THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
PHẢI CHĂNG CÁC VỊ HÒA THƯỢNG 
CÓ QUYỀN LỘNG NGÔN ?
Chánh Lập

Theo lý thuyết nhà Phật, khi một con người đã hoàn toàn giác ngộ thì mọi lời nói và hành động theo ý muốn mà vẫn không trái Phật pháp. Ngay cả đức Khổng Tử trong quan điểm tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, cũng đã nói tuổi 70, tôi muốn làm gì thì làm mà không trái với đạo lý ( thất thập tùng tâm sở dục bất du củ). Cả hai khẳng định trên đều đúng bởi vì khi đạt tới trình độ tu học đó thì tâm đã được luyện tới mức không còn toan tính những gì lợi mình, hại người, trái Phật pháp, trái đạo lý nữa, mà mọi lời nói, cử chỉ, hành động đều nhằm mục đích độ sinh, như là những phương tiện thiện xảo của vị thiền sư “thỏng tay vào chợ” sau khi đã đat đạo.
 
Nhưng hiện nay, tại sao có một số vị Hòa thượng, tức là người đã trãi qua một quá trình tu học và thực hành mấy chục năm trời và đã lên tới bậc cao nhất trong hàng giáo phẩm của Phật giáo, mà lại có những tư tưởng, lời nói, cử chỉ khiến cho một người với một chút hiểu biết giới hạn, vẫn dễ dàng nhận ra là trái với Phật pháp, trái đạo lý ? Phải chăng mấy vị Hòa thượng này cho rằng mình đã giác ngộ viên mãn, và lầm rằng mình có quyền lộng ngôn, xem thường thính chúng là những Phật tử có tâm cầu học Phật pháp, mặc dầu không có gì chứng tỏ rằng các vị đã giác ngộ tới đâu, trái lại những tư tưởng, lời nói, cử chỉ ấy đã chứng tỏ các vị chưa "ngộ" được chút nào!. Những lời ấy không những không giúp cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam mà còn tạo ra các sự hiểu lầm, làm giảm uy tín của chính người nói, gây chia rẻ, góp phần làm suy yếu Phật giáo Việt Nam.
 
Trong bài này tôi xin nêu ra hai hai điển hình là Hòa thương X và Hòa thựơng Y (*), không nhằm nói xấu, mà muốn góp phần tạo môi trường tốt hơn cho việc học tập Phật pháp cho Phật tử và cho sự phát triển của Phật giáo Việt Nam. Nhưng đã nói thì cần nói thẳng, nói rõ đúng sự thật với đầy đủ chứng cớ, chứ không vu khống.
 
Thứ nhất là Hòa thượng X. Ngài này viết khá nhiều sách, tài liệu học tập cho trường Cao Cấp Phật Học, giảng dạy cho Tăng, Ni tại nhiều trường Phật học và thường xuyên giảng Kinh cho các Phật tử tại các chùa như Vĩnh Nghiêm,...Các sách của ngài viết ra có nhiều vấn đề, chẳng hạn quyển Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Trực Chỉ Đề Cương được nhà xuất bản Tp Hồ Chí Minh in năm 1999, làm giáo án cho trường Cao Cấp Phật Học, trong đó có phần phụ lục : Phật Giáo là duy vật qua cái nhìn Bát Nhã Ba La Mật Đa, được ngài trình bày trong Hội Thảo tại Viện Khoa Học Xã Hội Tp Hồ Chí Minh. Nhiều Phật tử đã cho rằng ngài đã hiểu sai Phật pháp! (xem Diễn Đàn Phật Pháp trong Thư Viện Hoa Sen), và có một số Phật tử đã phản bác trệch ra ngoài ý chính bằng cách nói rằng vì ngài là Hòa thượng quốc doanh (với hàm ý chê là không được học hành và tu chứng nghiêm túc, mà được nhà nước phong chức,…). Để trả lời các thắc mắc, tranh luận này, Báo GN số 259 in tại Tp Hồ Chí Minh, cho biết rằng Hòa thượng X là một trong những vị tôn túc và có thẩm quyền về Đại thừa của Phật Giáo Việt Nam. Nhưng về ý nghĩa Phật pháp thì Báo GN đã tỏ ra "không có đủ bản lĩnh hay can đảm" để bênh vực mạnh mẽ hay bác bỏ hẵn lập luận của Hòa thượng X. 

Người viết bài này không có khả năng đi vào biện giải những vấn đề ấy, nên ở đây không đề cập đến vấn đề cao siêu, mà chỉ nói về những điều đã nghe Hòa thượng X giảng trong một băng ghi lời giảng của ngài về Kinh Đại Bát Niết Bàn, do một người bạn cho mượn. Người viết chưa hiểu nhiều về Phật pháp, nhưng chỉ nghe xong cuộn băng ghi lời của một buổi giảng của Hòa thượng X thì cảm thấy "quá khiếp" cho cái tầm và cái tâm của ngài! Tôi xin kể lại để quý Phật tử nhận định như thế nào ? Tôi có chủ quan sai lầm không? Qua bài giảng này, tôi có mấy nhận xét sau đây về cung cách giảng của Hòa thượng X:

