thời gian, bắt đầu hé mở ra cho con người trong samadhi-dục
đó. Việc thở phải rất chậm. Việc làm chậm hơi thở sẽ
mở ra viễn cảnh ngày càng sâu sắc hơn của nhận thức rõ.
Một
điều khác cần phải nhớ trong hành động giao hợp là ở
chỗ nhận biết của bạn nên được tập trung vào giữa hai
con mắt, ở chỗ của agnichakra. Nếu sự chú ý được tập
trung vào đó, thì thời hạn cực đỉnh có thể được kéo
dài - thậm chí tới ba giờ. Và một hành động giao hợp như
vậy có thể bắt rễ chắc chắn một người vào mảnh đất
của vô dục - không chỉ cho kiếp sống này mà cho kiếp sống
tiếp nữa..” [Osho:
Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức (Bài nói thứ 4)©Osho International
Foundation]
Có
người cho rằng những điều giảng trên không phải là của
Phật giáo mà là của Mật Giáo Ấn Độ hay như Osho gọi chung
chung là Mật tông.
Thêm
vào đó, tình yêu và tình dục nam nữ mà Osho đề cao cũng
được ông giảng lồng vào trong các kinh Phật, như trong
kinh Kim Cương và Bát Nhã Tâm kinh. Điều này xác nhận
tư tưởng của ông đối nghịch với giáo lý nhà Phật như
nước với lửa. Xin trích đoạn: “…Chỉ
có tình yêu lan tràn ra thế giới mới đem đến cách mạng.
Chủ nghĩa cộng sản đã thất bại, chủ nghĩa phát xít đã
thất bại, chủ nghĩa tư bản đã thất bại. Tất cả các
"chủ nghĩa" đều thất bại bởi vì sâu bên dưới tất cả
chúng đều kìm nén dục. Về phương diện này, không có sự
khác biệt giữa Washington và Moscow, Bắc kinh và Delhi không
có khác biệt nào hết cả. Tất cả họ đều đồng ý về
một điểm rằng dục cần phải bị kiểm soát, rằng người
ta phải không được phép có niềm vui hồn nhiên trong dục.
Mật tông tới để lập lại quân bình. Mật tông là phương
thuốc cho nên nó nhấn mạnh quá nhiều vào dục. Những cái
gọi là tôn giáo nói dục là tội lỗi, còn mật tông nói
dục là hiện tượng thiêng liêng duy nhất. Mật tông là phương
thuốc. Thiền không phải là phương thuốc. Thiền là trạng
thái khi bệnh tật đã biến mất và tất nhiên, cùng mất
đi với bệnh thì phương thuốc cũng mất đi nữa. Một
khi bạn được chữa lành khỏi bệnh, bạn không còn giữ
lại toa thuốc và cả lọ thuốc và thuốc với mình. Bạn
vứt chúng vào sọt rác. Xã hội thông thường chống
dục; Mật tông tới để giúp loài người, để trả lại
dục cho loài người. Và khi dục đã được trả lại, thì
nảy sinh Thiền. Thiền không có thái độ. Thiền là sự mạnh
khỏe thuần khiết. " [Osho:
Kinh Kim Cương Việt dịch: Như Không]
“…Khi
anh ân ái giao hợp với một người phụ nữ anh thương, cái
tột đỉnh của khoái lạc chính là đỉnh cao của Chân Không.
Ngay giây phút Chân Không hay khoái lạc cực điểm đó, người
đàn bà không còn là người đàn bà nữa và người đàn ông
cũng không còn là người đàn ông nữạ Những hình thái nam
nữ đó đã biến mất. Cái tính chất phân cực, sự phân
biệt giữa đàn ông và đàn bà không còn đó nữa, sự căng
thẳng không còn đó nữa; tất cả đã tuyệt đối buông xả,
thư giản hoàn toàn…” [Osho:
Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích Nữ Minh Tâm]
Những
lời ông giảng về kinh Phật và hành thiền nghe thật hấp
dẫn, rất êm tai, nhưng theo ông, hành giả chỉ có thể đến
được với nó qua đường tình yêu và tình dục. Đây
chính là viên thuốc độc bọc đường để mê hoặc lòng
người và đó chính là cái bẫy của ngôn từ, nên những
người mới vào đạo Phật cần phải lưu ý mà tránh xa.
Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14 đã cảnh giác những ai đi theo
con đường dâm (sex), Ngài nói: “…Nói
chung sự tà dâm được thực hiện bởi sự tham muốn, nhưng
người ta cũng có thể làm như thế bởi lòng sân hận, như
khi một người ngủ với vợ của một kẻ thù. Cũng
thỉnh thoảng nó được thực hiện do sự vô minh, cho rằng
qua sự giao hợp người ta có thể đạt được các chứng
ngộ vĩ đại…”
[Con Đường Đến Tự Do Vô Thượng,
nguyên tác Anh ngữ: The Way To Freedom, Dalai Lama Thứ 14 - Việt
dịch: Liên Hoa, Nhà xuất bản Thiện Tri Thức 1999]
Cũng
nên nói thêm, trong cuốn Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức, Osho
khẳng định không có con đường nào khác hơn để đi đến
samadhi là phải qua con đường tình dục:“Con
đường từ dục tới samadhi là con đường dài. Samadhi là
mục tiêu tối thượng; dục chỉ là bước đầu tiên. Và
tôi muốn chỉ ra rằng những người từ chối thừa nhận
bước đầu tiên, người chỉ trích bước đầu tiên, thì
thậm chí không thể nào đạt tới bước thứ hai được.
Họ không thể nào tiến bộ được chút gì. Điều bắt buộc
là phải tiến bước thứ nhất có ý thức, hiểu biết và
nhận biết. …”
Trong
một bài giảng khác, Osho cũng xác nhận rằng: “Sex
contains samadhi, because life contains God. Move from sex to samadhi,
from sex to superconsciousness; this is the only natural and rightful way.
Don't get stuck anywhere in sex. I teach you sex and transcendence both,
because the transcendence is possible only through it. And the people who
are teaching repression are not teaching transcendence. In fact, they go
on pouring more mud on you. They go on forcing you deeper in the mud because
there is no possibility of transcendence if you have not moved through
these sexual stages of autoeroticism, of homoeroticism, of heteroeroticism,
and then to transcendence. And the lotus blooms, the one-thousand-petalled
lotus. You are containing it in yourself. Avoid the priests and the politicians
and you can achieve it. They are standing in the way…” [Osho: The Secret
of Secrets, Vol 2, Chapter 15 (Available on Audio only)
Talks by Titles Subject Index - Audio Talks
© Osho International Foundation 1995]
Khi
giảng về Thiền Định trong Bát Nhã Tâm Kinh, Osho giảng huyên
thuyên, dùng toàn thuật ngữ Phật giáo nhưng chỉ có chữ
mà không có nghĩa, hầu như không có liên hệ gì với giáo
lý nhà Phật, lại còn có những điểm trái ngược với Phật
giáo, như khi giảng về thiền định, ông phân chia Thiền
Định làm hai lực đối kháng nhau: Thiền là một cái gì “yên
tĩnh, ôn hòa, sâu lắng” trong
khi đó Định thì có bản chất “bạo
hành, cá nhân bản ngã…” Chúng
ta hãy đọc thử một đoạn: “…Định
là ý thức đối đãi, nhị nguyên: bởi thế Định tạo ra
sự mệt mỏi, chán ngán, cho nên khi anh tập trung vào một
đối tượng nào, anh cảm thấy mệt lả. Anh không thể
tập trung suốt hai mươi bốn tiếng đồng hồ liền được,
anh phải nghỉ ngơi. Sự tập trung không bao giờ có thể
trở thành bản chất của anh được. Thiền không bao giờ
làm cho anh mệt mỏi. Thiền không bao giờ làm cho anh đuối
sức. Anh có thể thiền hai mươi bốn giờ đồng hồ
liền hay ngày nọ qua ngày kia, năm nọ qua năm kia. Thiền
có thể trở thành vô tận vì chính bản chất thiền là thư
thái, an nhiên, tuyệt đối không căng thẳng, mệt lả, đuối
sức. Định là một hành động, một loại hành động
có ý chí mạnh mẽ. Còn Thiền là trạng thái không ý
chí, một trạng thái vô hành….Trong Định, chúng ta đã có
sẵn một kế hoạch, một dự án, một tư tưởng trong tâm
trí. Khi anh tập trung tâm trí vào một đối tượng, đầu
óc anh hoạt động dữ dội, anh thấy rõ là anh đang quán chiếu
cái gì, tập trung tâm ý vào cái gì, vì tập trung hiện ra
từ vùng quá khứ….Định sẽ khiến anh trở thành một con
người ý chí. Nhưng thiền sẽ đưa anh đến Chân Không,
sẽ đưa anh đến vùng Chân Như tự tại. Đó là chính
xác những gì Phật nói với Xá Lợi Phất…[Osho:
Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Thích Nữ Minh Tâm]
Trong
khi đó, Định theo Phật giáo là “trạng thái chú tâm lên
một đối tượng duy nhất bằng sự lắng lọc từ từ của
tâm. Định là một dạng tâm thức, trong đó không còn tính
nhị nguyên, trong đó chủ thể biến thành một với khách
thể, lúc đó chỉ còn một "kinh nghiệm tâm thức" là có thật.
