THẾ NÀO
LÀ KINH ĐIỂN NGUỴ TẠO TRONG PHẬT GIÁO
Thích
Lệ Thọ
Gần
đây chúng tôi ghi nhận một số Học giả và Giảng sư cho
rằng, kinh điển sau thời đức Phật được các vị Thánh
đệ tử chuyển tải ngôn ngữ xa xưa thành ngôn ngữ đương
thời từ những bản kinh “gốc” hoặc phóng tác, trước
tác…là kinh điển ngụy tạo!
Các
học giả Tây phương quan niệm hệ thống giáo lý Phật
giáo từ các bản Pali, Sanskrit là kinh “gốc” và kinh sau
thời đức Phật là kinh phát triển để dễ dàng cho việc
trích dẫn trong công tác so sách, nghiên cứu…đó là công
việc bắt buộc cho những ai khi bước vào con đường học
vấn. Đối với ngôn ngữ của Anh hay Mỹ thì thường dùng
từ “Apocrypha” để chỉ cho các văn bản không phải là
bản gốc, nên chung ta phải hiểu là: “kinh sau thời đức
Phật”, “kinh phát triển” “Tân kinh”…chứ không hề
áp đặt nghĩa xấu khi được chuyển tải qua tiếng Việt
thành từ ngụy tạo! Mang nghĩa: “ kinh xảo trá” “kinh lường
gạt” “kinh sai sự thật” “kinh ngụy biện”…Tiếng
việt chúng ta được kết hợp với tiếng Trung Quốc, nên
đời sống thường nhật chúng ta đã dùng khoảng 30% là âm
Hán-Việt. Vì thế từ ngữ hết sức là đa dạng, nên khi
diễn dịch phải thận trọng, để tránh nhằm lẫn giữa nghĩa
“đen” và nghĩa “bóng”. Mọi lĩnh vực đều có “tự
điển” riêng để diễn đạt đúng nghĩa theo lĩnh vực của
mình, nhưng Phật giáo Việt Nam lại chưa có một quyển “Đạo
Phật Tự Điển Anh-Việt” nên phải vai mượn từ những
quyển tự điển thông dụng, cho nên khi tra từ “Apocrypha”
vào hầu hết các quyển Anh-Việt tự điển thông dụng thì
chỉ có nghĩa “kinh ngụy tác”. Dựa trên nghĩa này,
một ít Học giả, Giảng sư mạnh dạn phán một câu “xanh
rờn” kinh điển ngụy tạo! Nói như thế, có nghĩa là chúng
ta đã đánh đổ toàn bộ hệ thống giáo lý Đại Thừa, vì
được kiết tập sau khi đức Phật nhập Vô-dư-y Niết Bàn
khoảng 200 năm, thậm chí như quyển kinh Vu Lan Báo Hiếu, mới
ra đời khoảng 150 năm trở lại đây. Nhưng đâu có một ai
dám cho bản kinh đó là không có giá trị! Hệ thống giáo
lý Phật giáo thuở ban đầu giống như một cội cây chưa
phát triển nhiều cành và lá, vì vào thời điểm của đức
Phật, Ngài tập trung nhiều cho Tăng đoàn. Nhưng mãi về sau,
hoàn cảnh xã hội phát triển, nhận thức về nội tâm cũng
khác nên môi trường “Bình bát cơm nghìn nhà, thân chơi muôn
dặm xa” là không thể thích nghi. Đồng thời, phật tử cũng
không còn thời gian nhiều để gần gũi Tăng Ni học đạo,
nên nhu cầu thay đổi ngôn ngữ vào thời của đức Phật
cho phù hợp với nhận thức mới, là việc làm ắt có và
đủ! Chứ không thể để giáo lý “sinh động” thực tiển
giúp cho cuộc sống hết khổ đau và đạt được hạnh phúc,
phải nằm bất động như những tài sản quí báu trong các
viện bảo tàng! Giáo lý giải thoát của đức Phật còn được
xem như là một thang thuốc có tám muôn bốn ngàn vị, để
đối trị lại tám muôn bốn ngàn bệnh: “mừng, giận, thương,
sợ, yêu, ghét và muốn….” của chúng sinh, nên toàn bộ
kinh điển là không có một chữ một câu nào dư thừa, chứ
đừng nói là có một quyển kinh “ngụy tạo” trong giáo
lý Phật giáo!
