MỪNG
NGÀY PHẬT ĐẢN
BƯỚC
VÀO CỬA ĐẠO
Thích
Chân Tuệ (Cơ sở Phật Học Tịnh Quang Canada)
Sau
đây là các câu hỏi liên quan đến Lễ Phật Đản:
1)
Kính nhờ Tuần báo Viễn Đông giải đáp thắc mắc sau đây
của một số Phật Tử thường đi chùa lễ Phật tụng kinh:
Hằng năm vào dịp rằm tháng tư âm lịch, khắp nơi tổ chức
Lễ Phật Đản một cách long trọng, thành kính và trang nghiêm.
Nhưng có nhiều người theo đạo Phật vẫn cảm thấy chán
đời vì cuộc đời đầy đau khổ, bất trắc, đấu tranh,
lừa đảo. Việc tổ chức các buổi Lễ Phật Đản có
ý nghĩa gì, có ích lợi gì cho mọi người không? Nguyên
Hạnh (Toronto).
2)
Trong các buổi Lễ Phật Đản, có nghi thức "tắm Phật", nhưng
không hiểu ý nghĩa, xin vui lòng giải thích. Liên Châu
(Mississauga).
3)
Nhân dịp Lễ Phật Đản, xin giải thích thắc mắc sau đây:
Bức tranh vẽ Đức Phật đản sanh bước trên 7 đóa hoa sen,
một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, có ý nghĩa gì?
Huệ Tâm (Scaborough).
4)
Xin hoan hỷ giải thích sự khác nhau giữa Phật Lịch 2547 và
Phật Đản 2627? Từ Bi Tâm (North York).
Phần
giải đáp:
Câu
hỏi 1: Hằng năm vào dịp rằm tháng tư âm lịch,
khắp nơi tổ chức Lễ Phật Đản một cách long trọng, thành
kính và trang nghiêm. Nhưng có nhiều người theo đạo
Phật vẫn cảm thấy chán đời vì cuộc đời đầy đau khổ,
bất trắc, đấu tranh, lừa đảo. Việc tổ chức các
buổi Lễ Phật Đản có ý nghĩa gì, có ích lợi gì cho mọi
người không? Nguyên Hạnh (Toronto).
Giải
đáp: Năm nay, ngày rằm tháng tư (15-4) âm lịch, nhân
lễ kỷ niệm lần thứ 2627 Đức Phật Thích Ca đản sanh,
nhằm ngày 15-5-2003 (Phật lịch 2547), chúng ta cùng nhau ôn lại
lịch sử và tìm hiểu ý nghĩa thâm trầm của ngày lễ trọng
đại này.
Đức
Phật Thích Ca đản sanh tại vườn Lâm Tỳ Ni thuộc xứ Ca
Tỳ La Vệ, được gọi là Thái tử Tất Đạt Đa (hay Sĩ Đạt
Tha), con của đức vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Gia.
Ngài lớn lên trong hoàng cung, vâng lệnh song thân lập gia đình
với Công chúa Gia Du Đà La, và hạ sanh Thái tử La Hầu La.
Trong các chuyến xuất cung du ngoạn ngoại thành, Ngài chứng
kiến các cảnh: sanh, lão, bệnh, tử trong nhân gian. Từ
đó, Ngài luôn luôn trầm tư mặc tưởng, muốn tìm phương
tự độ và cứu giúp chúng sanh thoát khỏi cảnh trầm luân
sanh tử, cho nên Ngài lìa bỏ hoàng cung, lên đường tìm đạo
giải thoát. Sau sáu năm tu khổ hạnh ở chốn rừng già,
và 49 ngày đêm ngồi thiền định dưới cội cây bồ đề,
tâm trí thanh tịnh, Ngài hoát nhiên giác ngộ, thành Phật,
thành bậc vô thượng chánh đẳng chánh giác, vào năm Ngài
được 30 tuổi. Sau đó, Ngài đi khắp nơi thuyết pháp,
đem chân lý giác ngộ giảng dạy cho mọi người trong 50 năm
ròng rã, và Ngài thị tịch, nhập niết bàn, năm 80 tuổi tại
khu rừng ta la song thọ.
Toàn
bộ lịch sử của Đức Phật Thích Ca từ ngày đản sanh,
đến thành đạo và nhập niết bàn, cũng như toàn bộ giáo
lý của Phật giáo, không phân biệt tông phái, nêu lên những
điểm quan trọng như sau:
1)
Mọi người trên thế gian đều có thể trở thành một vị
Phật, một bậc sáng suốt giác ngộ, không
phân
biệt nam nữ, xuất xứ, đẳng cấp, trẻ già, thời đại,
đã có gia đình hay chưa, nếu người đó biết tu tập theo
đúng chánh pháp, theo đúng bản đồ tu học. Đây là
ưu điểm nổi bậc của đạo Phật: Có hằng hà sa số các
vị Phật, từ quá khứ, đến hiện tại và vị lai, chứ không
phải chỉ có một vị Phật duy nhất làm giáo chủ là Đức
Phật Thích Ca, còn tất cả các loài chúng sanh khác đều phải
thờ lạy theo tinh thần van xin, cầu khẩn một cách tiêu cực.