Thứ nhất : Nói lang bang, không ăn nhập gì với chủ đề của bài giảng, mà theo ngôn ngữ thông tục ngoài đời, người ta gọi là "cương ẩu". Trong bài giảng, ngài nói rằng có người hỏi ngài tu theo pháp môn nào, ngài trả lời là ngài không theo môn phái nào cả, chỉ là đệ của Phật thôi. Thái độ xem ra là “quá oai, quá hách, quá ngầu!” vì đã phủ nhận cả thầy, tổ. Nhân đó ngài kể là đã có một vị tăng có Pháp danh bắt đầu bằng chữ Hồng và thấy tên ngài bắt đầu bằng chừ Từ thì tới nói với ngài là nhận ra cùng tu trong một tuyền thống, xin nhận vai vế theo thứ bậc nào đó, vì tên được các Bổn sư đặt theo các chữ trong cùng một bài kệ của Tổ để lại, nhưng ngài đã bác bỏ, không chấp nhận, và nói không có liên hệ gì cả !. Tiếp theo ngài nói rằng, thuở nhỏ chưa biết gì nên tu học ở trong một chùa tại một tỉnh Nam bộ, nhưng từ khi lên Sài gòn tu học (ngài đã tu học Phật pháp tại Phật học đường Ấn Quang, và đã cùng tốt nghiệp một khóa với các Hòa thượng HV, TT,..., chứ không phải được đào tạo theo kiểu mà một số người chê ẩu là quốc doanh đâu!) đến nay mấy chục năm thì ngài không ở chùa nữa, chỉ ở tại một cái am hay cốc nhỏ thôi. Ngài cho rằng ở chùa làm gì, người tu chẳng qua cũng như con chuột chỉ cần cái hang thôi!. Nhân đó ngài đả kích việc các thầy khác lo xây chùa to làm gì, có lẽ ngài đả kích Hòa thượng TT vì trong thời gian qua Hòa thượng đã xây dựng nên môt hệ thống các Thiền viện khá quy mô từ Nam ra Bắc, và có một số ớ các nước Mỹ, Pháp, Úc... Hoà Thượng X đã không thấy rằng cái cốc, cái am, chùa nhỏ, chùa to đều có công dụng, chức năng riêng trong quá trình tu học của các đối tượng khác nhau tại những thời điểm khác nhau. Chỉ hỏi sơ ngài một câu nhỏ : Tại sao ngài lại dùng cái giảng đường rông rãi của ngôi chùa to bậc nhất Saigòn là chùa Vĩnh Nghiêm để giảng cho được nhiều Phật tử nghe, mà ngài không lại không giảng tại cái cốc nhỏ xíu nào đó? Hơn nữa, sau mấy chục năm ngài ở “hang”, nay quý vị thử đến thăm cái “hang” của ngài sẽ thấy như thế nào? Xe hơi vào tận nơi có được không? Một người dân bình thường ở quanh vùng Sài gòn có chắc được cái “hang” như ngài không?
 
Vì không chấp nhận môn phái truyền thống, cho nên ngài lai lang bang qua đả kích việc giỗ Tổ. Ngài nói Tổ đã chết năm, bảy chục năm rồi mà làm đám giỗ làm gì ? Chắc là ngài nghĩ rằng đám giỗ là chỉ để ăn, chứ ngài không nghĩ đến ý nghĩa cao quý của  đám giỗ là dịp để học trò, con cháu ôn lại, học tập cái hay cái tốt của tiền nhân để noi gương mà sống tốt đẹp hơn. Chưa hết, nhân đó ngài bày cách làm đám giỗ như sau : Khi làm đám giỗ, mình muốn ăn thứ gì thì mua thứ ấy về nấu cúng ! Mà khi cúng, canh chừng khi cây hương cháy độ một phần ba thì lo don xuống mà ăn, mới ngon! Chứ nhiều người để hương cháy tàn rồi mới dọn xuống thì đồ ăn nguội lạnh rồi, ăn ngon sao được! Quả là ngài cho rằng đám giỗ các bậc tiền bối chỉ là dịp để ăn thôi! và ngài đã dạy cách ăn giỗ chí phải!!!
 
Thứ hai : Vừa lang bang vừa thiếu kiến thức. Tiếp theo, ngài nói kinh sách bảo đức Phật Thích Ca Mâu Ni được Hoàng hâu Ma Da sinh ra từ một bên hông, nhưng ngài không tin như thế. Ngài nói thêm là rất nhiều điều được kinh sách ghi lại, nhưng không dễ gì làm cho ngài tin. Đó tất nhiên là quyền của ngài. Nhưng nói tới hai tiếng Ma Da, ngài lại lang bang nói nhảm về con Ma Da bắt người chết đuối tại miền quê sông nước của ngài. Hẵn rằng trong quá trình học Phật pháp và hành đạo trong sáu, bảy chục năm trời nay, ngài đã thừa biết rằng cái tên Ma Da là phiên âm chữ Maya, là tên bằng tiếng Phạn của mẹ đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hoàng hậu Maya, mẹ của đức Phật Thich Ca Mâu Ni là một nhân vật có thật trong lịch sử, trong khi khái niệm Ma Da là khái niệm về một con ma không có thật mà những người mê tín dị đoan tin là một con ma đã bắt người ta chết đuối. Hai cái tên Ma Da này không hề dính dáng gì nhau cả. Thế mà ngài lại say sưa kể về hiện tượng ma da bắt người chết đuối. Rồi ngài lại dạy khôn người ta bằng cách chê người ta đi mò tìm xác người chết đuối ở cả một vùng rộng lớn. Theo ngài thì không cần tìm đâu xa, chỉ chờ 3 ngày thì xác chềt sẽ nổi lên tại chỗ bị ma da bắt. Ngài đâu có biết rằng xác chết cần thời gian để sình trương lên đủ to thì bị đẩy nổi lên theo nguyên lý Archimede, và chỉ nổi tại chỗ đã chết nếu nước nơi đó không chảy mạnh, chứ nếu gặp chỗ nước chảy mạnh hay chảy ngầm bên dưới thì xác chết bị trôi đi mất trước khi nổi lên.
 