Giả
sử, các học giả Tây phương có dụng ý đi chăng nữa, thì
các Học giả Phật giáo và các Giảng sư cũng phải lưu tâm
sửa chữa lại nhưng khiếm khuyết của các học giả Tây
phương chứ không nên vị nể họ có nhiều văn bằng và tầm
ảnh hưởng của họ quá “nặng ký” trong lĩnh vực nghiên
cứu, mà phải nói theo họ. Trong khi các Học giả phật giáo,
các giảng sư cũng là người nghiên cứu lĩnh vực hệ thống
giáo lý của chính mình, như thế chúng ta mới là người có
đủ thẩm quyền hơn các học giả Tây phương chứ, vì chúng
ta không những là nhà nghiên cứu mà còn là các Hành giả
đang tu tập từ 10, 20 năm trở lên thì lẽ nào chúng ta lại
không tường tận hơn các học giả Tây phương!
Chúng
ta thử đặt lại vấn đề, hiện nay các học giả Tây phương
và trong giới Phật giáo đều căn cứ theo theo hai ngôn ngữ
cổ của Ấn Độ Pali và Sanskrit làm “gốc” để có cơ
sở nghiên cứu và giảng dạy cho Phật tử. Nhưng trong tương
lai biết đâu các nhà khảo cổ lại phát hiện ra một văn
bản Magadha cổ hơn thì lúc đó chúng ta lại “phán” những
bản kinh được viết bằng Pali và Sanskrit là kinh điển “trước
tác” hoặc “kinh điển ngụy tạo” hay sao? Cách nay 100 năm,
học thuyết tiến hóa của Darwin được thế giới xem như
là kinh điển, cả thế giới đều đưa vào bộ phận giáo
dục, nhưng ngày nay ngành khoa học lại đi xa hơn nên học
thuyết đó không còn được xem là chân lý nữa!
Cho
nên, đây chỉ là sự ngộ nhận và hạn chế giữa ngôn ngữ
với ngôn ngữ mà thôi, chứ không thể phủ nhận hệ thống
kinh điển Đại Thừa là ngụy tạo. Trong khi, các học giả
các vị Thánh Tăng điều thừa nhận Ngài Long Thọ là Phật
Thích Ca thứ hai nhưng không có 32 tương tốt! Hơn nữa, đức
Phật cũng từng xác nhận: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh
là Phật sẽ thành” thế thì kinh điển sau thời đức Phật
cũng đâu có gì trở ngại cho việc tu học của gới tu sĩ.
Vả lại, những gì được “kiết tập” và phát triển
giáo lý cho phù hợp với ngôn ngữ của xã hội đương thời
là do các vị Thánh đệ tử bậc A-la-hán làm nên. Chắc chắn
Trí tuệ của các Ngài hơn hẳn chúng ta đến hàng ngàn tỷ
lần, nên chúng ta không thể đem “trí tuệ” của chúng ta
đánh đồng với các Ngài và chạy theo các học giả Tây phương
mà cho các bản kinh Đại Thừa là “kinh ngụy tạo”! Kinh
điển thuộc về lý tưởng, tùy bệnh mà cho thuốc thì làm
sao chúng ta có thể đo lường bằng khảo cổ, lịch sử, ngôn
ngữ học…
Kinh
điển “ngụy tạo” là đồng nghĩa với ngôn ngữ hiện
đại là văn hoá “độc hại” cần phải loại trừ ra khỏi
ngành văn chương để nó không làm “oen ố” đỉnh cao trí
tuệ; cần phải loại trừ những gì không do Phật nói, để
không làm ảnh hưởng đến sự thanh tịnh, giải thoát và
an lạc hạnh phúc trong hệ thống giáo lý đạo Phật! Bản
kinh nào trong hệ thống của Đại Thừa đã sai trật
làm mất đi giá trị căn bản đạo đức và lộ trình
hướng đến gải thoát? Đạo lý của đức Phật giống như
trận mưa to xối xuống để đáp ứng cho tất cả cỏ cây,
chứ không riêng biệt cho một số cây to nào mà thôi! Nó có
khác chăng là hình thức và phương tiện đưa đến mục đích
mà thôi, không thể lúc nào cũng phải ngồi thiền mới thành
Phật, còn lặt rau, bửa củi, gánh nước, tụng kinh là thành
tà ma ngoại đạo! Phải chăng, các vị Thánh Tăng đã khéo
léo lấy nhiều hình thức: 5+5, 7+3, 4+6… để trở thành con
số 10, nhằm hướng dẫn cho những người Thượng căn, Trung
căn và Hạ căn. Nên đức Phật khẳng định rằng: “Đại
dương chỉ thuần một vị mặn, cũng vậy đạo lý giải thoát
của ta cũng chỉ thuần một vị là giải thoát!”