Khả năng đạt định là một trong những điều kiện tiên
quyết để tu tập Thiền…, hành giả nhờ Định (s: samadhi)
mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong
đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng
thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua
nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một
khi hành giả trừ Năm chướng ngại thì đạt được bốn
cõi thiền (Tứ thiền định) của sắc giới (xem Ba thế giới),
đạt được Lục thông (s: abhij) và tri kiến vô thượng. Tri
kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của
mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát
mọi Ô nhiễm. Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể
chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (deva) liên hệ.
Trong
giai đoạn một của thiền định, hành giả từ bỏ lòng tham
dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà
đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ
lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng
một nội tâm yên lặng và tâm thức trở nên sắc sảo bén
nhọn, xuất phát từ sự chú tâm quán sát. Hành giả tiếp
tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ
lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm
nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành
giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác.
Tại
Trung Quốc, Thiền có một ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Nó
bao gồm tất cả phép tu như quán niệm hơi thở, Bốn niệm
xứ ... với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác. Từ
phép Thiền do Bồ-đề Đạt-ma truyền, Thiền Trung Quốc đã
phát triển rất mạnh (Thiền tông).
Trong
một ý nghĩa bao quát, Thiền cũng không phải là những phương
pháp đã nêu trên. Thiền là một trạng thái tâm thức không
thể định nghĩa, không thể mô tả và phải do mỗi người
tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết
phải liên hệ với một tôn giáo nào cả kể cả Phật giáo.
Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân
xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn
hóa khác nhau trực nhận và mô tả bằng nhiều cách. Đó là
kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại,
nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh
tử. Vì vậy, Tọa thiền không phải là một phương pháp đưa
con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người
khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện
diện…” [Tự điển Phật Học
Đạo Uyển: http://www.daouyen.com/Data/Ph_T/T132.htm]
Còn
có quá nhiều điều đối nghịch với giáo lý nhà Phật, nhưng
người viết cho là tạm đủ để độc giả có thể nhìn
rõ thêm về ông Osho và giá trị những lời thuyết giảng
của ông về đạo Phật. Osho có phải là đạo sư và
những lời thuyết giảng của ông có phải là khuôn vàng thước
ngọc không, điều đó không tuỳ thuộc vào những điều ông
nói, không tuỳ thuộc vào những khả năng trích dẫn từ kinh
điển Phật giáo mà là từ hành động của ông và động
lực để giảng dạy của ông.
Ngài
Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14 đã nói rằng: “Động
lực giảng dạy (của một vị Thầy) phải trong sạch – không
bao giờ vì một ước muốn danh tiếng hay lợi lạc vật chất…
Trong thế giới, nếu không có một nhà lãnh đạo chân chính
thì chúng ta không thể cải thiện xã hội được. Cũng
vậy, trừ phi vị thầy có phẩm chất đúng đắn, thì mặc
dù đức tin của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc theo học
vị thầy có thể làm hại bạn nếu bạn được dẫn dắt
theo một đường hướng sai lầm. Vì thế, trước khi
thực sự coi ai là thầy, điều quan trọng là phải khảo xét
họ…” … Nếu như vị đạo
sư của bạn buộc bạn phải làm việc vô đạo đức hay nếu
giáo lý của vị ấy mâu thuẫn với Phật Pháp thì hành xữ
như thế nào? Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp: “Bạn
nên trung thành với điều đạo đức và xa rời những gì
không phù hợp với Pháp…”
Ở Ấn Độ, một lần kia, một vị thầy có nhiều đệ tử
yêu cầu họ đi ra ngoài ăn trộm. Vị thầy thuộc đẳng
cấp Bà La Môn và rất nghèo. Ông dạy rằng khi những
người Bà la Môn trở nên nghèo khó thì có quyền ăn cắp.
Ông nói, là những người được Trời Brahma - đấng sáng
tạo của thế giới – yêu quý, đối với một người Bà
la môn, việc ăn cắp không xấu xa. Những đệ tử sắp
đi ăn cắp thì vị thầy người Bà la môn nhận thấy một
đệ tử đứng im lặng cúi đầu xuống. Ông hỏi anh
tại sao không đi. Người học trò nói: “Điều
thầy dạy chúng con bây giờ trái nghịch với Pháp, vì vậy
con không nghĩ rằng con có thể làm được điều đó. “
Lời nói này làm vui lòng người Bà la môn, ông nói: “Ta đã
trắc nghiệm các con. Mặc dù các con đều là đệ tử
của ta và trung thành với ta, nhưng sự khác biệt giữa các
con là sự phán đoán. Ta là thầy của các con, nhưng các
con phải xem xét lời chỉ dạy của ta, và bất kỳ lúc nào
lời chỉ dạy chống trái với Pháp thì các con chớ nên theo.”