Thứ ba : Chê bai việc lao động chân chính của  tăng, ni: Sau đó ngài lại lang bang công kích một vị thầy (có lẽ là Hòa thượng TT) đã xin đất của nhà nước để cho tăng, ni trồng trọt. Ngài cho rằng bày đặt ra xin đất, làm rẫy, trồng rừng, rốt cuộc có tự nuôi sống nổi không? Ngài nhấn mạnh là ngài chỉ ăn nhờ vào của cúng dường của Phật tử. Nếu mà Phật tử cúng dường không đủ sống thì ngài sẽ đi bán gạch, bán cá lia thia mà sống ! Trời đất, quỷ thần ơi! (chưa dám thưa với Phật, với Tổ !) một nhà sư mà cho rằng tăng, ni đi trồng lúa, làm rẫy, trồng rau, trồng cây thuốc để có sản vật phụ thêm vào bếp ăn của nhà chùa, để có thêm phương tiện giúp đời là trái chánh pháp, còn đi bán gạch, đặc biệt là đi nuôi và bán cá lia thia cho thiên hạ chơi là đúng chánh pháp! Hết ý!!!  Đành rằng, trong thực tế việc lao đông sản xuất của tăng, ni có thể không bảo đảm được 100% cho việc tự túc cuộc sống của tập thể ở các chùa, nhưng một nhà tu theo Phật mà không hiểu giá trị đích thực của lao động trong quá trình tu hành thì làm cách nào mà vị ấy lên được tới hàng Hòa thượng? Có lẽ vì không chấp nhận theo tuyền thống thầy, tổ nào cho nên ngài không hề đọc câu của tổ Bá Trượng :”Nhất nhật bất tác, bất thực”.
 
Thứ tư : Ý tưởng, cung cách, giọng điệu thiếu Từ Bi : Trong một đoạn tiếp của bài giảng, ngài lại lang bang kể chuyện một Việt kiều từ Canada về, đem một lọ khá to chứa đầy tro cốt của người cha đến chùa để nhờ nhà chùa đặt vào vị trí thờ tro cốt. Người Việt kiều này gặp ngài và tưởng ngài là Trù trì hay người có quyền hạn trong chùa, cho nên mới trình bày sự việc với ngài.

Đáng lý với tầm của một vị Hòa thượng, ngài nên hướng dẫn một cách từ bi cho người Việt kiều kia hiểu mới phải chứ. Đàng này, ngài lại hướng dẫn một cách châm biếm vừa hàm ý chê người Việt kiều không biết, vừa chê người của nhà chùa ăn hối lộ !. Ngài kể, ngài nói với anh Việt kiều kia là muốn thờ thì chỉ lấy một vài thìa tro nhỏ thôi, không cần chi cả lọ to như thế, việc đóng tiền thì đóng vừa phải thôi, đứng có đóng nhiều, vì có đóng nhiều thì lúc đầu cái hủ đựng tro cốt được đặt nằm bên ngoài, đi vào thấy ngay, nhưng nếu anh đi rồi, lâu không về thì cái hủ nó chạy ra sau, nó có chân chạy ra sau đó! Thầy nói những câu này với một giọng điệu, âm sắc, kéo dài trường độ của một số từ “ có chân chạy ra sau đó!”, nghe rất mĩa mai ! Tôi chỉ nghe băng chứ không trực tiếp nghe ngài giảng, không biết trong lúc nói ngài có vung tay, múa chân, diễn cảm bằng nét mặt hay không…. Nhưng quả là tôi có cảm tưởng như nghe một diễn viên kịch, hay đúng hơn ngài có tài diễn như anh hề chuyên nghiệp !. Nói chung, trong mọi lúc giảng, giọng nói của ngài thiếu hoàn toàn tính cách từ hòa, ái ngữ của một vị chân tu theo nhà Phật như thầy TT, thầy NH, …, mà giọng điệu của ngài giống như giọng điệu của một kẻ phàm phu đang cải lộn!
 
Thưa quý vị, chỉ trong một băng giảng, ghi lại một buổi giảng Phập pháp tại chủa (Vĩnh Nghiêm) của Hòa thượng X mà tôi đã “học” được từ ngài rất nhiều thứ như trên. Cho nên tôi đã “khiếp” mà không dám nghe ngài giảng hay đọc bất cứ sách, báo gì ngài viết nữa! 
 
Trong số những người ngồi nghe ngài giảng, có rất nhiều cụ già vốn rất cung kính trước uy danh Hòa thượng của ngài và với tâm hỷ xả nên nghe tai này qua tai kia và cười rất vô tư; nhưng cũng có những Phật tử trẻ, họ cần học hỏi Phật pháp, thì thử hỏi họ đã học được gì qua buổi giang của ngài ? 
 
Một điều nữa, tôi cũng lấy làm lạ, là dường như trong nhiều bài gảng, Hòa thượng X hay chê việc ngồi Thiền, nhập thất (hẵn là để đả kích thầy TT) mà tại sao ngài in sách ra với tên tác giả lại ghi là Thiền Sư X?
 
Xin hỏi riêng báo GN là : với kiến thức và cung cách giảng Phật pháp như vậy thì ngài có xứng đáng là một vị tôn túc, rất có thẩm quyền trong Phật giáo Đại thừa Việt Nam như báo GN đã khẳng định không? Có nên để ngài tiếp tục giảng Phập pháp nữa hay không?
 