2)
Đức Phật không phải là vị thần linh hay thượng đế tưởng
tượng chuyên ban phước ra ơn hay giáng họa trừng phạt.
Cho nên những ai cúng kiến, tin tưởng, thờ lạy Đức Phật
theo tinh thần van xin, cầu khẩn một cách tiêu cực, dù ở
chùa hay ở nhà, đều không đạt được những ước muốn
như ý. Bởi vậy, xin xỏ nhiều thì thất vọng nhiều,
cúng kiến nhiều thì buồn phiền nhiều, tin tưởng nhiều
thì đau khổ nhiều. Trái lại, những người sống đúng
theo tinh thần những lời dạy của Đức Phật, dù tại gia
hay xuất gia, dù có thờ lạy Đức Phật hay không, cũng đều
được an lạc và hạnh phúc hiện thời, giác ngộ và giải
thoát mai sau.
3)
Từ trước thời Đức Phật xuất hiện trên thế gian này,
cuộc đời vẫn thường đầy dẫy những sự đau khổ, bất
trắc, đấu tranh, lừa đảo, chứ không phải chỉ có thời
hiện tại mà thôi. Do đó, giáo lý của đạo Phật thường
được ví như chiếc thuyền, gọi là thuyền bát nhã, giúp
đỡ con người vượt qua bể khổ, sông mê, lướt qua bát
phong của cuộc đời, đến bến bờ giác ngộ và giải thoát.
Đức Phật vẫn sống ngay trên thế gian này, vẫn gặp bao
nhiêu khổ nạn của cuộc đời, nhưng tâm trí của Ngài vẫn
an nhiên tự tại, không cần phải đợi đến lúc về tây
phương cực lạc hay thăng lên thiên đàng! Đây mới chính
là cốt tủy của đạo Phật.
4)
Đạo Phật là một tôn giáo, cho nên cũng có những hình thức
cúng kiến, lễ lạy, cầu nguyện, để giúp đỡ những người
đang đau khổ trên thế gian này tìm đến với đạo, trong
những bước ban đầu. Nếu như con người, dù tại gia
hay xuất gia, đến với đạo Phật nhưng chỉ biết những
hình thức cúng kiến, lễ lạy, cầu nguyện mà thôi, cứ đứng
ở đó bao nhiêu năm trời, cho rằng như vậy là đủ rồi,
không chịu bước thêm bước nữa, bước đó là: tìm hiểu
xem Đức Phật dạy những gì để áp dụng trong cuộc sống
hằng ngày, chánh pháp ở đâu, thì đau khổ vẫn hoàn khổ
đau, có khác chi bao nhiêu người khác đâu?
5)
Các buổi lễ của Phật giáo, quan trọng nhứt là Lễ Phật
Đản, đều nhằm mục đích dẫn dắt con người đến với
đạo, xoa dịu bớt những nỗi khổ đau của cuộc đời.
Và mục đích quan trọng hơn hết là: "hãy bước vào
cửa đạo", chứ không phải chỉ bước vào cửa chùa rồi
thôi, hay vẫn cứ đi lang thang, lòng vòng bên ngoài, bằng lòng
với các hình thức cúng kiến, lễ lạy, các buổi văn nghệ
xổ số, các cuộc hành hương thương mại, các cuộc vận
động in sách cầu vãng sanh lưu xá lợi, kêu gọi đóng góp
tạo chùa to tượng lớn, mà không quan tâm việc tu học, tu
tâm dưỡng tánh, không biết đến chánh pháp là gì? Bước
vào cửa đạo nghĩa là phải biết tu học theo lời Đức Phật
dạy trong các kinh sách, để đạt giác ngộ và giải thoát,
chứ không phải tu mù, ai bảo sao làm vậy, ai nói sao nghe vậy,
hết sức mê tín dị đoan!
Câu
hỏi 2: Trong các buổi Lễ Phật Đản, có nghi thức
"tắm Phật", nhưng không hiểu ý nghĩa, xin vui lòng giải thích.
Liên Châu (Mississauga).
Giải
đáp: Theo truyền thuyết, ngay khi Thái tử Tất Đạt
Đa đản sanh, có hai vị Long vương đến phun hai dòng nước
tắm cho Thái tử. Một vị phun dòng nước lạnh và một
vị phun dòng nước nóng. Hai dòng nước lạnh và nóng
tượng trưng cho hai cảnh giới thuận nghịch của cuộc đời,
hai cảnh giới vui buồn, sướng khổ của cuộc sống hằng
ngày, mà tất cả mọi người sanh ra trên thế gian này phải
chịu đựng. Thái tử Tất Đạt Đa đã chịu đựng được
hai dòng nước lạnh nóng, cho nên sau này Ngài trở thành Đức
Phật Thích Ca. Trong kinh sách, Đức Phật dạy rằng: người
nào chịu đựng được những sự thuận nghịch của cuộc
đời, mà tâm vẫn bình thường, bình tĩnh thản nhiên, an nhiên
tự tại, thì người đó sẽ là một vị Phật trong tương
lai. Đó là ý nghĩa hết sức thâm sâu vi diệu của đạo
Phật.