Vì
vậy, khi chuyển ngữ, hoặc giảng dạy phải cần lưu ý đến
ngôn ngữ vốn phong phú và đa dạng của tiếng Việt để
tránh đi sự ngộ nhận giáo lý chính thống và giáo lý không
chính thống trong Phật giáo! Đồng thời, giúp cho Phật tử
không bị chao đảo trước những học vị “nặng ký” phát
biểu, hoặc nghĩa lý từ những quyển tự điển thông dụng!
Delhi,
08/07/2002
Lệ
Thọ
KINH
LĂNG NGHIÊM LÀ KINH NGUỴ TẠO CHĂNG
HT.
Tuyên Hoá
"Ðại
sư Hám Sơn từng nói hai câu như sau: "Chẳng đọc Pháp Hoa
thì chẳng hiểu khổ tâm cứu đời của Như Lai; chẳng đọc
Lăng Nghiêm thì không nắm được then chốt về mê hay ngộ
của tu tâm". Ðích xác là như vậy, bởi Kinh Lăng Nghiêm bao
gồm hết thảy các pháp, nhiếp thọ hết mọi căn cơ, là
pháp môn tinh tủy của các đời, là ấn chứng chính đề
thành Phật và làm Tổ. Vì lẽ đó, người tu thiền bắt buộc
phải nghiên cứu kỹ lưỡng bộ Kinh này, và hiểu thấu cảnh
giới "năm mươi loại ấm ma" đặng tránh khỏi sa vào vòng
của Ma vương. Nếu không vậy, không có sự nhận thức cho
rõ ràng, thì bạ cảnh giới nào gặp phải cũng sanh tâm chấp
trước, hành giả sẽ dễ nhập vào ma cảnh, thành kẻ quyến
thuộc của ma vương. Ðó là một điều cực kỳ nguy hiểm!
Chẳng
riêng Chú Lăng Nghiêm phải thuộc lòng, mà Kinh Lăng Nghiêm
thiền giả cũng phải thuộc nữa. Người ta nói "thuộc sẽ
nẩy cái hay", thời cơ tới sẽ có nhiều lợi ích, sẽ có
sự cảm ứng chẳng thể nghĩ bàn. Hễ người nào nghiên cứu
văn học Trung quốc, tất phải đọc Kinh Lăng Nghiêm, văn từ
thì ưu mỹ, nghĩa lý phong phú, tóm lại là một bộ Kinh lý
tưởng.
Có
một số tự cho mình là học giả có hạng, chưa hề nghiên
cứu sâu rộng về Ðạo Phật, đã tự nhận mình là chuyên
gia Phật học, tự nhận mình có đủ uy tín mà sự thực không
hiểu Phật giáo cho đến ngành ngọn, khinh xuất cho rằng Kinh
Lăng Nghiêm là một kinh ngụy tạo. Từ đó lại có một số,
có dụng ý khác, ùa theo phụ họa. Ðúng là kẻ mù dắt kẻ
mù, thật đáng thương xót!
Tại
sao người ta bảo Kinh Lăng Nghiêm chẳng phải do đức Phật
Thích Ca thuyết giảng? Chẳng qua vì nghĩa lý trong bộ Kinh
rất ư chân thật. Kinh đã nêu ra cho kỳ hết các căn bệnh
của thế gian, bởi đó mà các loài yêu ma quỷ quái, các loài
quỷ trâu, quỷ rắn, không còn cách nào hoành hành, phải hiện
rõ nguyên hình của chúng. Từ đó chúng tìm mọi cách để
phá, chúng phải tuyên truyền Kinh Lăng Nghiêm là kinh ngụy,
thì chúng mới có cơ để sinh tồn. Nếu như thừa nhận đây
là lời Phật thuyết pháp thì đối với chúng là không xong.
Trước hết chúng không giữ được "Lời dạy về bốn loại
thanh tịnh", thứ hai chúng không tu tập được các "Pháp viên
thông của hai mươi lăm bậc thánh", thứ ba chúng không dám
đối diện với các cảnh giới của "Năm chục loại ấm ma".
Nếu
như ai ai cũng đọc Kinh Lăng Nghiêm, cũng hiểu rõ Kinh Lăng
Nghiêm, thần thông của hàng ngoại đạo sẽ hết linh ứng,
thành ra vô dụng khiến cho không ai còn tin vào thần thông
của họ nữa. Ðó là lý do bọn thiên ma ngoại đạo chỉ
còn tìm cách dèm pha, tuyên truyền, bảo Kinh Lăng Nghiêm là
kinh ngụy.