Ngài thứ hai tôi xin nêu ra là Hòa thượng Y. Ngài này hiện định cư tại nước Úc. Tôi cũng không biết gì về ngài cho đến khi tình cờ đọc thấy bài phát biểu của ngài trong tư cách là người khai mạc lễ TRẠI VẠN HẠNH 1 HẢI NGOẠI của các Huynh trưởng  Phật tử gốc Việt Nam đang định cư tại nhiều nước trên thế giới. Đó là bài Đạo Từ Cho Lễ Khai Khóa Trại Vạn Hạnh 1 GĐPT/HN UĐL, tháng chạp năm Bính Tuất( 2007). Trong bài Đạo từ khai mạc nầy, ngài Y cho biết ngài là một vị trong ban hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất từ hơn bốn chục năm qua, và hiện là một Tăng già trưởng lão trong giáo phẩm Hòa thượng, đã có chút ít công đức giảng nói Kinh Thắng Man cho một số Huynh trưởng. Tôi không rõ ngài hoặc vì ngài ở xứ người quá lâu, hoặc ngài ít viết, giảng nói bằng tiếng Việt cho nên câu cú của bài Đạo từ khá “lủng củng” ! Tiếp theo, ngài yêu cầu các Huynh trưởng ghi nhận rõ ràng 4 điểm nhắn nhủ. 
 
Tôi xin bàn về điểm nhắn nhủ thứ 3 trước. Nguyên văn của Hòa thượng Y:
 
Điểm thứ 3. Các anh chị em thân mến: Trong Kinh Liên Hoa Diện Đức Từ Phụ Mâu Ni đã ân cần nói với Tôn giả A Nan Đà: 2500 năm sau Đạo pháp của Phật Đà do những đệ tử Phật Đà làm hư hỏng”! Ai, là đệ tử Phật Đà ? Thủ Tướng cs Phạm văn Đồng đã nói : “Muốn triệt tiêu một tổ chức, một tôn giáo, ta phải cấy vào tổ chức đó những người cán bộ cốt cán, lãnh đạo tổ chức đó ! Được tổ chức, tôn giáo đó mến mộ, đưa lên tầng lớp cao vọng nhất,…ta mới đủ khả năng làm tan nát cơ cấu đó…”.
 
Thì ra là vậy!!! Một kẻ tài ba có thể nghiền Phật ra “bụt” ! Một kẻ khác may mắn vất bỏ chiếc mái chèo đò đói khổ, bỏ lại một vợ với 1 con, để xa lìa sụ thiếu hụt của trần thế, nương tựa cơm áo Phật Đà theo chân cố HT. TH…Từ đó… núp bóng chế độ độc tài nhà Ngô, phó mặc sự lâm nguy của PG !/…Kế tiếp là tay sai của giải phóng và chế độ hiện quyền VN ! Họ là ai ? Có nên rọi đèn bin để mọi người nhìn rõ họ hơn không ?
 
Thưa Hòa thượng Y, không cần dùng đèn “pin” để rọi, ai cũng biết với điều nhắn nhủ thứ 3 trên đây, ngài đả “quạt một tràng tiểu liên” vào Hòa thượng NH ở Làng Mai trên đất Pháp, và “quạt một tràng đại liên” vào Hòa thượng TT ở Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt của Việt Nam. Không rõ các vũ khí “tiểu liên và đại liên” này ngài đã nhận viện trợ từ đâu mà đạn ngài bắn ra vô cùng “hiểm” và âm thanh nghe “khủng khiếp” chỉ có thể quen tai với giới người “dạn dày sương gió, trận mạc” chứ không thể quen tai với tăng, ni, huống hồ là Hòa thượng. Nhưng chắc chắn là “đạn ngài bắn ra” không mày may làm động tâm hai thầy NH và TT đâu! Các vị đó không quan tâm tới những gì ngài nói. Nếu có ai “tào lao” đi mách lẽo với hai vị thì hai vị cũng chỉ “thế à !” thôi. 

Rõ ràng điểm thứ 3 là những lời nói chỉ có thể phát ra từ miệng của một người mà tâm đầy sân hân, si mê, vô minh (nói theo dân gian là u mê), ganh ghét, bất chấp sự thật mà muốn sĩ nhục, chà đạp lên nhân phẩm của người khác. Tại sao tâm của một Hòa thượng lại chứa đầy những thứ đó ? Một Hòa thượng mà phạm ngay vào cái giới “nói dối, nói láo, nói sai sư thật” mà một người bình thường trước khi quy y đã phải học! và đặc biệt là nói với một “ác tâm”! 

Qua những lời nói ấy, cbứng tỏ ngài đã không biết đúng chút gì về hành trạng của hai thầy NH và TT trong mấy chục năm qua cho đến nay. Công hạnh của hai thầy NH và TT sáng rỡ giữa thanh thiên bạch nhật mà mọi người Việt Nam ở trong  nước, ngoài nước và rất nhiều nước ngoài trên thế giới biết mà không cần rọi đèn pin gì cả!, chỉ có ngài không biết thôi. Vậy có cái gì che tối tâm ngài khiến cho ngài không thấy đúng sự thật, cho nên nếu cần đèn pin để soi thì chính là soi vào tâm ngài cho bóng tối của vô minh trong tâm ngài mất đi, để ngài mới thấy đúng sư thật !  Khi đó ngài mới “ngộ” ra rằng Công hạnh của ngài đối với dân tộc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, và Phật giáo thế giới so với Công hạnh của hai thầy NH và TT, thì xin lỗi, rõ ràng ngài chưa bằng một phần triệu! Bởi vì sao? Là một nhà sư, lấy việc tu tập để giác ngộ cho mình và cứu độ chúng sinh làm mục tiêu hành động suốt đời, đáng lý ngài phải ở lại trong nước, đồng cam, cộng khổ với Phật tử, với nhân dân, thực hành hạnh của một Bồ tát để xoa dịu những khổ đau của nhân dân và hướng dẫn nhân dân hướng thiện theo Phập pháp trong những biến động vô cùng mãnh liệt của lịch sử đất nước trong mấy chục năm nay, thầy lại chạy ra nước ngoài để được an nhàn! 
 
