NGŨ UẨN
Trong Giáo Lý
NGUYÊN THỦY Của Ðức Phật
Những
ai muốn học hỏi, nghiên cứu và tu tập theo Chánh Pháp không
thể không biết đến Ngũ Uẩn. Ðó là một trong những
giáo lý vô cùng quan trọng và phải được hiểu rõ một cách
tường tận, chính xác để có thể tu tập cho hiệu quả,
rốt ráo. Vậy năm uẩn này là gì? Chúng liên hệ
với nhau ra sao? Thông hiểu được chúng thì sẽ giúp
ích như thế nào cho sự tu tập của chúng ta?
Trước
khi đi vào đề tài, người viết xin được bày tỏ đôi lời
như sau:
Quý
vị độc giả có thể sẽ nhận thấy rằng cách diễn giải
về Ngũ Uẩn của bài viết này rất khác biệt với cách diễn
giải trong nhiều sách giáo khoa Phật học. Nếu thế,
xin quý vị đừng bị vướng mắc vào sự khác biệt ấy để
rồi đi đến kết luận cách nào là đúng, cách nào là sai.
Thật ra chẳng có vấn đề đúng hay sai ở đây mà chỉ có
sự thích hợp hay không thích hợp với căn cơ tu chứng của
mỗi người. Cả hai cách diễn giải, tuy là khác biệt,
đều xuất phát từ một nguồn gốc chung - những lời giảng
dạy của đức Phật trong 45 năm (có sách ghi là 49 năm) hoằng
hóa của Ngài. Sự hoằng hóa ấy luôn luôn hội đủ
cả hai yếu tố khế lý (đúng với sự thật) và khế cơ
(phù hợp với căn cơ của người nghe). Cho nên cũng cùng
một đề tài nhưng Ngài lại giảng một cách khác biệt đối
với từng đối tượng được giảng: thô phù hay vi tế, đơn
giản hay cao siêu... tùy theo căn cơ của mỗi người.
Mục
đích của bài này không phải là để thuyết phục quý vị
độc giả chấp nhận suông những gì sẽ được trình bày
ở đây, mà là để nêu lên một khía cạnh rất cụ thể
và thiết thực về Ngũ Uẩn, dựa trên giáo lý Nguyên Thủy
của đức Phật trong các kinh tạng Pali. Người viết
mong rằng quý vị hãy nhận xét thật khách quan xem cách diễn
giải này có hợp lý hay không, và nếu thấy hợp lý thì kế
đến hãy đích thân kiểm chứng nó bằng kinh nghiệm của
chính mình. Chỉ khi nào cả hai điều kiện ấy đều
được thõa mãn thì mới nên chấp nhận.
Bài
viết này sẽ bàn về ngũ uẩn trên phương diện con người,
cho nên không bao trùm luôn tất cả mọi loài chúng sanh.
Chúng ta biết rằng con người được tạo thành bởi hai phần:
THÂN THỂ (vật chất) và TÂM THỨC (tinh thần). Tuy nhiên,
khi nói đến cấu tạo của con người, đức Phật đã phân
tích hai phần này ra thành năm yếu tố, gọi là ngũ uẩn:
Sắc, Thức, Tưởng, Thọ, Hành. “Uẩn” có nghĩa là
nhóm, tiếng Pali: khandha. Sau đây là biểu đồ phân chia
để quý vị dễ theo dõi:
Trước
hết, SẮC uẩn là tất cả những gì cấu tạo nên toàn bộ
thân thể của con người từ đầu đến chân, từ trong ra
ngoài trên phương diện vật chất: tay, chân, da, thịt, răng,
tóc, xương, máu, nước, không khí, năng lượng...v.v.
Uẩn này dễ hiểu nên bài viết từ đây sẽ tập trung vào
bốn uẩn kia - bốn uẩn thuộc về lãnh vực tinh thần - TÂM
THỨC.