Chẳng
cứ chỉ những người tại gia phỉ báng Lăng Nghiêm là Kinh
giả, ngay cả những kẻ xuất gia cũng bắt chước nói theo.
Tại sao vậy? Bởi vì có một số xuất gia ít học, có khi
không thông chữ nghĩa, không xem được Kinh điển, trong khi
đó văn Kinh Lăng Nghiêm lại thâm thúy, ý nghĩa huyền diệu,
khiến họ không hiểu được nên không làm sao phân biệt được
chân giả. Ðến khi nghe người ta bảo Kinh này là giả, Kinh
kia là ngụy, thì họ đâu có suy xét gì, người ta nói sao
thì nhắc lại y hệt. Tự nhiên Kinh Lăng Nghiêm bị lãnh tiếng
oan là vì lẽ đó.
Lúc
xưa tại Ấn Ðộ, Kinh Lăng Nghiêm được liệt vào hàng quốc
bảo và có lệnh cấm không cho mang những thứ quý ra ngoại
quốc. Những ai xuất cảnh đều bị khám xét gắt gao và,
để phòng Kinh lọt ra ngoài, các nhân viên hải quan thường
đặc biệt chú ý đối với các Tăng xuất cảnh.
Hồi
đó tại Ấn độ - bên Trung quốc lúc đó là đời Ðường
- một vị cao tăng pháp danh là Ban Thích Mật Ðế (Paramiti)
đã khổ công tìm mọi cách để mang Kinh Lăng Nghiêm qua Trung
quốc. Sợ bị phát hiện tại trạm kiểm soát, ông phải nghĩ
ra cách giấu giếm, nhét Kinh vào sâu trong cánh tay và sau cùng
ông đã đổ lên bộ tại địa phận Quảng Châu. Lúc đó
là thời gian Tể tướng Phòng Dung bị Võ Tắc Thiên giáng
chức xuống làm Thái Thú Quảng Châu. Ban Thích Mật Ðế được
Phòng Dung mời tới để phiên dịch bộ Kinh này và chính Phòng
Dung là người nhuận sắc cho bản dịch. Bởi vậy Kinh Lăng
Nghiêm biến thành một tác phẩm văn học có giá trị, rồi
sau đó trình lên cho Võ Tắc Thiên. Thời bấy giờ đương
có tin đồn Kinh Ðại Vân là kinh ngụy tạo nên Hoàng Ðế
Võ Tắc Thiên không cho Kinh này được lưu hành.
Ðến
khi Thiền sư Thần Tú được phong làm Quốc sư rồi được
cúng dường ở trong hoàng cung, một hôm Thiền sư thấy được
bộ Kinh này, thấy Kinh rất có lợi cho những hành giả tu
thiền, mới cho Kinh này được phổ biến. Từ đó Kinh Lăng
Nghiêm mới được lưu hành ở Trung quốc. Căn cứ theo truyền
thuyết, Kinh Lăng Nghiêm là Kinh tối hậu truyền đến Trung
quốc, nhưng cũng là Kinh bị hủy diệt đầu tiên vào thời
Mạt Pháp, sau mới đến các Kinh khác, sau rốt còn lại một
Kinh A-Di Ðà.
Ghi
chú: Thượng nhân Tuyên công chủ trương dứt khoát rằng Kinh
Lăng Nghiệm chính là tâm ấn của chư Phật, điều này ngàn
vạn lần đích xác. Bởi vậy ngay sau khi đặt chân tới Mỹ,
Tuyên công liền giảng Kinh Lăng Nghiêm. Tại sao vậy? Phật
Pháp truyền bá tới đất Mỹ, thì Mạt Pháp sẽ biến thành
Chánh Pháp, và đó là tâm cơ của Thượng nhân trong sứ mạng
nối tiếp huệ mạng Phật. Bài "Lăng Nghiêm Kinh Thiển Giảng"
sẽ được đưa đăng từng kỳ trong tạp chí Vạn Phật Thành
Kim Cương Bồ Ðề Hải, bằng tiếng Hoa và tiếng Anh. Nay xin
thông báo cùng quý bạn độc giả. (http://www.dharmasite.net/vekinhvachuTLN.htm#5)
http://www.thuvienhoasen.org/vekinhvachuTLN.htm
KINH
ĐẠI THỪA CÓ PHẢI KINH TÂN TẠO NGỤY TẠO ?