Trong khi đó, thầy TT đã cùng với Phật tử và nhân dân đồng cam, cộng khổ qua mọi nổi thăng trầm của lịch sử dân tộc từ mấy chục năm nay. Với công hạnh của một vị chân tu và với tâm của một nhà thiền, từ trong vô cùng gian khó của những năm tháng sau tháng 4 năm 1975, phải tự trồng rau, lúa, ngô , khoai,…với các đệ tử để có cái ăn mà tu học, và khi Tu viện Chân Không trên núi Tao Phùng ở Vũng Tàu bị giải tỏa theo quy họạch của nhà nước,thầy đã phải rút về Thường Chiếu, từng bước xây dựng nên một hệ thống Thiền viện từ miền Nam ra tận cuối miền Bắc nước ta, như các Thiền viên Thường Chiếu, Linh Chiếu, Viên Chiếu, Phổ Chiếu, Huệ Chiếu, Tịch Chiếu, Chân Không, Hiện Quang ở Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu; Thiền viện Tuệ Quang tại Thủ Đức Tp Hồ Chí Minh; Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt tại Đà Lật, Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử tại núi Yên Tử, Thiền viện Sùng Phúc ở Hà Nội, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên ở Vĩnh Phúc, Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã tại Thừa Thiên Huế, … ; một số Thiền viện ở Mỹ như Đại Đăng, Bồ Đề, Quang Chiếu, Diệu Nhân, Vô Ưu, Ngọc Chiếu; một số ở Úc như Tiêu Dao, Hiện Quang, Pháp Loa, Tuệ Căn, Giải Thoát, Tuệ Đăng; Thiền trang Chân Nguyên ở Canada, Thiền tự Thường Lạc ở Pháp,…. Thầy đã giảng pháp hàng vạn lần, viết cả trăm sách Phât hoc, khôi phục lại Thiền phái Trúc Lâm của Việt Nam mà vua Trần Nhân Tông là sơ tổ; đào tạo cả ngàn tăng, ni; giúp lập nên cả trăm đạo tràng làm phương tiện tu học Phật pháp cho biết bao Phật tử trong nước và ngoài nước. Hệ thống các Thiền viện ấy, tài liệu sách kinh ấy, các tăng ni ấy, các đạo tràng ấy là tài sản rất quý gía cho sự phát triển lâu dài của Phật giáo Việt Nam và là những đóng góp rất có ý nghĩa cho văn hóa Việt Nam. Công hạnh đó, hỏi thứ có mấy ai đã thành tựu được trong mấy mươi năm cuối thế kỷ 20 cho Phật giáo Việt Nam, cho dân tôc Việt Nam như Hòa thượng TT ? Còn Công hạnh của Hoà thượng Y soi ra sẽ thấy những gì ?
 
Ngoài việc cố ý xúc phạm nhân phẩm thầy TT, việc vu cáo sai sự thật, gây chia rẻ trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam, lời phát biểu của ngài Y còn chứa thêm mấy tội sau đây nữa : thứ nhất là khinh khi nghề chèo đò, cho chèo đò là đói khổ, là hèn hạ ( …may mắn vất bỏ chiếc mái chèo đò đói khổ,…, để xa lìa sự thiếu hụt của trần thế, nương tựa cơm áo Phật Đà..) trong khi chèo đò là một nghề lao động chân chính, giúp ích trực tiếp cho biết bao người qua sông. Chính vì thế mà người đưa đò đã được người đời xem là hình tượng đẹp của nhà giáo giúp học trò qua khỏi bến ngu, và đặc biệt với con nhà Phật, người đưa đò là hình ảnh tuyệt vời của  Bồ tát độ chúng sinh qua khỏi bến mê. Một kẻ phàm phu mà khởi ý niệm khinh khi nghề chèo đò thì đã bị xem là vô giáo dục, còn với ngài Hòa thượng Y thì biết nói sao đây? Thứ hai là “bỏ lại một vợ với 1 con”. Việc thầy TT từ giả nếp sông thế gian với vợ và một con để xuất gia, thì có gì xấu xa, mà cũng không phải là trường hợp đặc biệt riêng của thầy, chính đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã từ biệt vợ và con để đi tìm con đường giác ngộ kia mà! Cái chính ở chỗ là tu như thế nào sau khi xuất gia, tu để thành tựu công đức độ sinh như thày TT đã tu với Phật giáo Việt Nam và đồng bào Việt Nam hay tu theo cách của ngài Hoà thượng Y để cuối cùng nương tựa nước ngoài, vu cáo, bôi nhọ phẩm giá các bậc chân tu, gây hận thù, chia rẻ cộng đồng Phật giáo Việt Nam, dân tộc Việt Nam? Thứ ba là :” theo chân cố HT. TH… núp bóng chế độ độc tài nhà Ngô phó mặc sự lâm nguy của PG! ”. Việc HT. TH  thu nhận thầy TT làm đệ tử tại Trà Ôn, nơi quê hương của thầy là một việc làm công minh chính tực theo đúng theo đúng luật và đúng nghi thức Phật giáo của HT.TH, nghĩa là ngoài sự tự nguyện của thầy, còn có sự đồng thuận của phía song thân và gia đình riêng của thầy, chứ đâu phải thầy TT trốn chạy khỏi gia đình nghèo đói để được ăn cơm chùa! Câu nói hàm hồ cùa ngài Hoà thượng Y ngoài việc sĩ nhục thày TT còn tỏ ra bất kính đối với HT. TH, là chê HT.TH không biết luật thu nhận đệ tử, mà đi nhận ẩu một người trốn cha trốn mẹ, trốn vợ con, để mặc cho họ đói khổ, còn mình thì giả tu để được ăn chực cơm nhà chùa cho sướng thân! Tương tự như vậy, việc ngài nói thầy TT núp bóng chế độ độc tài ngà Ngô, phó mặc sự lâm nguy của PG! là vu cáo vô căn cứ cốt hạ nhục thầy TT mà đồng thời bất kính với HT. TH là buộc tội HT. TH đã không biết giáo hóa đệ tử, đào tạo ra đệ tử hư hỏng, dung dưỡng đệ tử hư hỏng!  Không biết con qủy vô minh nào xui ngài phạm quá nhiều tội như thế!
 