Ðức
Phật đã nhận định rằng: Tâm thức là yếu tố quan trọng
nhất trong mỗi con người bởi nó điều khiển, chi phối hết
tất cả; và nó cũng thật là phức tạp, mênh mông, sâu thẳm!
Do đó, khi giảng dạy về tâm thức, Ngài phải trình bày sao
cho thật cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu để phù hợp với trình
độ nhận thức của đại đa số người nghe lúc bấy giờ.
Chính vì vậy mà Ngài đã phân tích tâm thức ra làm bốn uẩn
để giảng giải. Bốn uẩn này hoàn toàn khác nhau, nhưng
lại liên hệ với nhau vô cùng khắn khít để lập thành một
chuổi phản ứng (chain reaction): (1)Thức
--> (2)Tưởng --> (3)Thọ --> (4)Hành.
Chúng sẽ được lần lượt giải thích theo thứ tự từ 1
đến 4 như sau (thứ tự này cho thấy cái nào xảy ra trước,
cái nào xảy ra sau trong một chuổi phản ứng cực kỳ nhanh
lẹ; chữ trong dấu ngoặc là từ đồng nghĩa của tiếng Pali):
1 -
THỨC (viññāna): cognition/consciousness - là những gì mà tâm
trí cảm nhận, thấy biết được qua sáu thức: nhãn thức
(cái biết của mắt), nhĩ thức (cái biết của lỗ tai), thiệt
thức (cái biết của lưỡi), tĩ thức (cái biết của mũi),
thân thức (cái biết của thân thể) và ý thức (cái biết
của ý). Sáu thức này là kết quả của sự tiếp xúc
giữa sáu căn (sáu giác quan) với sáu trần tương ứng (xem
biểu đồ minh họa trong phần chú thích). (1)
Quý
độc giả có thể sẽ không đồng ý với cách diễn giải
ở trên về THỨC uẩn, bởi vì nhiều sách giáo khoa Phật
học đã giải thích THỨC uẩn một cách cao siêu, rộng lớn
hơn nhiều (bao hàm cả A-lại-da thức...v.v.). Nếu thế,
xin quý vị tạm gác điểm bất đồng này qua một bên, và
vẫn tiếp tục đọc với một tinh thần cởi mở, không cố
chấp. Dĩ nhiên, điểm khác biệt ấy không thể bị phớt
lờ đi, cho nên sẽ được bàn luận thêm trong phần chú thích.
Chúng
ta hãy lấy một ví dụ để minh họa cho dễ hiểu (ví dụ
này là để giúp cho sự trình bày được rõ ràng hơn, chứ
không phải là để “chứng minh”): Ðang lái xe trên đường
về nhà, ta chợt nhớ lại sự việc ngày hôm nay ở sở làm,
ta đã bị người nọ mắng chưởi vào mặt, và ta lại nổi
tức lên khi nghĩ đến chuyện đó. Trong ví dụ này, THỨC
uẩn là những âm thanh, hình ảnh đang hiện lên trong ký ức
của ta về việc bị mắng chưởi ở sở làm, và nó thuộc
về ý thức.
2 -
TƯỞNG (saññā): perception - là sự nhận diện, đánh giá,
phán xét của tâm trí (tri giác)đối với những gì đã được
cảm nhận bởi THỨC ở bước 1. Sự đánh giá ấy rất
đa dạng, phong phú, nhưng tựu chung lại chỉ có ba loại tổng
quát: tốt, xấu, và không tốt không xấu.
Trong
ví dụ trên, khi những âm thanh, hình ảnh về việc ta bị
mắng chưởi ở sở đang hiện lên trong ký ức, lập tức
tâm trí ta liền đánh giá chúng rằng: “ Ðây là sự nhục
mạ, xúc phạm đến ta”. Ðó chính là TƯỞNG - cái tri
giác của ta. Xin lưu ý: ở thời điểm này, chưa có cảm
xúc nào nổi lên hết! Tri giác chỉ thuần túy là sự
đánh giá, phán xét, không có dính dáng đến bất kỳ cảm
xúc nào cả.