Cư
Sĩ Huệ Chiếu
Trong
thời gian gần đây, trên thư viện Hoa sen, có một số người
cho rằng các kinh Đại thừa, như: Lăng nghiêm, Pháp Hoa, Hoa
Nghiêm, Kim Cang, Bát Nhã, Phạm Võng, Địa Tạng, Lăng
Gìa, Duy Ma Cật vv…không phải là kinh gốc, do không tìm thấy
kinh bằng chữ Pali hay Sanskrit. Nhóm người nầy hoặc là học
giả; hoặc tu theo các pháp môn không phải Đại thừa; hoặc
những vị có niềm tin hay có cảm tình với Phật giáo nhưng
chỉ tin qua các chứng tích kinh luận còn lưu truyền hay chỉ
dựa vào chứng tích khảo cổ. Một số học giả Tây
phương thì có quan niệm hệ thống giáo lý Phật giáo từ
văn tự Pali, Sanskrit là kinh “gốc”, và cho rằng hệ kinh
Bắc truyền “là kinh sau thời Đức Phật, là kinh Phát triển,
hay Tân kinh” họ cho rằng kinh nầy là “các ngụy kinh
được dùng trong Thiền tông thời kỳ đầu”, là kinh do người
Trung Hoa “ngụy tạo”, tức tự dựng ra sau khi Phật
giáo truyền sang; hoặc cho rằng kinh nầy mang màu sắc chính
trị do người Trung Hoa có tư tưỏng bá quyền tự tạo.
Nhìn
chung, nhóm người cho rằng kinh điển hệ Bắc truyền là Tân
kinh hay Ngụy kinh chỉ dựa vào khảo cổ, suy luận, phân biệt
qua mắt thấy tai nghe của con người, mà không phải là hành
giả, chưa thực chứng giáo nghĩa Đại thừa. Từ đó đã
làm nhiều người sơ cơ học Phật hoài nghi.
Để
làm sáng tỏ các thắc mắc trên, mặc dù chỗ hiểu biết
về Phật pháp của tôi còn rất nông cạn, văn tự chữ nghĩa
yếu kém; nhưng vì lẽ thật, nên không ngại chỗ vụng về,
xin được đề nghị chúng ta cùng nghiên cứu, tìm hiểu cho
thấu đáo, để xem kinh hệ Bắc truyền, kinh Đại thừa, mà
trước hết là kinh Thủ Lăng Nghiêm có phải do đức Phật
Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết, hay do người sau tự bịa đặt
như quan niệm của một số người; trước hết ta xem:
Về
hình thức:
1.Khi
đức Phật sắp Niết Bàn, ngài Anan, một vị đệ tử đa
văn bậc nhất, bạch Phật: Khi kết tập những lời đức
Phật thành kinh điển thì phải ghi như thế nào để người
sau biết chắc thật đó là lời chính từ kim khẩu đức Thế
Tôn. Đức Phật dạy khi kết tập kinh điển, mỗi kinh phải
có đủ sáu cái hiện chứng (Chứng tín tựu), gồm:1) Tín,
2) Nghe, 3) Thời, 4) Phật, 5) Xứ, 6) Chứng. Đây là sáu cái
bằng chứng cho người sau biết chính là kinh Phật, chẳng
phải dối, mà vững lòng tin. Tức vào đầu mỗi quyển kinh
phải ghi: 1. Như vậy (Như thị), làm Tín thành tựu, tín đây
là tín của ngài A nan 2. Tôi nghe (Ngã Văn), làm Văn thành
tựu, có nghĩa là A nan tự mình được nghe 3. Một thời (Nhất
thời), làm Thời thành tựu để chỉ thời gian Đức Thế
Tôn thuyết bộ kinh nầy 4. Phật, làm Chủ thành tựu, chỉ
rõ Phật là chủ thuyết pháp 5. Tại… Tinh xá Kỳ Hoàn, trong
thành Thất La Phiệt, làm Xứ thành tựu, chỉ rõ chốn đạo
tràng thuyết pháp 6. Lấy các chữ “Cùng Đại Tỳ kheo chúng”,
và cuối bộ kinh có ghi “Sau khi Phật thuyết kinh nầy rồi..
tất cả đại chúng đều hoan hỷ thọ trì lời Phật dạy,
ân cần đảnh lễ lui ra”, làm Chúng thành tựu.
Như
vậy, nếu xét về mặt nầy, thì kinh Lăng Nghiêm và các kinh
Đại thừa hay kinh Nguyên thủy của hệ Bắc truyền, và kinh
Nguyên thuỷ của hệ Nam truyền đều đúng với sáu cái hiện
chứng nầy; tức có người nghe thuyết, có Đức Phật thuyết,
có nơi chỗ thuyết, thuyết vào lúc nào, tên kinh là gì, đại
chúng nghe thuyết gồm có những ai, nghe rồi hoan hỷ tín thọ
phụng hành. Đây là bằng chứng chắc chắn rằng kinh nầy
phải do chính đức Phật tuyên nói.