Trong
kinh sách, những cảnh thuận nghịch của cuộc đời được
gọi là: bát phong. Bát là tám, phong là ngọn gió. Bát phong
chia làm bốn cặp, mỗi cặp gồm hai cảnh giới đối nghịch,
đó là: lợi và suy, hủy và dự, xưng và cơ, khổ và
lạc. Lợi là những điều thuận lợi, đem lợi lộc,
tài lợi đến cho con người. Suy là suy tàn, suy sụp, đem đến
sự thua lỗ, mất mát cho con người. Cả hai điều này
đều làm cho tâm của con người xao động, bất an. Hủy
là hủy báng, chê bai làm cho tâm con người bị động.
Dự là danh dự, khen tặng cũng làm cho tâm con người bị động.
Kế đến là xưng và cơ, nghĩa là xưng tán, tán tụng, nói
tốt, và cơ bài, bài bác, chỉ trích, nói xấu. Hai ngọn
gió này của cuộc đời cũng làm cho tâm của con người bị
động. Cuối cùng của bát phong là khổ nạn và lạc
thú trên trần gian. Trên đời này, cảnh khổ quá nhiều,
sanh lão bệnh tử là khổ, cầu mong không được cũng khổ,
thương yêu phải chịu chia ly là khổ, thù ghét gặp nhau cũng
khổ, thân thể ốm đau là khổ, tâm loạn động nhiều, bất
an cũng khổ. Còn lạc thú trên đời cũng không ít việc
đưa đến phiền não khổ đau. Chẳng hạn vui thú trò
chơi bài bạc đỏ đen thường dẫn tới hoàn cảnh tiền mất
tật mang, vợ bỏ con chê, cửa nhà tan nát, lâm cảnh bần
cùng túng thiếu!
Trong
Phật giáo có nhiều hình thức nghi lễ nhằm mục đích truyền
bá giáo lý sâu rộng trong nhân gian, giúp đỡ mọi người
xây dựng cuộc sống hiện đời được an lạc và hạnh phúc
hơn. Nhân ngày rằm tháng tư âm lịch hằng năm, khắp
nơi tưng bừng tổ chức lễ kỷ niệm ngày Đức Phật đản
sanh, để ghi nhớ công đức của đấng cha lành tìm ra con
đường cứu độ chúng sanh được giác ngộ và giải thoát
khỏi phiền não khổ đau và sanh tử luân hồi. Trong phần
nghi lễ kỷ niệm ngày Đức Phật đản sanh, luôn luôn có
tiết mục tắm Phật. Mọi người đều hoan hỷ sắp
hàng, tâm niệm Phật, miệng niệm Phật, chờ đến phiên mình
tiến lên lễ đài để múc nước tắm cho tôn tượng Đức
Phật đản sanh. Việc làm này mang nhiều ý nghĩa vi diệu,
có ích lợi lớn cho việc tu học, có thể chuyển hóa tâm
trạng của con người từ phiền não khổ đau thành an lạc
và hạnh phúc. Nghi lễ tắm Phật dựa vào truyền thuyết
hai vị Long vương phun hai dòng nước, một dòng nước lạnh
và một dòng nước nóng, tắm cho Thái tử Tất Đạt Đa trong
ngày đản sanh. Khi múc gáo nước đầu tiên tắm cho tôn
tượng Đức Phật đản sanh nhỏ nhắn, chúng ta tâm nguyện
rằng: dù trên đời có gặp thuận cảnh, vừa lòng, tâm của
chúng ta vẫn bình tĩnh thản nhiên. Khi múc gáo nước
thứ hai, chúng ta tâm nguyện rằng: dù trên đời có gặp nghịch
cảnh, không vừa lòng, tâm của chúng ta vẫn bình tĩnh thản
nhiên. Đây mới chính là ý nghĩa sâu xa của nghi lễ
tắm Phật vậy.
Câu
hỏi 3: Nhân dịp Lễ Phật Đản, xin giải thích thắc
mắc: Bức tranh vẽ Đức Phật đản sanh bước trên 7 đóa
hoa sen, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, có ý nghĩa
gì? Huệ Tâm (Scaborough).
Giải
đáp: Bức tranh đó được vẽ theo truyền thuyết:
Ngay khi đản sanh, Đức Phật bước trên 7 đóa hoa sen, một
tay chỉ trời, một tay chỉ đất, và tuyên bố: "Thiên thượng
thiên hạ duy ngã độc tôn".
7
đóa hoa sen tượng trưng cho thất chúng trong đạo Phật, đó
là: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na ni, Sa di, Sa di ni, Phật
Tử nam và Phật Tử nữ. Nói chung là toàn thể con người,
dù tại gia hay xuất gia đều có thể áp dụng giáo lý của
đạo Phật trong cuộc sống hằng ngày để được an lạc
hạnh phúc và giác ngộ giải thoát. Muốn được như
vậy, con người phải chứng được bản tâm thanh tịnh, được
ví như đóa hoa sen, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, cho
nên vẫn sống trong trần đời, mà chẳng cảm thấy phiền
não khổ đau.