3 -
THỌ (vedanā): sensation - là những cảm giác về thân thể
mà được phát khởi lên dựa theo cái tri giác
đã xảy ra ở bước 2. Do đó, chúng cũng gồm có ba loại
tổng quát: dễ chịu (lạc thọ) - nếu tri giác cho là tốt;
khó chịu (khổ thọ) - nếu tri giác cho là xấu; và không dễ
chịu không khó chịu (xả thọ) - nếu tri giác cho là không
tốt không xấu. Xin lưu ý: Bởi vì THỌ là cảm
giác ở thân thể cho nên nó liên quan đến cả hai phương
diện vật lý và tâm lý (phải có cái tâm thì mới “cảm
giác” được chứ!). Nó là chiếc cầu nối liền THÂN
và TÂM.
Một
vài ví dụ về THỌ: đói bụng, khát nước, buồn ngủ, ngứa
ngáy, ngột ngạt, tê buốt, nóng nực, rạo rực, lâng lâng,
nhẹ nhõm...v.v. Ðừng hiểu lầm rằng THỌ uẩn cũng
bao gồm luôn các cảm giác về tâm lý (tức giận, vui tươi,
khổ sở, thương nhớ, thèm khát...v.v.), bởi vì cảm giác
tâm lý (xúc cảm) là thuộc về HÀNH uẩn. Ðây là điểm
rất quan trọng!
Cũng
dùng ví dụ ở trên: sau khi cái TƯỞNG (tri giác) cho rằng
ta đã bị người kia nhục mạ, xúc phạm ở sở làm, lập
tức khổ thọ - những cảm giác khó chịu ở cơ thể - liền
nổi lên, chẳng hạn như: trong người bứt rức, ruột gan
sôi lên...v.v. Người viết xin thú nhận rằng đây là
chỗ rất khó diễn tả, bởi vì bản thân mình không có đủ
từ ngữ để sử dụng, và hơn nữa thông thường chúng ta
không để ý gì nhiều đến các cảm giác của cơ thể trong
thực tế hằng ngày. Một điều xin lưu ý là: ở thời
điểm này, vẫn chưa có cảm xúc tâm lý nào nổi lên hết.
4 -
HÀNH (sankhāra): mental volition/reaction - là những hiện tượng
tâm lý hay cảm xúcmà tâm thức phát khởi lên dựa theo sự
kích động của THỌ đã xảy ra ở bước 3. Nếu bị
kích động bởi lạc thọ, những hiện tượng tâm lý này
sẽ mang tính cách ưa thích, say đắm (craving) - ví dụ: hãnh
diện, hả hê, mong mỏi, thèm khát, làm biếng, kiêu ngạo,
tham lam...v.v. Nếu bị kích động bởi khổ thọ,
chúng sẽ mang tính cách chê ghét, bực bội (aversion) - ví dụ:
tức giận, buồn rầu, cố chấp, chán nản, lo âu, ganh ghét,
khổ sở...v.v.
Xin
lưu ý: Có những hiện tượng tâm lý được phát khởi hoàn
toàn ngoài sự kích động của THỌ (mặc dù lạc thọ hay
khổ thọ đang hiện diện), chẳng hạn như: bình thản, tinh
tấn, hoan hỷ, từ bi...v.v. Tuy không có nằm ở trong cái
chuổi phản ứng (1)Thức --> (2)Tưởng --> (3)Thọ --> (4)Hành,
những hiện tượng tâm lý này cũng thuộc về HÀNH uẩn.
Chúng là những phẩm chất cao đẹp mà mỗi chúng ta đang cố
gắng phát triển trong quá trình tu tập của mình. Bởi
vậy, HÀNH uẩn mang một ý nghĩa rộng lớn hơn là THỨC, TƯỞNG
hay THỌ uẩn.
Trở
lại với ví dụ ở trên, sự tức giận của ta khi đang lái
xe chính là HÀNH, nó phát khởi lên do bị kích động bởi
những khổ thọ (trong người bứt rức, ruột gan sôi lên...v.v.)