2.
Phật giáo truyền sang các nước phía nam và đông bắc Á châu
rất sớm, qua hai con đường: Nam truyền và Bắc truyền. Nam
truyền gồm các nước phía nam châu Á như: Miến Điện, Thái
Lan, Lào, Campuchia..; Bắc truyền gồm các nước như: Tây Tạng,
Mông Cổ, Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…. Kinh
điển hệ Nam truyền thường dùng bằng chữ Pali; Còn hệ
Bắc truyền thường dùng chữ Sankrit dịch chữ Hán, rồi dịch
sang tiếng các quốc gia lân cận. Từng quyển kinh đều có
ghi rất rõ: dịch từ chữ gì ra chữ gì, ai là người dịch,
dịch vào lúc nào, ở đâu. Người xưa rất chặt chẽ, khoa
học, nên đã ghi rất rõ rằng kinh Lăng Nghiêm là bổn kinh
văn có nguyên gốc từ Ấn Độ, chữ Phạn, do ngài Sa môn
người Ấn là Bát Thích Mật Đế, dịch ra chữ Hán, vào đời
nhà Đường, Sa môn Di Dà Thích Ca, người nước Ô Trành dịch
ngữ; Pháp sư Hoài Địch chứng nghĩa; Tướng Quốc Phòng Dung
nhuận bút.
Kinh
Trường A Hàm, cũng ghi rõ như sau: Kinh Trường A-hàm (tiếng
Phạn là Dìghàgama, tiếng Pàli là Digha-nikàya) gồm 22 quyển,
do ngài Phật-Đà Da-Xá (Buddhayaśsa) tuyên đọc thuộc lòng
(ám độc) bản Phạn, và ngài Trúc Phật Niệm truyền dịch
từ Phạn văn ra Hán văn, vào năm Hoằng Thỉ thứ 15 đời
Dao Tần.
Nếu
xem các chứng tích nầy thì kinh Thủ Lăng Nghiêm cùng các kinh
Đại thừa khác, và các kinh nguyên thuỷ Bắc truyền có lý
lịch, nguồn gốc rõ ràng từ Ấn Độ, vậy các kinh nầy
ngụy tạo chỗ nào? Có người nói “nghe quý Hòa Thượng
Thích Thanh Từ và Thích Nhất Hạnh nói Kinh nầy xuất hiện
vào thế kỷ thứ sáu”, rồi tự nghĩ rằng quý Thầy nói
kinh nầy được tạo sau nầy. Qúy Hòa Thượng không bao giờ
có ý dám phỉ báng kinh điển như vậy, mà ý nói là kinh nầy
mới bắt đầu lưu thông ở Trung Hoa thế kỷ thứ sáu, từ
khi được dịch chữ Phạn sang chữ Hán. Chớ nên dùng sai
ý mà gán ép cho quý Hòa Thượng. Một số học giả Tây phương
nói là Tân kinh cũng rất lầm lẫn, vì họ không rõ biết
gốc tích kinh nầy dịch từ Phạn văn ra Hán văn như đã nêu
trên.
Sử
ghi lại rất rõ về bộ kinh Lăng Nghiêm, cụ thể như sau:
Tổ Thiên Thai, tức ngài Trí Giả Đại Sư nghe danh tên Kinh
Thủ Lăng Nghiêm đã lâu lòng rất hâm mộ, ngài luôn hướng
về Tây Thiên Trúc lễ bái suốt 18 năm, cầu Phật gia hộ
cho kinh nầy truyền sang Trung Hoa mà mãi chưa được gặp. Cho
đến đời Đường, vua Trung Tôn năm thứ nhất, bên Ấn Độ
có Sa môn Bát Thích Mật Đế, dùng loại mực khó phai, viết
kinh Thủ Lăng Nghiêm trên lụa thật mỏng, rạch vế đùi nhét
vào rồi khâu lại, giả làm vết thương để qua mắt quan
lính hải quan ở xứ Ấn Độ. Vì vua Ấn rất quý kinh nầy,
coi là báu vật của quốc gia nên cấm không ai được đem
ra khỏi nước. Ngài theo các lái buôn đi đường biển tới
Trung Hoa, đến tỉnh Quảng Châu, may gặp quan tướng quốc
Phòng Dung có người vợ biết cách dùng chất tẩy vết máu
giữ cho nét chữ trên lụa vẫn nguyên vẹn không bị phai nhòa.