Về phần thầy NH, thầy bị cấm về nước từ năm 1966, thầy phải sống lưu vong tại các nước Tây phương. Nhưng với trình độ uyên thâm về Phật pháp, chữ Hán, chữ Phạn, tiếng Pháp, tiếng Anh,…và tầm văn hóa của một Giáo sư Đại học ở Mỹ và Pháp, thầy đã truyền Phật pháp qua sách, báo, pháp thoại cho cả triêu thanh niên trí thức của các nước phương Tây, và đã xây dựng các trung tâm tu học Làng Mai ở Pháp, các chi nhánh ở Mỹ, Canada mà đệ tử của thầy là hàng trăm, tăng, ni thuộc trên 30 quốc tịch.
 
Chúng ta thử xem các học giả hàng đầu thế giới về Tôn giáo đã đánh giá thầy NH ra sao. Sách Buddhism của Giáo sư Leslie D. Alldritt về Tôn giáo và Triết học của Đại học Northland trong loạt sách Religions of The World, khi viết về Phật giáo Việt Nam ngày nay thì chỉ có một đoạn như sau :

“From Vietnam has come one of the most famous Buddhists of today, TNH.  H. entered a Vietnamese Thien Buddhist temple at the age of seventeen. Through his traditional Buddhist study and subsequent formal education in Vietnam and in the West, he came to see the need for a Buddhist response to the Vietnam War. He founded the “ Order of Interbeing” in 1965. Due to his determination to speak out against both sides of the Vietnam conflict, he has remained an exile from his homeland to this day.

Hanh lives in a monastic community in southwestern France where he writes, teaches, gardens, and works to help refugees around the world (113). Thay (“teacher”), as Hanh is known to his students, was nominated for the Nobel Peace Prize in 1967 by a former recipient of the same prize, Martin Luther King, Jr.

Hanh’s thought, as traced through his many books, speaking engagements, and worshops, has focused on central Buddhist notions such as the nonduality of all aspects of reality, compassion gor all sentient beings, and so forth, but perhaps he is best known for his emphasis on cultivating mindfulness. Ultimately, mindfulness will lead to Awakening, but even long pruor to that momentous event, he believes, all persons can benefit from practicing mindfulness in everyday life. Hanh is an important source of inspiration for today’s engaged Buddhist move ment.” ( Leslie D. Alldritt, Buddhism, Chelsea House, 2005, pp.156-157)

Tôi tạm dịch ra Việt ngữ như sau :

Từ Việt Nam đã đến với thế giới một trong những Phật tử nổi tiếng nhất thời nay, đó là TNH. Ông H đã vào tu học tại một ngôi chùa Phật theo Thiền phái tại Việt Nam vào năm 17 tuổi. Nhờ kinh qua việc học tập Phật giáo truyền thống và giáo dục chính quy tiếp theo tại Việt Nam và tại phương Tây mà ông nhận thấy cần phải có một đáp ứng Phật giáo đối với cuôc chiến tranh Việt Nam. Ông đã thiết lập ra Trường Phái Tiếp Hiện năm 1965. Do lập trường nói thẳng ra là chống cả hai phe của cuộc xung đột Việt Nam nên ông đã bị trục xuất khỏi quê hương từ đó cho đến nay.
 
Ông H sống trong một công đồng tu viện tại miền Tây Nam nước Pháp tại đó ông viết, giảng dạy, làm vườn, và làm việc để giúp đở những người tỵ nạn trên khắp thế giới. Ông H. được học trò của ông biết với cái tên là Thầy ( “ thầy dạy”), đã được ông Martin Luther King,Jr., người đã lãnh giải thưởng  Nobel Hà Bình, đề cử nhận giải thưởng ấy vào năm 1967.
 
Theo như nhiều sách ông đã viết, các bài thuyết giảng ông đã nói, và các hội thảo ông đã tham dự, thì tư tưởng của ông H. đã tập chú vào những khái niệm trung tâm của Phật giáo  như khái niệm không hai của tất cả mọi khía cạnh của thực tại, lòng từ bi đối với tất cả mọi chúng sinh, và vân vân…, nhưng có lẽ ông được người ta biết đến nhiều nhất vì sự nhấn mạnh của ông về việc vun bồi sự tỉnh thức. Cuối cùng, sự tĩnh thức sẽ đưa đến Giác ngộ, nhưng dù còn lâu mới tới biến cố rất quan trọng đó, ông tin rằng, tất cả mọi ngườ có thể hưởng lợi lạc từ việc thực hành sự tĩnh thức trong đời sống hang ngày. Ông H. là một nguồn cảm hứng quan trong cho phong trào Phật giáo nhập thế trong thời đại ngày nay “

Cũng sách này, trong mục viết về.Phật Giáo phương Tây (Western Buddhism), trang 158 có đoạn : 

In the West, as well, the Internet has superseded cassette tapes and pamplets as a conveyor of tge Buddhist message. The rapid expansion of publishe of books on Buddhism has placed books by the Dalai Lama, Sylvia Boorstein, Jack Kornfield, and Thich Nhat Hanh, to name only a very few, on numerous American bookshelves. Although self-identified Buddhists still constitute only a small percentage of the American public, this has all happened remarkably fast when we consider how Buddhism arrived in the West.”
 