Khi
thành đạo dưới cội cây bồ đề, Đức Phật ngồi trên
thảm cỏ, nhưng trong hình vẽ hay tôn tượng, Đức Phật đều
ngồi trên tòa sen, tượng trưng cho bản tâm thanh tịnh. Ngài
đã giác ngộ được rằng: tất cả mọi chúng sanh đều có
bản tâm thanh tịnh đó, cho nên đều có thể trở thành một
vị Phật, nếu biết thực hành pháp môn tu tâm dưỡng tánh.
Bản
tâm thanh tịnh trong kinh sách Phật giáo được gọi với nhiều
danh từ khác nhau, chẳng hạn như là: chân ngã, chân tâm, chân
tánh, Phật tâm, Phật Tánh, bản lai diện mục, v.v. Do đó,
câu nói: "Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn", có nghĩa
là: trên trời dưới đất, hay nói cách khác, trong 6 cõi luân
hồi: trời, người, atula, địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh,
chỉ có chân ngã, tức là bản tâm thanh tịnh, là đáng tôn
kính. Người giác ngộ được điều này, sẽ giải thoát
được phiền não khổ đau và sanh tử luân hồi.
Câu
hỏi 4: Xin hoan hỷ giải thích sự khác nhau giữa Phật
Lịch 2547 và Phật Đản 2627? Từ Bi Tâm (North York).
Giải
đáp: Năm nay dương lịch là 2003. Phật lịch
luôn luôn được tính thêm 544 năm, kể từ năm Đức Phật
nhập diệt, trước công nguyên. Cho nên năm nay 2003, Phật
lịch là năm 2547 (= 2003 + 544). Tuổi thọ của Đức
Phật là 80 tuổi, cho nên Phật đản được cộng thêm 80 năm.
Năm nay 2003, cho nên là Lễ Phật đản lần thứ 2627 (= 2547
+ 80).
Phần
tiếp theo là nội dung lá thư của đạo hữu Nguyên Thảo,
ở tiểu bang Texas, Hoa kỳ, chia xẻ sự quan tâm của một
Phật Tử đối với vấn đề tu học, nhứt là vấn đề nhập
vào cửa đạo, trong dịp đại lễ Phật Đản năm nay.
Texas
ngày 1 tháng 5 năm 2003
Huynh
thương kính,
Chủ
nhật tới chùa, nghe Thầy nói thông bạch về việc tổ chức
ngày Phật Đản, tiểu muội không khỏi chạnh lòng, nhớ chuyện
năm rồi. Thấy thời gian trôi nhanh quá. Huynh ơi,
mới thoáng đâu đó, như hôm qua, hôm kia, vậy mà đã gần
một năm rồi. Lễ Phật Đản năm ngoái tiểu muội đi
vào chùa chỉ một mình, không vào chánh điện để lễ Phật,
cũng không dự lễ, mà chỉ gặp Thầy để cúng dường như
lời Ba dặn. Thầy băn khoăn hỏi Ba Mẹ con có khỏe không,
mà sao không thấy đi dự lễ? Tiểu muội nói cho Thầy
hay là Ba con chắc sắp ra đi, đang nằm bệnh ở nhà, không
mong gì bình phục. Tiểu muội không muốn khóc mà mắt
tự nhiên ướt, Thầy nói nhẹ nhàng con đã hiểu lẽ vô thường,
thì đừng nên khóc làm gì. Hãy về lo lắng cho Ba . Thầy
sẽ tụng kinh cầu an cho Ba con trong mỗi thời công phu và chuyển
lời thăm hỏi của Thầy đến Ba Mẹ con nghe! Tiểu muội
cám ơn và chắp tay chào Thầy xong đi vội ra xe. Thấy
sân chùa như rộng hơn và tiếng cười nói lao xao của đám
đông chợt như xa lạ. Nước mắt lại lăn dài trên má,
lòng thầm nói với Ba rằng: Ba ơi chắc là sẽ không bao giờ
con với Thủy, còn có cơ hội dìu Ba những bước chậm, đi
bên cạnh Má trong sân chùa vào những ngày lễ hội hoặc đầu
năm.
Sau
mùa Phật Đản năm ngoái Ba tiểu muội ra đi thật. Dù
sao tiểu muội cũng rất mừng, vì được Huynh nhắc nhở ân
cần, nên làm gì cho Ba trong những ngày còn lại, như ngọn
đèn trước gió mong manh, tim đã mòn và dầu sắp cạn rồi.
Vành khăn tang lần đầu tiên quấn trên đầu, đã chuyển
đổi nhanh những đứa con gái có tình thương sâu đậm với
người Cha. Chị và các em của tiểu muội giật mình,
cho đến bây giờ mới hiểu, vì sao tiểu muội đổi thay,
tưởng chừng như khép mắt, quay lưng với cuộc đời nhiều
lao xao, nhộn nhịp bên ngoài, lặng lẽ theo Ba đi vào cửa
Đạo. Ở bên Ba, giữ cho Ba khoảng không gian êm ả quanh
giường bệnh, không có tiếng khóc, lời tiếc thương làm
vướng bận phút sau cùng. Chỉ có lời vỗ về nhắn
gởi: Ba ơi, hãy nương theo câu niệm Phật, thanh thản, nhẹ
nhàng ra đi về cõi an vui, không còn chi vướng bận ở nơi
này, con sẽ ráng dìu dắt Má và các chị em đi vào con đường
Ba mong muốn.