Sa môn Bát Thích Mật Đế được mời về chùa Chế Chỉ
dịch kinh từ chữ Phạn ra chữ Hán; cùng với Sa môn Di Dà
Thích Ca, người nước Ô Trành dịch ngữ; Pháp sư Hoài Địch,
trụ trì chùa Nam Lâu, núi La Phù chứng nghĩa bản dịch; Tướng
Quốc Phòng Dung nhuận bút. Sau khi dịch xong kinh Lăng Nghiêm,
ngài Bát Thích Mật Đế trở về Ấn Độ trình lại với
nhà vua và xin chịu phép nước.
Chứng
lý còn ghi lại rành rành như trên, không thể nào chối cải,
không có lý do gì nói là tân kinh do người Trung Quốc tự
tạo. Chứng tỏ kinh Lăng Nghiêm có xuất xứ tại Ấn
Độ.
Về
nội dung:
Phật
dạy người tu đời sau phải dùng các pháp ấn để biết
đâu là kinh chính do lời Phật nói, mà không lầm lẫn với
dị kiến, tà thuyết, đó là:
-
Tam pháp ấn, gồm: 1. Các hành đều vô thường 2. Các pháp
đều vô ngã 3. Niết Bàn là tịch tĩnh, vô vi, diệt mọi khổ
đau về luân hồi, sanh tử.
- Thức
tướng ấn: Ấn chứng rằng kinh đó là Liễu nghĩa giáo Đại
thừa. Trong kinh Đại Bát Niết Bàn, Phật dạy phải dựa vào
tứ y, gồm có: y theo pháp không y theo người, y theo nghĩa không
y theo lời, y theo trí không y theo thức, y theo kinh liễu nghĩa
không y theo kinh chẳng liễu nghĩa.
Ta
tìm hiểu nội dung kinh Lăng Nghiêm có nói đúng như các pháp
ấn nầy không?
Trong
kinh, đức Phật dạy: Chúng sanh cho rằng thân tứ đại nầy
là thân ta, cho cảnh nầy là trường cửu thật có, tâm suy
nghĩ là tâm mình, rồi từ đó mê chấp theo cảnh, buồn vui
giận ghét…, gây nhân tạo quả kết thành nghiệp, luân hồi
trong sáu nẻo. Phật lại dạy, bất cứ cái gì có hình tướng
đều vô thường giả tạm hư vọng; những cái giả tạm,
luôn sanh diệt đó không có gì là ta, là ngã; Chỉ vì chúng
sanh không giác biết, bỏ quên bản tâm nên gọi là vô minh.
Do vô minh nên bất giác vọng khởi tình thức, vọng sanh có
hư không , thế giới, chúng sanh sáu cõi. Nếu biết nó là
vô thường sanh diệt hư vọng; liền buông bỏ, không chấp
thủ, ngay khi đó tâm hằng thanh tịnh, tịch tĩnh, vô vi, sáng
suốt tự hiển bày. Bản tâm của chúng sanh và Phật vốn
đồng, không ta người; vừa móng ý phân biệt đã rơi vào
tình thức. Cho nên Phật dạy chúng sanh muốn hết mê thì phải
luôn sống tùy thuận với bản tâm mình, sáu căn đối sáu
trần cảnh mà không sanh sáu thức: “Bất tùy phân biệt”.
Trong các kinh Đại thừa, Phật dạy rành rõ tiểu thừa đại
thừa cũng chỉ vì muốn sách tấn chúng sanh, vì trong tâm mỗi
chúng ta do mê nên đủ cả chủng tử tiểu lẫn đại, thiện
ác, mê sâu mê cạn rất sai biệt… Người đời chẳng biết
ý Phật, bèn cho là có thật tiểu đại, lầm chạy theo tướng
sai khác rồi phân chia bỉ thử …thật lầm to!
Qua
nội dung nầy, kinh đã nêu rõ “Nghĩa Chân thật”, mà chỉ
có bậc chánh giác mới nói ra được lời này, rất chân xác
với các pháp ấn Phật dạy, khẳng định là chính đức Thế
Tôn thuyết.
Tóm
lại, qua nghiên cứu về hình thức và nội dung như trên thì
rõ ràng kinh Lăng Nghiêm chính do đức Phật tuyên nói. Ai nói
kinh nầy không phải đức Phật nói thì người đó nói hoàn
toàn sai. Chúng ta là Phật tử, phải bảo vệ chánh pháp, phải
khẳng định như vậy, và công bố cho mọi Phật tử biết
rõ việc nầy.