đã xảy ra ở bước 3. Ðọc đến đây, quí vị có thể
sẽ nảy ra nghi vấn: Làm sao lại quả quyết được rằng
những khổ thọ này phải xảy ra trước rồi sau đó mới
dẫn đến sự tức giận, mà không thể là ngược lại hoặc
là cả hai xảy ra cùng một lúc? Ðây là điều mà chúng
ta không nên tranh luận bàn cãi, bởi vì chỉ tư duy, suy luận
mà thôi thì sẽ không bao giờ đi đến giải đáp thõa đáng,
giống như một nhóm người bị mù mà lại đi tranh cãi lẫn
nhau về màu sắc. Chỉ có thực chứng thì mới giải
tỏa được mọi sự nghi ngờ.
Bốn
uẩn Thức, Tưởng, Thọ và Hành luôn luôn hoạt động theo
thứ tự từ 1 đến 4 như trên, nhưng không phải chỉ theo
một chiều đơn giản như thế! Mối tương quan vi tế
của chúng được diễn tả đầy đủ hơn qua biểu đồ sau
đây (xin quý vị hãy hiểu thật rõ điểm này):
Có
nghĩa là: HÀNH, sau khi đã phát khởi lên dựa theo sự kích
thích gián tiếp của THỨC & TƯỞNG và kích thích trực
tiếp của THỌ, quay ngược trở lại để củng cố thêm cái
TƯỞNG (tri giác). TƯỞNG càng được củng cố thì THỌ
(cảm giác về thân thể) càng thêm mạnh mẽ, và HÀNH (hiện
tượng tâm lý) lại càng thêm mãnh liệt! HÀNH sau đó
tiếp tục quay ngược trở lại để củng cố TƯỞNG....
Cứ thế, chúng cứ lập đi lập lại, tạo nên một vòng luân
hoàn mà tự nó củng cố, tăng trưởng chính nó (self-feeding
cycle).
Như
vậy ta đã hiểu tổng quát về Thức, Tưởng, Thọ và Hành;
tuy nhiên những gì đã được trình bày ở trên, cho dù nghe
hợp lý, vẫn chỉ là lý thuyết suông. Quý vị độc
giả tất nhiên vẫn còn nghi ngờ hoặc thậm chí bác bỏ (nhất
là phần THỌ và cái vị trí thứ 3 của nó trong chuổi phản
ứng). Vì thế, việc kế tiếp là mỗi chúng ta hãy đích
thân kiểm chứng lại cái chuổi phản ứng này xem có đúng
với thực tế hay không; và đó là điều phải nói là rất
khó, nhưng mà làm được, nếu có phương pháp thực tập rõ
ràng (sẽ được đề cập ở đoạn dưới)! Sở dĩ rất
khó là vì hai lý do sau đây:
1-
Chuổi phản ứng (1)THỨC --> (2)TƯỞNG --> (3)THỌ --> (4)HÀNH
xảy ra vô cùng nhanh lẹ, giống như một luồng điện hay tia
sét. Vì thế, đối với mỗi sự kiện trong thực tế
hằng ngày, hầu hết chúng ta đều không cảm nhận được
sự hoạt động của tất cả 4 uẩn này và thứ tự hoạt
động của chúng. Thông thường, ta chỉ biết đến cái thứ
nhất (Thức), thứ hai (Tưởng) và thứ tư (Hành) mà thôi,
ta không hay biết hoặc không để ý đến cái thứ ba (Thọ).
Trở lại với ví dụ ở trên: khi đang lái xe và chợt nhớ
lại chuyện bị mắng chưởi ở sở làm (hoạt động của
THỨC), ta cảm thấy rằng “mình đã bị nhục mạ, xúc phạm
quá đáng” (TƯỞNG) và lại nổi tức lên! (HÀNH). Trong
quá trình ấy, ta không để ý đến hoặc chẳng hề hay biết
gì về những cảm giác khó chịu đang nổi lên ở cơ thể
(THỌ). Chính những khổ thọ này mới là yếu tố kích
thích trực tiếp nhất để gây nên sự tức giận của ta.