…” [Con Đường Đến Tự Do Vô
Thượng, nguyên tác Anh ngữ: The Way To Freedom, Dalai Lama Thứ
14 - Việt dịch: Liên Hoa, Nhà xuất bản Thiện Tri Thức 1999].
Hoàng
Liên Tâm
Chú
Thích
[01]
Ngã chấp, Pháp chấp, Không chấp: Chấp thật cái thân
thể và sự suy nghĩ của bộ não của ta gọi là Ngã Chấp.
Chấp thật vạn sự vạn vật trong vũ trụ pháp giới do ta
hiểu biết được cho là Thật Tánh Thật Tướng, gọi là
Pháp Chấp. Phá được Ngã Chấp và Pháp Chấp, thấy
tất cả đều không, chấp cái không này là thật Không gọi
là Không Chấp.
[02]
Cần biết thêm về ông Osho, quý độc giả có thể tìm mua
đọc Bhagwan: The God That Failed, published by Saint Martin's Press
and written by Hugh Milne (Shivamurti), quyển sách này được viết
bởi Hugh Milne, một đệ tử thân cận với Osho trong thời
kỳ ở Poona và Oregon. Một quyển sách thứ hai cũng nên
xem là cuốn: Promise of Paradise: A Woman's Intimate Life With 'Bhagwan'
Osho Rajneesh, published by Barrytown/Station Hill Press. Cả hai
quyển sách đều không còn, nhưng có thể mua lại sách cũ
tại http://www.Amazon.Com and http://www.Amazon.Com.UK
Sách
và Tư Liệu Trích Dẫn:
[01]
Has Any American City Ever Faced Biological Warfare?
By
George Beres http://www.hnn.us/articles/355.html
Mr.
Beres, a graduate of Northwestern's Medill School of Journalism, was sports
information director at the University of Oregon.
[02]
Oregon. Town Never Recovered From Scare
The
Associated Press/October 19, 2001
By
Gillian Flaccus
http://www.rickross.com/reference/rajneesh/rajneesh8.html
[03]
The Story of a Truly Contaminated Election
Columbia
Journalism Review/Jan/Feb 2001
By
Lawrence K. Grossman
http://www.rickross.com/reference/rajneesh/rajneesh4.html
[04]
Osho: From Sex To Super-Consciousness – ©Osho International Foundation
(ấn bản Anh)
[05]
Osho: Từ Dục Tới Siêu Tâm Thức – ©Osho International Foundation
(ấn bản Việt)
[06]
Osho: The Secret of Secrets, Vol 2, Chapter 15 (Available on Audio only)
Talks by Titles Subject Index - Audio Talks © Osho International Foundation
1995
[07]
Osho: Bát Nhã Tâm Kinh, Việt dịch: Tỳ Kheo Ni Thích Nữ Minh
Tâm
[08]
Osho: Kinh Kim Cương, Việt dịch: Như Không, ©Osho International
Foundation (ấn bản Việt)
[09]
Dalai Latma 14: Con Đường Đến Tự Do Vô Thượng, nguyên tác
Anh ngữ: The Way To Freedom - Việt dịch: Liên Hoa, Nhà xuất bản
Thiện Tri Thức 1999
[10]
Osho: "Autobiography of a spiritually incorrect mystic," St. Martin's Press,
(2000) Review/order this book
[11]
Osho: "Meditation: The first and last freedom," ST, Martin's Press, (1997).
Review/order this book
[12]
Osho: "Courage: The joy of living dangerously," Griffin, (1999). Review/order
this book This is one of a new series of books in the series "Insights
for a new way of living."
[13]
Osho: The science of meditation is at: http://osho.com
[14]
Friends of Osho has a web site at: http://www.sannyas.net/ They have a
list of Sannyasins, [15] Osho information centers, etc. at: http://oz.sannyas.net/friends/
[16]
Friends of Osho have a biography of Osho at: http://earth.path.net/osho/osho02.htm
[17]
Osho Vision: A lifestyle of meditation and celebration at: http://www.meditate-celebrate.com
[18]
Christopher Calder, "Osho, Bhagwan Rajneesh, and the Lost Truth," at: http://home.att.net/~meditation/Osho.html
[19]
Article in the New York Times, 1998-MAR-11, Page A21. Mentioned in "Food
Poisoning and Biological Warfare,"
[20]
"Osho Rajneesh," is a particularly beautiful web site, which covers a wide
range of topics: http://osho.toptelemedia.com/index1.htm
[21]Tự
điển Phật Học Đạo Uyển: http://www.daouyen.com/Data/Ph_T/T132.htm]