Tiểu
muội bắt đầu kể cho các chị và em nghe câu chuyện vì đâu
mình thay đổi. Nghe lời quảng cáo của em gái Út, tiểu
muội có duyên quen "ông thầy bói" ở xa. Tuổi tác, mặt
mày không sao biết, chỉ biết đây là ông thầy bói lạ lùng,
chưa từng thấy bao giờ. Kê khai tuổi tác, cùng chồng
con gia đạo, gửi cho thầy vào khoảng tháng hai. Tháng
tư thầy mới trả lời, cùng với câu xin lỗi là bận đi
làm việc từ thiện vòng quanh nước Mỹ và luôn cả VN, cho
nên chậm hồi âm. Không biết thầy lại đọc thư làm
sao đó, vì tiểu muội nghĩ rằng mình viết thư mạch lạc
chứ không đến nổi rối mù, thầy gọi tiểu muội bằng
hai chữ "bạn già", và thay vì coi bói thì là thuyết pháp:
Bạn già ơi cuộc đời vốn là bể khổ, nhưng vẫn có cách
để vượt qua an lành, nếu bạn chịu học bơi. Rồi
thầy giảng cho tiểu muội nghe vì đâu mà con người cảm
thấy mình sống trong đau khổ triền miên. Những nỗi
khổ cùng nguyên nhân của nó, và cuối cùng là con đường
nào giúp mình thoát ra cảnh khổ này. Tiểu muội nghe
tới đâu tỉnh ra tới đó, giống như người bừng tỉnh dậy
sau giấc ngủ dài, đắm chìm trong cơn ác mộng hãi hùng.
Sau này tiểu muội biết ra, ông thầy bói không chịu hành
nghề, mà giảng cho tiểu muội nghe Tứ Diệu Đế đó Huynh.
Thế
là quá khứ, vị lai, niềm vui, nỗi khổ, đeo mang nhiều năm
như gánh nặng trên vai, bỗng dưng như nhẹ lại, sau vài tuần
tiểu muội lắng nghe qua những "email"! Phải chi tiểu
muội có Huynh ngay lúc đó, và những quyển sách CTLĐ của
Huynh thì đã đỡ hoang mang biết bao nhiêu. Chạy ra nhà
sách trực thuộc chùa, tiểu muội không biết bắt đầu học
Phật từ đâu hết, và đem về nhiều cuốn mà khi mở ra thì
"đọc nhiều nhưng chẳng hiểu bao nhiêu". Tuy nhiên nghe
lời nhắc hãy đọc quyển Đường Xưa Mây Trắng của Thầy
NH, tiểu muội đã thật mừng khi tìm thấy quyển này.
Mỗi đêm khi chồng con thảy đều an giấc, tiểu muội một
mình dõi mắt tìm đi theo những dấu chân xưa. Lòng xúc
động, bồi hồi khôn tả, giống như vừa tìm gặp lại người
thân thiết yêu thương đã biệt mù xa cách từ lâu. Không
còn thấy lạc lõng, bơ vơ và vô vọng, như vẫn thường khóc
âm thầm, dù mình có sống hết lòng với mọi người, thì
cũng chỉ nhận lại ở cuộc đời này toàn là đắng cay,
đau đớn mà thôi.
Có
phải là muộn quá không Huynh, hay là vì duyên chưa đủ, cho
nên hằng bao năm tháng nép bóng bên người Cha rất đổi thiện
lành, cuộc đời gắn liền trong tiếng mõ, câu kinh, mà tiểu
muội vẫn như ở xa tận đâu đâu. Lời kinh đêm, tiếng
mõ êm đềm đều đặn nghe trong những đêm về sáng, giống
như tiếng ru buồn trong giấc ngủ mỗi ngày, từ thuở còn
nằm nôi cho tới lúc lớn khôn đã không mảy may tạo một
chút gì ảnh hưởng, tò mò, đủ để cho tiểu muội tìm đến
với Đức Phật và giáo pháp thậm thâm vi diệu. Vẫn
theo Ba Má tới chùa từ khi còn bé xíu. Vẫn có nhiều
đêm nắm áo chị Danh đi vô ngôi tịnh xá nhỏ gần nhà.
Chị ngồi đọc tụng kinh, em gái nhỏ là tiểu muội khép
mắt gối đầu lên đùi chị nằm ngủ ngon lành nơi chánh
điện ngày xưa. Huynh cứ tính đi, bây giờ bao nhiêu tuổi,
là tiểu muội có bấy nhiêu ngày mùng một theo Má Ba cùng
các chị em đi lễ Phật đầu năm. Nghe Ba dặn tới chùa
đừng bao giờ xin xỏ điều gì. Hãy nhớ: nhân nào, quả
nấy. Làm ác gặp ác, làm thiện gặp lành. Mình
làm mình hưởng hay mình làm mình chịu. Phật không có
ban đặc ân cho bất cứ ai. Rồi Ba nhắc hoài đến ngũ
giới trong nhà Phật, nhưng cả đàn con lúc giữ, lúc không.