Tạm dịch la:” Ơ phương Tây, cũng vậy, Internet đã thay thế băng cassette và những sách mỏng như là một phương tiện chuyển tải thông điệp Phật giáo. Sư phát triển nhanh chóng của các nhà xuất bản sách về Phật giáo đã đưa các sách của đức Đạt Lai Lạt Ma, Sylvia Boorstein, Jack Kornfield, và TNH., chỉ kể tên một số rất ít, trên nhiều kệ sách Mỹ. Mặc dầu những người tự nhận mình là Phật tử vẫn còn chiếm một số tỉ lệ phần trăm nhỏ trong công chúng Mỹ, nhưng tất cả đều xãy ra nhanh chóng một cách đáng lưu ý khi chúng ta xem xét đến vấn đề Phật giáo đã đến phuơng Tây như thế nào “.

Thưa ngài Hòa thựơng Y, những đánh giá trên đây về thầy NH. của chuyên gia hàng đầu thế giới về Tôn giáo và Triết học mà được Giáo sư Danh dự ( Professor Emeritus) Martin E. Marty thuộc Khoa Thần học của Đại học Chicago( University of Chicago) trong lời mở đầu cho loạt sách  Religions of the World, cũng như Giáo sư Tôn giáo học Ann Marie B. Bahr của Đại học bang South Dakota (South Dakota State University) trong lời tựa của sách Buddhism này, xác nhận rằng các tác giả phải hoàn toàn đứng trên lập trường nghiên cứu học thuật, mà viết, không dựa trên tư tưởng , ý đồ riêng của mình, của phe nhóm hay tôn giáo nào để khen , chê, để truyền đạo,v.v…, . Như vậy Giáo sư Leslie D. Alldritt phải dựa trên các sự kiện có thật, nghĩa là phải dựa trên Công hạnh đích thực của thầy NH., và với cái tâm phải công minh, trong sáng, mà viết, chứ không phải khen ẩu hay dèm pha một cách sai sư thật (  như lời phát biểu của ngài!). 

Qua đánh giá này, chúng ta thấy thầy NH đã được thế giới ghi nhận là một trong những vị sư lỗi lạc nhất trong thời đại hiện nay của cả thế giới, tên của thầy là một trong số rất hiếm được nhắc đến bên cạnh tên của đức Đat Lai Lạt Ma, thầy đã có công rất lớn trong hoằng dương Phật pháp  trên thế giới và Việt Nam. Hỏi thử có mấy nhà sư Việt Nam làm được như thầy. Người Việt Nam nào (không cần phải Phật tử) cũng cảm thấy hãnh diện về con người Việt Nam ưu tú này vì thầy đã tôn vinh dân tộc Việt Nam, đạo Phật Việt Nam, Văn hóa truyền thống Việt Nam và đã có công rất lớn trong việc truyền Giáo lý của đức Phật đến thế giới Tây phương. Thế mà ngài Hoà thượng Y lại buộc tội thầy là “nghiền Phật thành “bụt” ” để tiêu diệt Phât Giáo Việt Nam theo lệnh của nhà đương quyền Việt Nam! Quả là ngài đã bị vô minh che mờ tâm trí. Chắc ngài cho rằng vì thầy NH đã trở về Việt Nam hai chuyến vừa qua nên buộc tội thầy làm tay sai cho nhà đương quyền! Ngài đâu có hiểu rằng thầy NH trở về Việt Nam khi thuận duyên là để phục vụ dân tôc Việt Nam và Đạo Pháp theo khả năng và cách riêng của thầy, đó là nghĩa vụ thiêng liêng của bất cứ một người nào mang trong mình dòng máu Việt Nam, chứ chưa nói là hạnh nguyện độ sinh của người Phật tử chân chính, huống là một Hòa thượng. Biết bao nhiêu Phật tử trong nước từ Nam chí Bắc đã hưởng được lợi lạc từ các chuyến trở về của thầy NH, chỉ có ngài ở xa và bị vô minh che mờ tâm trí mới hiểu sai mà buộc tội thầy mà thôi!. Với hạnh nguyện của một của một nhà sư, thầy NH, theo trích đoạn trên đây cho biết, còn làm việc để giúp đở người tỵ nạn khắp nơi trên thế giới. Vậy rất có thể chính ngài Hoà thượng Y, hay thân nhân hay đệ tử của ngài đã từng được chương trình cứu trợ của thầy NH cứu vớt khi các ngài sắp chết đắm trên đại dương trong quá trình vượt biên năm nào!
 
Việc ngài chống Cọng sản một cách điên cuồng là quyền của ngài, tôi không có ý kiến, nhưng thấy ai trở về Việt Nam thăm viếng, giúp đở đồng bào theo khả năng riêng của họ mà ngài buộc tội họ là làm tay sai cho chế độ đương quyền thì quả là ngài đã lầm to. Ngài định cư tại Úc, trở thành công dân nước Úc, ngài có biết rằng Úc là nước đầu tiên trong các nước tư bản lập quan hệ ngoại giao với chế độ đương quyền ở Việt Nam không? Đại sứ Úc tới làm việc tại Hà Nội, thương gia Úc tới làm ăn kinh doanh khắp nơi ở Việt Nam, Đại học Hoàng gia RMIT của Úc là Đại học đầu tiên trên thế giới tới mở chi nhánh tại Saigon Việt Nam từ cả chục năm nay, hàng năm chính phủ Úc cấp hơn 150 học bổng cho sinh viên Việt Nam tới Úc du học, v.v…, vậy ngài cho rằng người Úc (trong đó có ngài) đã làm tay sai cho chế độ đương quyền ở Việt Nam sao? .
 