2-
Hoạt động của TƯỞNG, THỌ và HÀNH luôn luôn xảy ra ở
2 cấp độ như sau:
Ðầu
tiên, chúng xảy ra trong VÔ THỨC (2), tức là không hề được
cảm nhận hay thấy biết, nằm ngoài sự điều khiển do chủ
ý của ta. Sau đó, khi đã đủ sức mạnh nhờ cái vòng
luân hoàn (xem biểu đồ B) được lập đi lập lại nhiều
lần, chúng mới bắt đầu lộ diện ra trên bề mặt của
tâm thức - surface layer of the mind - gọi là Ý THỨC, có nghĩa
là ở giai đoạn này chúng mới được thực sự cảm nhận,
thấy biết, và điều khiển do chủ ý của ta. (Xin lưu
ý: chữ “Ý THỨC” ở đây thuộc về Tâm Lý học Tây Phương,
được tạm dịch từ chữ “conscious mind”, cho nên nó mang
ý nghĩa khác với chữ “ý thức” trong phần Thức uẩn ở
đoạn trước.)
Tuy
nhiên, xét về tâm thức của đại đa số mọi người, phần
Ý THỨC chỉ chiếm vỏn vẹn chưa được 1%; tất cả phần
còn lại, hơn 99%, đều thuộc về VÔ THỨC.
Người
viết không có kỳ vọng là quý độc giả sẽ tin ngay vào
dữ kiện trên, nhưng cũng mong rằng quý vị đừng vội bác
bỏ nó chỉ vì chưa kiểm chứng được. Sau đây là một
vài ví dụ để chứng minh cho sự hoạt động của cái VÔ
THỨC mênh mông, sâu thẳm trong mỗi con người:
-
Về thân thể: hơi thở, nhịp tim, tiêu hóa thức ăn, bài tiết,
hoạt động của tất cả các cơ quan nội tạng (gan, phổi,
thận, ruột...v.v.), hoạt động của hàng tỉ các tế bào
trong cơ thể...v.v.
-
Về tâm thức: nằm mơ, nhớ lại được những sự kiện quá
khứ xa xưa thật rõ ràng khi bị thôi miên, đang ngủ rất
say nhưng vẫn cảm giác được bị muỗi cắn, biết là uống
rượu rất tai hại nhưng một người nghiện vẫn cứ tiếp
tục uống, biết làm biếng là không nên nhưng vẫn cứ tiếp
tục làm biếng, biết không nên giận dữ nhưng vẫn cứ nổi
sân hận, biết không nên âu lo nhưng vẫn cứ thắt thỏm bất
an, biết là nên thiểu dục tri túc nhưng vẫn ước ao, ham
muốn...v.v.
Chính
cái kho tàng VÔ THỨC là nơi chứa đựng tất cả những gì
mà đức Phật gọi là “vô minh” (Pali: anusaya hoặc anusaya-kilesa).
Và chính vì VÔ THỨC điều khiển hơn 99% toàn bộ con người
chúng ta từ thân thể đến tâm thức, chúng ta chưa bao giờ
là “chủ nhân ông” thực sự của bản thân mình. Cho
nên thật là ngờ nghệch khi nghĩ rằng ta có thể tu sữa,
chuyển hóa được tâm tính của mình từ ngọn đến ngành,
nếu ta chỉ biết loay hoay trong cái Ý THỨC, cái 1% nhỏ bé,
cỏn con của tâm thức!
Bây
giờ, chúng ta hãy đi vào mục tiêu thiết thực nhất của
bài viết: Hiểu được Thức, Tưởng, Thọ, Hành là gì và
chúng hoạt động tương quan với nhau ra sao thì giúp ích như
thế nào cho sự tu tập của chúng ta?
Trước
hết, ta nhận ra rằng uẩn HÀNH (sankhāra) chính là cái mà
ta phải tu sữa, thanh lọc trên bước đường tu tập, bởi
vì nó là nơi phát khởi lên tất cả những thói hư tật xấu,
những phiền não, khổ đau trong chúng ta.
Giống
như một vị thầy thuốc, khi đã biết cái ung nhọt trên người
bệnh nhân đang nằm ở đâu, kế đến, ta phải tìm cho ra
nguyên nhân của nó và ngăn chận cái nguyên nhân này.
Dựa
theo chuổi phản ứng: (1)Thức ---> (2)Tưởng ---> (3)Thọ --->
(4)Hành, ta thấy rằng Thức, Tưởng và Thọ đều là những
nguyên nhân để dẫn đến HÀNH, nhưng THỌ là cái trực tiếp
nhất, cho nên cũng là quan trọng nhất. Hơn nữa, cái
giai đoạn THỌ ---> HÀNH lại là giai đoạn dễ dàng nhất
mà chúng ta có thể ngăn chận, không để cho các trạng thái
tâm lý mang tính cách phiền não phát khởi lên theo sự kích
động của THỌ. Tại sao nói giai đoạn này là dễ ngăn
chận nhất? Tại vì ta không thể nào chận được cái
THỨC (trừ phi phải phá hủy hết cả 6 giác quan!!!); ta làm
sao dẹp bỏ được cái TƯỞNG (tri giác) khi ta là con người
chứ không phải là vật vô tri vô giác?!; và ta cũng không
thể nào ngăn chận được cái THỌ vì nó bắt buộc phải
phát khởi lên khi có sự hiện diện của tri giác, cơ thể
con người chúng ta là như thế!
Vì
vậy, ta đi đến kết luận rằng: Cái phương hướng để
tu tập cho hiệu quả nhất là chúng ta phải làm sao để cho
tâm trí đừng bị kích động bởi THỌ, tức là nếu có lạc
thọ thì đừng say đắm vào nó, nếu có khổ thọ thì đừng
bực tức, khổ sở.... Dĩ nhiên, phải có một phương
pháp thật cụ thể, rõ ràng để thực tập thì ta mới làm
được như vậy. Phương pháp đó là thiền Vipassana (3),
do chính đức Phật chỉ dạy. Ðây là một pháp môn Thiền
Quán, trong đó, cái đối tượng để được quán chiếu chính
là THỌ - cảm giác ở thân thể. Bài viết này không
bàn sâu vào thiền Vipassana, nhưng sẽ nêu lên 2 điểm cốt
lõi sau đây trong việc thực tập phương pháp này (nếu thiếu
một trong hai yếu tố này thì dứt khoát không phải là thiền
Vipassana):
1.
TỈNH THỨC:
Hành
giả thực tập thiền Vipassana phải theo dõi, quán sát những
cảm giác ở thân thể một cách liên tục, sâu sắc với một
tâm trí đầy sự tỉnh thức. Sự quán sát ấy phải
được trau luyện, phát triển không ngừng chẳng những trong
lúc tọa thiền mà còn trong tất cả mọi hoạt động hằng
ngày của cuộc sống. Nhờ duy trì liên tục sự tỉnh
thức, tâm trí của hành giả sẽ càng ngày càng thêm nhạy
bén, tinh tế và thâm sâu, khiến cho phần VÔ THỨC càng lúc
càng giảm bớt, và phần Ý THỨC càng lúc càng tăng trưởng
(theo tỉ lệ %). Tuy nhiên, đó chỉ mới là số lượng,
chỉ là một nữa của vấn đề! Nếu sự tu tập chỉ
đem lại cái giảm thiểu về vô thức và tăng trưởng về
ý thức mà thôi thì chưa phải là “diệt trừ VÔ MINH” như
đức Phật khuyên dạy. Ở đây, Ngài nói đến cả hai
phương diện: số lượng và chất lượng. Do đó, trong
khi quán sát các cảm giác ở thân thể, hành giả phải dùng
cái tâm trí nhạy bén, tinh tế của mình để thực hiện thêm
một điều nữa. Ðó chính là điểm thứ hai sau đây.
2.
BÌNH THẢN:
Phải
cố gắng giữ vững sự bình thản, khách quan trong suốt quá
trình quán sát ấy. Nhờ vậy, hành giả sẽ thực chứng được
cái bản chất VÔ THƯỜNG của tất cả mọi cảm giác.
Chúng phát khởi lên và rồi sẽ tan biến đi, bất kể mãnh
liệt hay dai dẳng đến cỡ nào, bất kể khoái lạc hay khó
chịu đến đâu! Càng chứng nghiệm được sự VÔ THƯỜNG
này bao nhiêu, hành giả càng nhận chân được thế nào là
KHỔ (nhờ vậy mà thoát khổ) và càng thấm thía được cái
chân lý VÔ NGÃ bấy nhiêu. Dĩ nhiên, trong tiến trình
chuyển hóa ấy, tâm trí của hành giả sẽ càng lúc càng thêm
tự tại, thanh thoát và khinh an. Tưởng cũng nên nói thêm
rằng: vô thường (anicca), khổ (dukkha), vô ngã (anattā) - Tam
Pháp Ấn của đức Phật - là những chân lý để đưa đến
giải thoát, nhưng nếu ta chỉ biết tư duy, suy luận, lý giải
mà thôi thì vĩnh viễn ta sẽ không bao giờ chứng ngộ được
đó là gì. Giống như một người bệnh sẽ không bao
giờ được lành bệnh nếu người ấy chẳng hề uống một
viên thuốc nào cả mà chỉ lo đi tìm hiểu, nghiên cứu và
giảng giải về thang thuốc đó. Hãy sắn tay áo lên và
tu tập, thưa quý vị, vì chỉ có thực hành thì mới đem lại
được sự giác ngộ và giải thoát. Ðừng để cái hiểu
biết về tư duy (văn tuệ & tư tuệ) trở thành một chướng
ngại cho chính mình nếu nó làm cho mình thõa mãn, tự hào.
Hãy sử dụng nó như là bản đồ chỉ đường cho ta, như
là một động lực để thúc đẩy ta tinh tấn mãi trong sự
tu tập của mình!
Hai
yếu tố TỈNH THỨC và BÌNH THẢN ở trên phải được phát
triển song song, không thể chỉ tập trung vào một cái và lơ
là đi cái kia nếu muốn tiến xa trên con đường giải thoát.
Giống như đôi cánh của một con chim, cả hai chiếc cánh ấy
phải đều được khỏe mạnh như nhau thì nó mới có thể
bay xa được.
Cầu
chúc tất cả quý vị sẽ tạo dựng được cho mình đôi cánh
như thế, luôn luôn nuôi dưỡng củng cố nó, và sử dụng
nó để bay thật xa, bay vượt khỏi những phiền não trong
cuộc sống hằng ngày, và bay mãi cho đến đích tối hậu
của sự giải thoát. Nơi ấy nằm ngoài mọi sự lý luận,
suy tưởng, ngoài sự diễn tả của lời nói, ngôn từ, và
ngoài cái khuôn khổ chật hẹp, nhỏ nhoi của thế giới dục
lạc mà chúng sanh, do vô minh, đang tự trói buột, giam hãm
mình trong đó, để rồi cứ lăn lộn chìm đắm mãi theo dòng
sinh tử luân hồi khổ đau, bất tận.
V.D.
CHÚ
THÍCH:
(1)
THỨC uẩn được diễn giải trong bài viết này như sau:
Trong
họa đồ trên, “ý căn” là bộ não (brain); “pháp trần”
là các phản ứng sinh hóa học (biochemical reactions) xảy ra
trong các tế bào của não; “ý thức” là những cảnh tượng
hay ý nghĩ (mental thoughts or images) đang nổi lên trong đầu.
Tuy
nhiên, nhiều sách giáo khoa Phật học lại diễn giải rất
khác biệt như sau:
“Ý
căn” là Mạt-na thức (thức thứ bảy trong Duy Thức học);
“pháp trần” là cái bóng dáng của năm trần (sắc, thinh,
hương, vị, xúc) còn lưu lại trong ý thức (gọi là “lạc
tạ ảnh tử”); “ý thức” là cái biết của Mạt-na thức,
là thức thứ sáu trong Duy Thức học. Ngoài ra, THỌ, TƯỞNG,
HÀNH, THỨC cũng được giải thích một cách rộng lớn, cao
siêu, trừu tượng hơn nhiều (bao hàm cả A-lại-da thức -
thức thứ tám). Theo ý kiến của người viết, đó là
do sự khác biệt giữa giáo lý Nguyên Thủy và giáo lý Ðại
Thừa. Mấy trăm năm sau khi đức Phật đã nhập Niết
Bàn thì phong trào Ðại Thừa mới phát khởi, cho nên không
có gì đáng ngạc nhiên khi có sự khác biệt giữa hai đường
lối giảng dạy ấy. Sự khác biệt này hoàn toàn không
có nghĩa là cách nào đúng cách nào sai, mà phải được hiểu
trên phương diện thích hợp hay không thích hợp với căn cơ
tu chứng của mỗi người. Trong bài này, người viết
cố gắng hết sức trong khả năng hạn hẹp của mình để
trình bày, phân tích ngũ uẩn theo tinh thần nguyên thủy mà
đức Phật đã giảng dạy khi Ngài còn tại thế. Dĩ
nhiên, bài viết sẽ không sao tránh khỏi các khiếm khuyết;
kính mong quý vị độc giả hoan hỷ góp ý xây dựng.
Sau
đây là một vài nhận định riêng của người viết về giáo
lý ngũ uẩn: Ngũ uẩn là giáo lý mà đức Phật giảng
giải cho tất cả những ai chưa chứng quả vị A-la-hán.
Ðối với những người này, đức Phật không bao giờ đề
cập đến khái niệm A-lại-da thức vì ngại rằng họ có
thể sẽ hiểu sai lệch rồi đâm ra chấp ngã. Mọi sự
giảng dạy của Ngài luôn luôn hội đủ cả hai yếu tố khế
lý và khế cơ là vậy! A-lại-da thức là một lãnh vực
rất cao siêu; nó không phải là điều để người chưa có
cấp độ tu chứng đúng mức đem ra nghiên cứu, bàn luận;
giống như một người đang học ở cấp tiểu học thì không
thể luận bàn về kiến thức của cấp đại học.
(2)
Chữ “VÔ THỨC” trong bài viết này không phải là một từ
ngữ Phật pháp, mà là một danh từ của Tâm Lý học Tây Phương
- Western Psychology, được tạm dịch từ chữ “unconscious mind”.
Người viết sử dụng chữ này, thay vì là một thuật ngữ
Phật pháp, vì thấy nó rất thông dụng, dễ hiểu đối với
đa số độc giả.
(3)
Thiền Vipassana là một phương pháp tu tập do chính đức Phật
Thích Ca khám phá ra, đích thân mình thực hành theo đó để
đạt đến quả vị giác ngộ viên mãn. Sau đó, Ngài bắt
đầu chỉ dạy lại cho biết bao nhiêu người lúc bấy giờ;
năm anh em Kiều Trần Như là năm vị đầu tiên được đức
Phật hướng dẫn phương pháp thiền này trong khuôn khổ của
bài pháp thoại Tứ Diệu Ðế. Hiện nay, thiền Vipassana
đang được chỉ dạy rất thịnh hành ở khắp nơi trên toàn
thế giới theo đúng với tinh thần nguyên thủy của thời
đức Phật còn tại thế. Nếu quý vị muốn tìm hiểu
thêm về phương pháp thiền này hay muốn ghi danh theo học thì
hãy vào website: www.dhamma.org hoặc
www.vri.dhamma.org.