Tiểu muội nhớ kỹ cho nên chưa bao giờ cầu xin dù khổ tới
đâu! Nhưng giới thì không quan tâm lắm vì nghĩ mình
"đâu bao giờ" làm ác.
Cũng
nhiều lắm những ngày chủ nhật hay lễ lạc trong Phật giáo,
tiểu muội theo Ba Má đi chùa vì tìm được cho mình những
giây phút thật nhẹ nhàng thanh thản ở nơi đây. Cũng
theo bắt chước Má quy y từ 12 năm trước, cho nên mới có
pháp danh NT ngày nay. Nhưng quy y rồi cũng chỉ như là
để làm duyên cho có, bởi tiểu muội chưa bao giờ mang ý
nghĩ rồi sẽ học Phật nghe Huynh. Cho nên vẫn vô
chùa từ bao năm tháng, vẫn ê a đọc tụng kinh, với đôi
mắt khi mở và lúc nhắm, vì ngủ gục trong chùa chứ còn
gì. Lời kinh không hiểu và đôi chân tê cứng, ngồi
không yên và tâm chạy rong không biết ở đâu. Tiểu
muội nghĩ phải chi khi soạn dịch kinh điển Phật, hãy dùng
thuần túy là ngôn ngữ Việt, vay mượn làm chi tiếng Hán
Việt cho khó khăn đám hậu sinh như tiểu muội bây giờ.
Cửa chùa luôn rộng mở, nhưng cửa Đạo thì vẫn chưa hé
mở ra. Còn nhiều lắm những người như tiểu muội,
lang thang bao năm ở bên ngoài, Huynh có nghĩ vậy không?
Nghe kinh Phật như nghe lời hát vỗ về, an ổn trong khoảnh
khắc, mà những ưu phiền tạm lắng yên trong khói nhang cùng
nhịp mõ, hồi chuông ngân thật lắng sâu. Khi quay trở
lại với cuộc đời trước mặt, nỗi khổ, niềm đau vẫn
còn nguyên.
Nhiều
khi tiểu muội chỉ cười thôi không biết nói làm sao, khi
nghe những người thân thiết nói ra cảm nghĩ. Thấy người
cậu bà con dạo này đến chùa thường, và có lòng tiếp sức
về khả năng chuyên môn trong nghề nghiệp. Cậu có tò
mò tham dự một đôi lần khóa tu thọ Bát Quan Trai. Tiểu
muội hỏi cảm tưởng của cậu ra sao khi tham dự? Cậu
cười nói thấy ngại ngùng, vì ai cũng mặc áo tràng, trong
khi cậu chưa có quy y, nên có dám mặc đâu! Bình thường
chùa đông có khi không đủ chỗ cho Phật Tử trong những ngày
chủ nhật, nhưng khi tu thọ Bát Quan Trai thì chỉ vài chục
người thôi. Vậy mà đôi khi vì bận rộn, chùa cũng
không tổ chức tu thọ Bát Quan Trai cho Phật Tử. Cậu
thấy lòng an tịnh lắm, dù chưa hiểu bao nhiêu lời Thầy
giảng. Trước kia, cậu là nhà giáo, là Hiệu Trưởng
một trường Trung học. Mợ cũng là cô giáo dạy chung
trường. Vậy đó nhưng khi tiểu muội nói chiếc áo bên
ngoài không có nghĩa gì đâu, đạo Phật gom lại chỉ ở trong
một chữ "Tâm" mà thôi. Nếu cậu muốn tìm hiểu thì
sang nhà con dem sách về đọc, biết đâu cậu sẽ khám phá
ra những điều rất diệu kỳ. Nhưng rồi cậu chưa bao
giờ sang nhà lấy sách, cho nên những khi nghe cậu mợ nói
về chùa chiền tiểu muội than thầm. Cậu khen Thầy thiệt
là tài, có nhiều đệ tử đắc lực và làm "business" giỏi!
Chùa kiếm được nhiều lợi nhuận, nên dư sức trả nổi
"bills" lớn vì chùa to, có ăn cơm "free" và lâu lâu tổ chức
lễ lạc, hát ca, văn nghệ rình rang. Có ngôi chùa khang
trang đẹp đẽ cho mọi người lễ lạy, dù sao cũng hãnh diện
vì là nơi chốn lành mạnh cho mọi người tìm đến trong ngày
nghỉ cuối tuần! Còn mợ thì nói thích tới chùa để
được đổi bữa, ăn cơm chay một ngày trong tuần thấy thiệt
là ngon, nhưng sao mấy Thầy tụng kinh cầu an, cầu siêu chi
dài quá, ngồi lâu sốt ruột ghê! Những người có việc,
có tang đã có buổi tụng riêng rồi, sao lại còn bắt hết
thảy mọi người phải tụng chung như vậy? Có những
Phật Tử nghĩ như vậy đó Huynh, nhưng không hiểu chùa chiền
có biết hay không?
