PHÁP DANH BẮT
ĐẦU BẰNG HỌ THÍCH
CÓ Ở VIỆT NAM TỪ
BAO GIỜ?
Kính
thưa quí vị
Chúng
tôi là một nhóm email thường trao đổi nhau về những kinh
sách và lời Phật dạy. Hầu hết anh chị em trong nhóm đều
là Phật tử\. Chúng tôi có cái thắc ma('c mà không ai giải
đáp được, đó là Pháp danh bắt đầu bằng họ của Đức
Thế Tôn như HT Thích Thanh Từ, TS Thích Nhất Hạnh, HT Thích
Minh Châu\... có ở Viết Nam từ hồi thế kỷ nàọ?
Thí
dụ vua Trần Nhân Tôn khi quí y thì được gọi là Điều Ngự
Giác Hoàng và tự xưng là Trúc Lâm Đầu Đà.. Vậy thì vào
lúc đ1o đã có pháp danh Thích \... hay chưả
Kính
mong Ông từ bi giải đáp giùm cho anh chị em chúng tôi đuợc
học hỏi và không còn cải nhau nửạ
Kinh
tho
HCD
From:
LeCongDa@a...
Date:
Thu, 1 May 2003 03:30:53 EDT
Subject:
Re: [vn-buddhism] Xin giải đáp giùm
To:
vn-buđhism@yahoogroups.com
CC:
tamdieu@yahoọcom
KG
DH HCD
Thưa
Qúy DH;
Thấy
một thắc mắc của DH vừa nêu lên, xin được gởi đến
một vài chia xẻ:
Như
DH biê't, Phật Giáo Việt Nam theo truyền thống Bắc tông, chịu
ảnh hưởng sâu đậm bởi PG Trung quốc, thế nên việc lấy
họ Thích làm pháp danh cũng là do PG Trung quốc truyền sang.
Người
đầu tiên trong lịch sử PG Trung Quốc sử dụng pháp danh họ
Thích là ngài Ðạo An (312-385), một danh tăng lỗi lạc thời
Ðông Tấn. Trung Quốc sau thời Tam Quốc thì xảy ra loạn lạc,
các dân tộc thiểu số ở phương Bắc (Trung Hoa gọi là Hung
Nô hay rợ Hồ) tràn vào chiếm cứ phương Bắc, chia ra làm
16 nước đánh lẫn nhaụ Ngài Ðạo An là đại đệ tử của
ngài Trúc Phật Ðồ Trừng, một vị đại tăng người Ấn
Ðộ vào Trung Quốc truyền giáo, do tình trạng chiến tranh
đã phải rời bỏ quê hương Hà Bắc (nhà Hậu Triệu) dẫn
đồ chúng khoảng 500 người chạy về thành Tương Dương lánh
nạn và tu tập tại đâỵ Vào thời điểm này thì PG đã
phát triển mạnh mẽ tại Trung Quốc, các vua chúa Trung Quốc
nói chung đều rất sùng mộ đạo Phật, đặc biệt là vua
Phù Kiên (nhà Tiền Tần) hùng mạnh nhất trong số 16 nước
này vì hâm mộ danh tiếng của Ngài, đã đích thân mang 100
ngàn quân đánh chiếm thành Tương Dương để cung thỉnh Ngài
về làm quốc sự
Suốt
đời Ngài chỉ lo hoằng dương chánh pháp, đệ tử theo học
có đến hàng ngàn người, đều đuợc Ngài ban cho pháp danh
mở đầu bằng họ Thích, vì tự xem mình như là những trưởng
tử của Như Lai (Thích tử), nên Ngài cũng có tên là Thích
Ðạo An. Trước Ngài, pháp danh của các Tăng sĩ đều lấy
tên quốc gia hay tên của thầy mình để làm họ, ví dụ như
sư phụ của Ngài là Trúc Phật Ðồ Trừng (người nước
Thiên Trúc) hay Chi Lương Khương (người nước Nhục Chi). Ban
đầu pháp danh của Ngài lấy theo họ của Thầy là Trúc Ðạo
An, sau này mới đổi lại là Thích Ðạo An. Nhắc đến Ngài
Ðạo An ta cũng nên biết rằng Ngài đã đào tạo nên những
môn đệ rất lừng danh, trong đó có Ngài Tuệ Viễn (hay còn
gọi là Huệ Viễn), được coi như là sơ tổ của pháp môn
Tịnh Ðộ Tông tại Trung Quốc.