Khi
xưa đức Phật đã biết trước thời mạt pháp sẽ có nhóm
người tà kiến phá hoại Phật pháp, nên đã huyền ký trong
nhiều bộ kinh, ta hãy nghe ở vài bộ kinh:
- Trong
kinh Pháp Diệt Tận, có nói: “Vào thời mạt pháp kinh
Thủ Lăng Nghiêm bị hoại diệt trước hết, sau đó, các kinh
khác dần dần biến mất”.
-
Trong kinh Niệm Phật Ba-la-mật, Đức Phật dạy: “Nầy Vi
Đề Hy! Trong pháp hội Thủ Lăng Nghiêm ta đã trình bày nhân
địa tu hành Nhĩ căn viên thông cho đại chúng. Nhưng thời
mạt pháp kinh điển dần dần ẩn mất, mà nên biết kinh Thủ
Lăng Nghiêm sẽ bị diệt trước nhất, tiếp sau là kinh Lăng
Già, kinh Kim Cang, kinh Ma Ha Bát Nhã, kinh Diệu Pháp Liên Hoa
vv.. sau cùng là kinh A Di Đà”.
Nghe
lời huyền ký nầy thì chúng ta tự biết nhóm người cho rằng
kinh Lăng Nghiêm cũng như các kinh Đại thừa khác và các kinh
Nguyên thuỷ hệ Bắc truyền là Tân tạo, ngụy tạo, là nhóm
gì rồi! Nếu không phải là nhóm tà kiến phá pháp, thì cũng
là nhóm nhất xiển đề, mà đức Phật đã huyền ký trong
kinh Đại Bát Niết Bàn.
Về
Kinh điển, Phật dạy rất nhiều và rất quý. Nhưng riêng
với kinh Thủ Lăng Nghiêm cần nghiên cứu thật kỷ, đây là
bộ kinh then chốt của giáo pháp Phật, vì trong kinh nầy Phật
dạy những việc vô cùng quan trọng đối với chúng sanh có
duyên lành với Phật pháp. Đức Phật đã chỉ rõ chỗ mê
lầm của chúng ta, dạy rõ nguyên nhân sanh ra các hiểu biết
sai lầm như: chấp thường, chấp đoạn diệt, chấp minh sơ
thần ngã (tạo hóa), chấp hư không vô biên, hữu biên vv…;
biện biệt vọng tâm, chỉ thẳng bản tâm; giúp ta có chánh
kiến, có trí vô sư; giải tỏa được những mối nghi lớn.
Chỉ dẫn cách chọn căn viên thông tu hành để chứng Như
Lai Tạng tánh; dạy hết sức chi tiết về nội ma ngoại ma
cần phải biết rõ để tiến thẳng đến Đạo Bồ Đề.
Ngoài hiển pháp, đức Phật còn dạy Mật chú Lăng Nghiêm
rất cần cho việc tiến tu. Từ xưa đến nay có vô số người
nhờ đọc kinh Lăng Nghiêm mà ngộ đạo. Đây là bộ kinh mà
tà ma và bọn ác kiến rất kinh sợ, nên muốn hủy diệt.
Dù nay vào đời mạt pháp nhưng ai có phước duyên đọc, hiểu
và thực hành theo kinh nầy thì sẽ thấy rõ bản tâm mình,
sẽ thấy mình hết sức diễm phúc như sanh trong thời kỳ
chánh pháp khi Phật còn tại thế. Vô cùng nuối tiếc vì bộ
kinh nầy sẽ bị diệt trước nhất trong đời mạt pháp mà
Phật đã huyền ký. Vì vậy, người học Phật cần tập trung
nghiên cứu, cầu học để biết rõ nội dung của kinh, đừng
bỏ lỡ cơ hội a tăng kỳ kiếp có một không hai nầy.
Riêng,
với những ai vì lý do nào đó mà có ý nghĩ rằng kinh Đại
thừa nói riêng kinh Phật nói chung, là ngụy tạo, tân tạo,
thì hãy nghiên cứu cho thật kỷ, hãy cẩn trọng từng ý nghĩ,
lời nói, chớ tự gây nhân xấu cho chính mình. Phật dạy
các pháp do tâm tạo, nhân nào thì quả sẽ thế ấy. Sáu cõi
cũng chỉ do tâm nầy, tâm tạo thiên đường tâm cũng tạo
địa ngục. Tạo ác thì đời vị lai mình sẽ tự thấy cảnh
giới ác hiện, không thể tránh khỏi vậy./.
Kính
gửi Thư Viện Hoa Sen.
Bến
Tre, ngày 19 tháng 02 năm 2008,
Cư
sĩ Huệ Chiếu, kính ghi
02-23-2008
11:34:12