Huynh
ơi,
Rất
nhiều người vẫn nghĩ mình là Phật Tử, nhưng coi Đức Phật
như là một đấng thần linh. Họ tìm đến chùa để
lễ lạy, cầu xin nhiều thứ, cúng sao, giải hạn, cầu an
với cầu siêu. Họ coi chùa chỉ là một nơi chốn "giải
trí" lành mạnh, hoặc là nơi mua bán, trao đổi những việc
riêng tư, như tiểu muội tê tái trong lòng, khi nghe chính người
thân của mình nói ra ý nghĩ này! Người có tâm cầu
đạo, ra sức học hỏi và hành trì hình như quá ít, so với
người thích đến chùa tạo phước hay làm thiện. Nhưng
nhiều hơn hết vẫn là số đông ồn ào, náo nhiệt, lăng
xăng lộn xộn, đến chùa dâng sớ cầu an, cúng sao giải hạn,
xin xăm gieo quẻ, cầu khẩn khấn vái, lung tung, linh tinh, lang
tang.
Lễ
lạy tượng Phật thành tâm nghĩa lý gì Huynh hả, khi mà mình
chỉ có đức tin suông và không hiểu người tu theo Phật là
phải làm sao, ngoài việc cúng kiến lễ lạy? Đức Phật
đã để lại những gì cho chúng sanh đang đắm chìm trong biển
khổ này? Đã tìm đến với Đức Phật, dù tại gia hay
xuất gia, sao không mở toang cánh cửa Đạo để đi vào, lại
đứng bên ngoài cửa Đạo và tiếp tục lang thang trên con
đường mờ mịt, với những nghi lễ nặng phần hình thức
bên ngoài, nào ai biết mai sau đời mình sẽ về đâu?
Nhìn
thấy rõ mình thuở đó, và khi hiểu ra thì tuổi đã vào thu!
Lá vàng rơi rụng, đôi khi lá xanh cũng rụng, là vô thường,
ai biết được đâu! Cho nên lòng tiểu muội thật là
xa xót, ước chi tất cả những người đã có duyên đến
với chùa chiền, đều có thêm duyên để mà học Phật, muộn
còn hơn không phải không Huynh? Tiểu muội biết nhiều
lắm những người còn rất trẻ, chỉ có một ngày nghỉ duy
nhất trong một tuần làm việc miệt mài, từ bỏ những cuộc
vui chơi, giải trí, đem vợ con tới chùa để lễ lạy, tụng
kinh. Đạo tâm có sẵn từ lâu mà tâm Đạo chừng như
chưa khai mở. Tại sao vậy hả Huynh? Bởi tại chùa
chiền chưa tròn bổn phận hay tại họ chưa đủ duyên?
Thực đáng tiếc làm sao, bởi thời gian vẫn trôi qua mau quá
phải không Huynh?
Ngày
Lễ Phật Đản năm nay cũng là một ngày đáng nhớ. Ngày
từ giả hứa với Huynh sẽ lo tu học, lời hứa này tiểu
muội nhớ nằm lòng, vì thế cho nên rất nhiều người lo
ngại. Tiểu muội nghe nhiều từ những người thân, cùng
với người không thân. Mợ thấy cô nhỏ này không còn
thỉnh thoảng ghé qua trong buổi sáng, ngồi coi mợ làm vườn,
uống ly cà phê mợ pha cho với đôi mắt đỏ hoe, nghe mợ
nói chuyện cỏ cây hoa lá, để nỗi buồn nguôi ngoai, rồi
từ giả đi làm. Cũng không còn có những buổi chiều
về ghé qua nhà, ở lại cùng cậu mợ dùng bữa cơm gia đình,
nói chuyện về người thân, hay là ngồi hát cho cậu mợ nghe,
rồi về nếu như không ở lại ăn cơm. Những thói quen
đó hình như không còn nữa. Mợ có vẻ e ngại khi nói
rằng: Liên còn trẻ mà lại bỏ hết lo tu, coi chừng ảnh
hưởng tới hạnh phúc gia đình, chồng con sẽ thiệt thòi,
vì chẳng còn cái gì vui! Tiểu muội cười nói cám ơn
mợ đã có lòng lo, con vẫn ở đây, vẫn ngày ngày tròn đầy
bổn phận, và vui với bổn phận của mình hơn, không còn
gắng gượng giống trước kia, lòng không còn buồn chán nữa,
nên thôi không ghé mợ. Con có nhiều chuyện thấy nên
làm, và bận rộn hơn, mợ lo cũng đúng, vì lúc đầu con cũng
hơi khốn đốn, bị hiểu lầm là trong tim đã có thêm một
hình bóng lạ rồi, nên không buồn vui ồn ào như dạo trước,
cũng không giận hờn khóc lóc, than van, giống như tình đã
hết nên lòng nguội lạnh. Con bị để ý gắt gao không
còn chút tự do. Rồi cũng được hiểu thôi dù không
trọn vẹn, bởi vì tu là mở lòng ra để yêu thương và biết
thứ tha. Không giận dữ ồn ào hay than trách, là luyện
cho mình một tâm từ, chứ phải đâu trở thành người chai
đá, khô khan.
Chính
em gái Út còn la hoảng: con của chị còn nhỏ xíu xiu, chồng
chẳng đủ đầy trách nhiệm, mà sao chị vì chán đời lại
muốn tu hành bỏ mặc người thân? Trời ơi, lại mắc
công giảng giải: chị vì yêu cuộc đời, yêu thương mọi
người nên mới tu hành. Ngày xưa chị hay khó tánh, buồn
lòng là vì không dễ gì chấp nhận, những người quá khác
biệt mình và hay làm chuyện để mình buồn. Bây giờ
tập mở lòng ra không phân biệt, đó là yêu hay là ghét cuộc
đời đây? Cũng không còn thấy làm đàn bà là khổ,
bởi nỗi khổ đâu có dành riêng cho giới tính, màu da.
Nếu làm đàn bà để đem lời từ ái, khoan hòa, đem bàn tay
dịu dàng xoa dịu những nỗi đau của người, cũng như chính
nỗi đau mình, thì đó cũng là ân sủng riêng có, phải không
Huynh?
Mới
đây tiểu muội tình cờ đọc bài viết của một nhà văn
nữ, lại khám phá ra có rất nhiều người tự nhận mình
theo đạo Phật, có người thân xuất gia tu hành theo Phật
đàng hoàng, nhưng sao sự hoài nghi vẫn còn rất lớn, khi nghe
nói rằng: "Mẹ tôi vẫn vừa gõ mõ, tụng kinh, vừa hỏi chuyện
đi thâu hụi ra sao?". Nếu mà thuật rõ hơn một chút,
dám chừng có những câu hét la, giận dữ nữa nghe Huynh, chỉ
vì người ta không đóng đủ tiền hụi! Như vậy cả
Huynh và tiểu muội cùng biết là: trong cái nhìn và ý nghĩ
của rất nhiều người, chỉ có những người cao tuổi, không
còn vướng bận chuyện mưu sinh, những người già không còn
tha thiết gì vui thú ngoài đời, và những người khổ buồn,
tuyệt vọng mới tu hành để tìm quên, hay để sống cho qua
hết một đời mà thôi!
Còn
một chuyện có thật nữa mà khi nghe kể, Má và tiểu muội
đã cười ra nước mắt đó Huynh ơi. Có người bà con xa của
Má tiểu muội. Hai gia đình vẫn thường liên lạc, và
một hôm con dâu của bà ta gọi cho Má tiểu muội, nói rằng:
con không biết phải cười hay khóc nữa, không biết nói với
ai nên gọi cho Dì để kể Dì nghe. Con đến thăm Má chồng
con và đem tặng chiếc ấm mới mua. Cửa nhà mở rộng
vì bên này trời đang mát lắm (xứ Florida đó nghe Huynh).
Con thấy Má chồng con đang đốt nhang nơi bàn thờ Phật, ngại
làm kinh động nên con đứng ở thềm nhà bên ngoài. Dì
ơi, Má chồng con khấn sao lớn quá! Má khấn rằng: "Xin
Phật trời phù hộ cho mấy mẹ con của con được khỏe mạnh,
bình yên, may mắn. Còn cái con Mỹ đó nó hãy đi cho khuất
mắt đi, đừng ở với con trai con nữa mà chi! Nó cứ
bám theo hoài, con ghét nó, con không ưa nó". Mỹ là tên
của người con dâu đang đứng ở hiên ngoài đó Huynh.
Người con dâu vừa lau nước mắt, vừa lặng lẽ mang món
quà tặng đi về và quay trở lại tặng ngày sau. Bà mẹ
tranh giành tình thương với con dâu, và lôi kéo cả Đức Phật
về phe mình nữa!
Vậy
cho nên dưới đôi mắt của nhiều người, từ cái nhìn ở
bên ngoài, những người mà Huynh thường gọi là "tu mù", đã
tạo ra ảnh hưởng không nhỏ, làm cho giáo pháp, mà Đức
Phật đã vì lòng từ bi thuyết giảng mấy mươi năm để
làm tấm bản đồ cho cuộc hành trình vượt biển khổ đi
qua bến bờ giác ngộ, sai lệch đến độ thảm thương.
Nói cho Huynh nghe những nỗi băn khoăn chợt đến với tiểu
muội trong mùa Đức Phật đản sinh này. Tiểu muội chỉ
mong ước tất cả những ai đã có duyên đặt chân đến cửa
chùa, xin hãy tìm cách bước vào cửa Đạo, bước tới gần
hơn nữa cạnh bên Đức Phật, không phải cạnh bên tượng
Phật, để tìm hiểu, lắng nghe, học hỏi và hành trì theo
lời dạy của đấng Cha Lành, và một ngày nào đó sẽ tìm
gặp Phật ngay chính trong "Tâm" mình, chứ không là tượng
Phật vô tri mà mình lễ lạy bao năm nay vẫn thấy cách xa
muôn trùng.
Tiểu
muội
Nguyên
Thảo