Không
có một sử liệu nào nó rõ tăng sĩ VN dùng pháp danh họ Thích
từ lúc nào, nhưng có thể là từ lúc phái Lâm Tế được
truyền vào VN vì căn cứ vào các bản văn cổ của thời Lê
còn lưu lại (bài tựa Thiền Uyển Tập Anh, Thiền Tông Bản
Hạnh), các tăng sĩ tác giả (phái Lâm Tế) đều ký tên là
Thích tử.
Hy
vọng đã giải đáp được phần nào thắc mắc của DH.
Tâm
Hà Lê Công Ða
FROM
bgtam <bgtam@y...>
DATE:
Sat, 14 Jun 2003 10:39:10 -0700 (PDT)
TO:
<banbientap@thuvienhoasen.org>
SUBJECT:
Phap danh bat dau bang ho Thich
Kinh
thua qui vi,
Dinh
kem la mot ban van MS Word dung font VNI co tua de la "Luan Giai
ve
Chu Thich". Xin ban bien tap neu khong co gi tro ngai vui long dang bai
nay trong muc Dien Dan Phat Phap de gop them y kien ve de tai "Phap danh
bat dau bang ho Thich co o Viet Nam tu bao gio". Xin luu y voi qui vi la
toi chi la nguoi goi tai lieu nay. Tac gia chi muon ky ten la Nguoi Cu
Si. Xin chuc qui vi trong ban bien tap thanh cong tren con duong phung
su Phat phap.
Kinh
tho
Đọc
Việt Tide số 95, gặp được bài Tu Sĩ Phật giáo mang Họ
“Thích” Từ Khi Nào? của tác giả Tâm Hà Lê Công Đa, tôi
hết sức mừng vì đây là một tài liệu rất hữu ích cho
người Phật tử muốn tìm hiểu thêm lịch sử và danh
từ của Phật Giáo Việt Nam mà chúng ta thường gặp hiện
nay. Nhân dịp nầy, tôi xin cống hiến thêm một tài liệu
khác giải luận về đề tài trên trong cuốn Giải Luận Giáo
Lý của tác giả Giác Không do Nha Tuyên Úy Phật Giáo Quân
Lực Việt Nam Cọng Hòa xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn.
Xin
trích nguyên văn:
LUẬN
GIẢI VỀ CHỮ THÍCH
Gần
đây, có nhiều người nêu ra một thắc mắc khi thấy danh
hiệu của các vị Tăng -sĩ đều mở đầu bằng chữ Thích
tỷ dụ như Thích-Tâm-Châu, Thích Tâm Giác, v.v… và do đó
nêu lên những câu hỏi:
_
Chữ Thích có nghĩa gì?
_
Tại sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích?
Người tại gia tu Phật có dùng chữ Thích được không?
_
Chữ Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu,
thịnh hành vào thời nào?
với
mục đích diễn xướng và luận giải về chân nghĩa những
danh từ Phật Giáo, đặng làm tài liệu nhận xét chung, nơi
đây đề cập đến từng vấv đề giải đáp để cùng liễu
giải và xác luận:
I._
Chữ Thích có nghĩa gì?
Theo
sự dịnh nghĩa danh tự thông thường thì chữ Thích có nghĩa:
cổi ra, nới ra, giải thích rõ ràng nghĩa sách tỷ dụ như
chữ Thích-Hỗ là giải thích cho rõ nghĩa một chữ, một câu:
Thích Huấn là giải thích cho rõ những lời huấn giáo.
Ngoài
ra, chữ Thích lại cũng có nghĩa buông thả như trong sách có
chữ: “Kiên trì bất thích” tức là giữ vững không buông,
và, chữ “Khai thích vô cô” tức là buông tha cho kẻ không
tội.
Chữ
Thích cũng lại còn có nghĩa tiêu tan hết những nỗi sân hận
trong lòng như giảng câu “Tâm trung vi chi thích nhiên” phải
hiểu rằng trong lòng đã được tiêu tan hết cả phần nào
điều sân hận không còn vướng vấp một chút ân hận, não
phiền gì nữa.
Tuy
nhiên, chân nghĩa chữ Thích mà các vị tu hành đặt trước
pháp hiệu chỉ có nghĩa đơn thuần là:
a)_
coi mình là Thích tử, tức là đệ tử của Phật, bởi theo
quan niệm Trung-Hoa từ đời Tấn cho rằng những ai theo đạo
của đức Thích-Ca phải nên lấy theo họ Thích mà chữ Thích
tức là họ Thích-Ca cho dễ xưng hô.
b)_
một vị tu theo hạnh khoáng nhiên không vướng mắc phiền
não thế cảnh.
Tóm
lại thì chữ Thích chư Tăng hay dùng là theo họ Phật Thích-Ca,
ngụ kỳ chung còn có ý nghĩa hiểu rành sự lý, tâm hồn buông
thả, tiêu hết não phiền, không còn mảy may trần lụy.
II._
Tại
sao người tu theo hạnh xuất thế mới dùng chữ Thích? Người
tại gia tu phật có dùng chữ Thích được không?
Thật
ra, khi Phật giáo truyền qua Trung-Hoa vào khoảng thời Hán,
những vị mặc dầu tu theo đạo Phật, trở thành Tăng-sĩ
có bỏ đi giòng họ thế tục, nhưng thường theo hai điều
kiện:
1._
Tự đặt cho mình theo họ Trúc có nghĩa tu theo nguyên tắc
tu trì của các bậc Tăng-Già từ Tây-Trúc truyền sang.
2._
Hoặc theo họ của bậc Sư-Trưởng đã truyền giáo cho mình
tỷ dụ như Ngài Chi-Tuần nguyên trước họ Quan, nhưng vì
thụ giáo với ngài Chi-Khiêm nên đổi thành họ Chi, ngài Bạch-đạo-Hiển
nguyên họ Phùng nhưng học thầy là Bạch Thi Ly Mật nên đổi
thành họ Bạch v.v…như vậy là khi đạo Phật mới truyền
qua Trung-Hoa từ đời Hán, khoảng 25 _ 220 T.L. hầu như theo
một tục lệ thông thường như vừa trình bày. Kịp đến
thời Đông-Tấn khoảng 317 _ 349 T.L. Ngài Đạo-An người Thường-Sơn,
tỉnh hà-Bắc, sinh năm 312, xuất gia từ 12 tuổi, học hạnh
rất siêu việt đã đề xướng việc cải biến để những
vị tu hạnh xuất-gia theo Phật nên theo họ của Phật, và
do đó, những Tăng-sĩ thụ đại-giới (Giới Tỳ Khưu: 250
giới) lấy theo họ Thích tử…mỗ…mỗ.
Viện
dẫn lý do này, Ngài Đạo-An nêu ra một đoạn trong kinh Tăng-Nhất
A-Hàm có chép: “Bốn con sông lớn chảy vào bể cả, tự
nó không còn danh tự gốc của con sông mà chỉ có danh tự
là “bể cả”. Việc định họ cho người tu hành cũng
như thế. Xưa ở Ấn-Độ có 4 giòng họ là: Sát-Lỵ,
Bà-La-Môn, Trưởng-giả, Cư-sĩ. Đối với những ai gọt
bỏ râu tóc, khoác 3 tấm áo pháp như Phật chế định, nguyện
xin xuất gia học đạo thì không còn giữ giòng họ gốc mà
chỉ kêu là: Sa-Môn tức là đệ-tử của đức Phật Thích-Ca
mà thôi.
Trong
kinh Đại-Bát Nhã xác định rằng: “Phi sa-Môn, phi Thích-Ca
tử” có nghĩa nếu không phải là bậc Sa-Môn tức là bậc
xuất-gia theo Phật thì chưa phải là đệ-tử của đức Thích-Ca.
Bởi
những lý do trên, chỉ khi nào phát nguyện xuất-gia và đã
thụ đại-giới mới được xưng là thuộc giòng họ Thích
tức là đệ-tử chính của Phật và sau nầy coi các bậc Tỳ-Khưu
là hàng trưởng-tử của Phật nên được đổi họ thế gian
mà lấy theo họ Thích vậy.
III._Chữ
Thích nếu là một họ thì họ ấy phát sinh tự đâu? Thịnh
hành vào thời nào?
Đúng
ra họ Thích-ca là họ của đức Phật mà theo lịch sử là
một giòng họ quý tộc trước đó kêu là Sát-Lỵ mà sau đổi
ra là Thích -Ca (Sakya).
Theo
kinh điển ghi chép thì 10 vị đại đệ-tử của Phật như
Ma-Ha Ca-Diếp, Mục Kiền Liên, Tu-Bồ-Đề v.v… không dùng
họ Thích mà khi Phật-Giáo truyền qua Trung Hoa tới thời nhà
Tấn, Ngài Đạo-An xướng xuất việc lấy họ Thích làm họ
cho người đi xuất-gia, rồi từ sự kiện, chính Ngài theo
phong tục cổ truyền, trước đó theo học với Ngài Trúc-Phật
Đồ-Trừng ngài Đạo-An lấy luôn tên là Trúc Đạo An và
sau vì lấy cớ những người đi xuất-gia đều lấy đấng
Thích-Tôn làm gốc, vì thế Ngài đổi tên là Thích-Đạo-An
cho đến sau nữa Ngài Thích-Tuệ-Viễn nối nghiệp thầy mà
cũng xưng là Thích-Tuệ-Viễn. Kịp đến thời nhà Đường,
Ngài Tuệ-Năng khi dâng sớ lên Vua Đường Cao -Tôn để xin
cáo từ việc cớ già yếu hay bệnh cũng xưng là Thích-Ca Tuệ-Năng.
Như
thế, họ Thích là sự thay đổi của giòng họ Sát-đế-Lỵ,
một giòng họ quý phái thuộc Ấn-Độ, cho đến khi Phật-Giáo
truyền qua Trung-Hoa và thịnh hành từ sau sự khởi xướng
của Ngài Đạo-An thời Đông-Tấn.
Riêng
tại Việt-Nam có lẽ cũng chỉ quan niệm một vị xuất gia
theo Phật là thuộc giòng Thích-tử, còn trong sử sách,
danh hiệu các vị Thuyền-sư không mấy khi có thêm chữ Thích,
ví dụ như Ngài Cảm-Thành, Ngài Khuông-Việt, Ngài Viên Chiếu
v.v… Cho mãi đến thời gần đây mới có Điều-Ngự-Tử
Thích-Mật-Thể, một vị khởi xướng dùng chữ họ Thích
để ký tên trong văn liệu là cuốn Việt-Nam Phật Giáo Sử
Lược ấn hành vào năm 1943 và có thể là một khởi đoan
phong trào lấy họ Thích đối với Tăng chúng Việt-Nam.
Tóm
lại, chữ Thích là danh xưng của một giòng họ y theo giòng
họ của đấng Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật, có nghĩa theo
chữ Phạn Sakya tức là bậc Năng-nhân tức là một bậc có
năng lực phát hiện tấm lòng nhân từ vô lượng.
Ngoài
ra, theo chân nghĩa thế gian thì chữ Thích cũng có nghĩa khiến
lòng mình tiêu tan hết mọi phiền não, một hạnh quý giá
của người tu hành những pháp môn quý giá. Do đó, chỉ những
vị nào đã thụ đại-giới tức là một vị chính thức gia-nhập
Thích-Môn mới được coi là hàng Thích-Tử.
Cũng
vì thế, những người tại gia cho đến hàng Sa-Di mà lấy
họ thích là một sự kiện tiếm xưng, và cũng nhân y theo
chân nghĩa luận giải, những vị nào dù có hình tướng xuất-gia
mà không giữ theo giới hạnh của bậc xuất-gia mà dùng chữ
Thích cũng là tiếm xưng họ Phật, bởi những người tu hành
mà không giữ giới thì không còn Tăng cách và không xứng
đáng là người Thích-Tử nữa vậy.
Họ
Thích rất cao đẹp, nhưng phải được nêu lên đối với
những bậc tu hành chân chính, đầy đủ đức hạnh đáng
cho tín đồ củng phục thì không cần phải xưng họ Thích
mà thiên hạ đều tôn là bậc xứng đáng trong giòng họ Thích-Ca
vậy.
Người
Cư Sĩ (sưu tập)
FROM:
hoa truong <khanhtc00@y...>
DATE:Thu,
19 Jun 2003 10:57:18 -0700 (PDT)
TO:
<banbientap@thuvienhoasen.org>
SUBJEC:
TPhap danh ho Thich...
Kính
gởi: Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen
Tôi
là Thanh Sơn, xin mạn phép được đóng góp vài ý kiến về
vấn đề này. Theo vị Cư sĩ nào đó đã viết:
"Đúng
ra họ Thích-ca là họ của đức Phật mà theo lịch sử là
một giòng họ quý tộc trước đó kêu là Sát-Lỵ mà sau đổi
ra là Thích -Ca (Sakya)".
Xin
thưa cùng quý vị, dòng Sát đế lỵ thật ra chỉ là một
trong bốn giai cấp của xã hội Ấn Ðộ thời bấy giờ. Ðó
là:
1.-
Bà la môn.
2.-
Sát đế lỵ (Ksatriya).
3.-
Thương nhơn tỳ xá (Vsisya).
4.-
Thủ đà la (Sudra).
Bốn
giai cấp này về sau được qui định chặt chẽ trong luật
Manu, đời sống giai cấp càng ngày càng khắt khe, bất bình
đẳng. Hễ ai đã sinh ra từ đẳng cấp nào thì suốt đời
ở trong đẳng cấp ấy với nghề nghiệp truyền thống bất
di bất dịch. Hạng Bà la môn đã chiếm được vị trí tối
cao trong xã hội nên họ quyết định cho ba giai cấp (trừ
giai cấp Thủ Ðà la), bốn thời kỳ sinh hoạt của một đời
người như nhau:
1.-
Phạm trí kỳ: Thời kỳ niên thiếu theo thầy học kinh Vệ
đà, trau dồi hiểu biết.
2.-
Gia cư kỳ: Thời kỳ thành niên sinh hoạt gia đình nối dõi
tổ tông.
3.-
Lâm cư kỳ: Thời kỳ tráng niên, đã làm tròn nghĩa vụ gia
đình, vào núi tu tập.
4.-
Du hành kỳ: Thời kỳ lão niên du hành đây đó tìm sự giải
thoát. Người trong thời kỳ du hành không có nơi chốn nhất
định, nên họ có tên là Khất sĩ (Bhiksu) hay là Hành giả
(Yati) hay là Ly giả (Samnyasin).
Ngoài
những hạng trên còn có những kẻ tiện dân, bị coi là hạng
người đầy tội lỗi gọi là Chiên đà la (Chandala), không
thuộc giai cấp nào, sống ngoài lề xã hội, chuyên làm nghề
thanh toán xác chết, không ai dám sờ mó tới sợ lây ô uế.
(Trích dẫn sách: Tỏa ánh Từ quang, Hòa thượng Thiện Siêu,
Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Tỉnh Thừa Thiên
- Huế xuất bản, trang 11 - 12)
- Theo
điều vừa trình bày trên thì Sát đế lỵ chỉ là một trong
bốn giai cấp mà thôi, chứ không phải là dòng họ đích thực
của Phật Thích Ca. Xin đọc tiếp đoạn dưới đây nói về
dòng họ Thích Ca:
Cồ
Ðàm (Gotama) là họ và Thích Ca (Sakya) là tên chủng tộc của
đức Phật. Tục truyền rằng những người con của vua Okkàka
Mahàsammata bị đày vì âm mưu bất chính của mẹ ghẻ thất
bại. Trong cuộc đi bất định ấy, các hoàng tử đến chơn
núi Hi Mã Lạp Sơn (Himalaya), và tại đây gặp nhà hiền triết
Kapila. Do lời khuyên của vị này, các hoàng tử sáng lập
thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ), có nghĩa là chỗ của Kapila.
Khi vua Okkàka nghe được công trình của các con, ngài thốt
lên rằng: "Sakyà vata bho ràjakumàrà" (Các hoàng tử cao quí
này quả thật có khả năng). Từ đó dòng dõi và vương quốc
mà các hoàng tử sáng lập lấy tên là Sakya (Thích Ca). Vương
quốc của dòng Thích Ca nằm về phía Nam xứ Népal và mở
rộng hơn xứ Oudh ngày nay nhiều. (Trích dẫn sách: ÐứcPhật
và Phật Pháp, của Ðại đức NARÀDA MAHA THERA. người dịch
Phạm Kim Khánh, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh xuất
bản năm 1989, ghi chú 2, trang 24).
- Theo
điều đã trình bày thì dòng họ Thích Ca dịch từ tiếng
Phạn là Sakya. Vấn đề lấy họ Thích của Phật đặt trước
pháp danh như hiện nay, theo tôi nghĩ, phải lấy đủ hai chữ
là :Thích Ca mới đúng, thí dụ: Thích Ca Nâu Ni chẳng hạn,
chứ lấy riêng một chữ Thích, bỏ chữ Ca thì không ra thể
thống gì hết, và chữ Thích lại có nhiều ý nghĩa như đã
giải thích ở trên, người nào đã lấy ý này hẳn có một
mục đích gì thì tôi không biết, đó là chuyện của họ,
nếu muốn dùng thì phải đúng với danh từ và đức hạnh
của họ phải xứng đáng mới được gọi là người đệ
tử của Phật...
Vài
lời thô thiển góp ý cùng quý vị, mong làm sáng tỏ vấn
đề này.
Trân
trọng kính chào.