Cũng như vậy, Hòa thượng TT ở lại trong nước âm thầm làm Phật sự, giúp ích rất nhiều cho Phật tử và thành tựu của thầy có thể tồn tại muôn đời cho Phật giáo Việt Nam, cho văn hóa của dân tôc Viêt Nam thì ngài lại kết tôi là làm tay sai cho chế độ đương quyền để tiêu diệt Phật giáo Việt Nam. Phải chăng chỉ có một thiểu số chạy ra nước ngoài sống nhờ của bố thí của nước ngoài như ngài mới là bảo vệ Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam, còn tuyệt đại đa số của 83 triệu người Việt Nam ở trong nước cần cù lao động chân chính để kiếm sống, góp phần xây dựng lại quê hương sau bao nhiêu đổ nát của chiến tranh, để có được nước Việt Nam như ngày nay (mời ngài về xem chơi!) đều là kẻ phá hoại Phật giáo Việt Nam, dân tộc Việt Nam sao?.
 
Trong câu “nghiền Phật thành “bụt”” ngài Y đã khéo “chơi chữ” vừa buộc tội thầy NH tiêu diệt Phật giáo (nghiền nát Phật thành bụi!) vừa chê thầy NH đổi tên Phật thành Bụt là dốt ! Ngài có biết rằng Bụt là từ tiếng Phạn Buddha (bâc giác ngộ, tưc đức Phật) mà tiền nhân của chúng ta đã dùng để chỉ đức Phật có thể nói từ thời nhà sư Khương Tăng Hội ở nước ta, tức là trước khi Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc để có từ Phật, và trong văn hóa dân gian Việt Nam hiện còn lưu lai biết bao câu chuyện, câu tục ngữ có chứa từ But. Vậy thầy NH có dùng từ Bụt để chỉ đức Phật thì có gì sai đâu? Không những không sai mà còn bao hàm được cái ý nghĩa lịch sử, văn hóa truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam ta, cũng là điều tốt chứ ?. Đã là một Hòa thượng sao ngài lại quá cố chấp như thế! 
 
Như vậy Hòa thượng TT và NH là những nhà sư hiếm có, những vị tôn túc của Phật giáo Việt Nam và thế giới. Còn về phần Hòa thượng Y, ngài đã có những công hạnh gì cho dân tộc Việt Nam, cho Phật giáo Việt Nam, và Phật giáo thế giới? ngài hãy tự lấy đèn pin soi cho rõ để mọi người được thấy biết mà tôn vinh ngài!. Phải chăng công hạnh đó là mạt sát, vu khống các vị chân tu như Hòa thượng TT, NH, tạo mối nghi ngờ, gây chia rẻ cộng đồng Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn mà sự đoàn kết là vô cùng cần thiết. Đó là một cái tội rất lớn.! và như vậy, có thể nói đệ tử Phật Đà mà phá hoại Phật giáo mà đức Phật đã nói với ngài A Nan cách đây hơn 2500 năm thì không phải là những Hòa thượng như TT và NH mà chính là những người như ngài đó!
 
Nhưng cũng cần nói để ngài biết rằng luận điệu, ngôn ngữ xuyên tạc của ngài không dễ gì làm cho người ta tin đâu. Tôi dám chắc với ngài rằng trong những Huynh trưởng Phật tử ngồi nghe ngài phát biểu trong lễ khai mạc trại VẠN HẠNH 1 HẢI NGOẠI thì rất nhiều người bất bình, nhưng họ vẫn nhẫn nhục nghe ngài nói đến hết bài. Thế mà ngài rất chủ quan, vô mình lại nói trong điểm nhắn nhủ thứ 4 là :”….. Tôi chắc anh chị đã tâm giao với những gì tôi gởi đến”. Thưa ngài Hoà thượng Y, chỉ những kẻ vô minh mới tâm giao được với ngài, chứ những Phật tử chân chính, thấm nhuần giáo lý của đức Phật với chánh kiến, chánh tư duy, …, thì không có ai mà tâm giao với ngài đâu!
 
Còn riêng với hai thầy TT và NH, hẵn là các thầy không hề bận tâm gì đến lời vu khống và tội xúc phạm của ngài đối với hai vị ấy. Cho nên dù ngài có bắn ra những viên đạn rất hiểm của các loại vũ khí tàn độc được viện trợ từ các thế lực hắc ám, vô minh thì các vị chân tu ấy vẫn tự tại, không động tâm, không suy siển, và vẫn ung dung thực hiện hạnh Bồ tát đối với dân tộc Việt Nam, Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn lịch sử đầy biến động này của đất nước.
 
Tóm lại, hai vi Hoà thượng X và Y có lộng ngôn không? Một vị Hòa thượng có quyền lộng ngôn không? Cộng đồng Phật giáo Việt Nam nên có thái độ gì ?
 
Riêng hai ngài X và Y, cũng như những ai lộng ngôn theo cách ấy thì hãy nên tự soi lại chính bản thân mình như Tuệ Trung Thương Sĩ đã dạy “ phản quan tự kỷ" để kịp thời điều chỉnh bản thân mình, để được hữu ích cho Đạo pháp và dân tộc. Phật giáo Việt Nam, dân tôc Viêt Nam sẽ luôn luôn mở rộng vòng tay đón đợi các ngài  khi các ngài biết quay lại với Chánh pháp với dân tộc như sách Phật đã dạy “quay đầu lại là thấy bờ” (hồi đầu thị ngạn).

(Ngày 15 tháng 10 năm 2007)
CHÁNH LẬP 
 

(*) BBT rất tiếc phải để ẩn danh tất cả các nhân vật được tác giả đề cập đến.  Mong tác giả bài viết hoan hỷ bỏ qua cho việc làm này của BBT / TVHS. 

10-19-2007 11:23:34

 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap