|
c
w
Phật Giáo Hoà Hảo:
Hướng Ði Tịnh Độ Cư Sĩ,
Một Giải Pháp Tích
Cực của Thời Ðại.
Tâm Hà
Lê Công Ða
I.
TỪ TINH THẦN LÝ TRẦN ÐẾN PHONG TRÀO CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO
Lịch
sử Phật giáo Việt Nam là một giòng chảy liên tục và sinh
động, từ bao đời qua không ngừng tưới tẩm những
đợt phù sa tươi mát lên mạch sống tâm linh của đất nước,
dân tộc. Khi bước đường Nam tiến của người Việt dừng
lại ở vùng châu thổ sông Cửu Long, biến mảnh đất này
thành một vựa lúa phì nhiêu, thì đồng thời một bối cảnh
văn hóa cá biệt cũng được hình thành, nảy nở và trên
cao hết, như một biểu hiệu của nền văn minh, nhu cầu về
tôn giáo tín ngưỡng đã trở thành một nhu cầu thiết tha
của quần chúng. Nếu như những thế hệ cha ông người Việt
trước đây đã chọn Phật giáo như là một chỗ dựa tâm
linh vững chắc thì nay những lưu dân của vùng đất mới
dĩ nhiên không thể không hướng vọng về đạo Phật. Thế
nhưng, trong một địa bàn xã hội mà thành phần nông dân
chiếm đến 85% dân số, quần chúng không cần đến một đạo
Phật kinh viện với những triết lý sâu xa, những nghi thức
rườm rà mà là một đạo Phật thực tiễn, sống động phù
hợp với đạo lý đời thường và nếp nghĩ giản đơn. Phật
Giáo Hòa Hảo (PGHH) ra đời chỉ là một hệ quả, một đáp
ứng tất nhiên của những khát vọng sâu kín này.
Tuy
nhiên để có một cái nhìn thấu đáo hơn về bản sắc đặc
biệt của Phật Giáo Hòa Hảo, cũng như để giải đáp lý
do tại sao chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau khi ra đời
mà phong trào tôn giáo này đã có sức mạnh thu hút đến hàng
triệu tín đồ, ngoài yếu tố nhân cách phi thường của người
khai sanh ra PGHH, Đức Huỳnh Giáo Chủ, ta không thể không xét
đến những yếu tố khách quan khác đã tác động vào công
cuộc vận động tôn giáo rộng lớn có tính cách quần chúng,
một phong trào đã tạo nên những ảnh hưởng lớn lao trên
hàng triệu cư dân của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu
Long trong nữa thập kỹ đầu của thế kỷ hai mươi và vẫn
còn tiềm lực phát triển mạnh mẽ cho đến hôm nay. Trong
những yếu tố này, nổi bật nhất phải kể đến phong trào
canh tân, chấn hưng Phật giáo bộc phát tại Trung Quốc sau
cách mạng Tân Hợi 1911 và bối cảnh lịch sử, xã hội của
Việt Nam trong giai đoạn suy tàn của chủ nghĩa thực dân thống
trị.
Không
ai có thể chối cãi rằng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch
sử đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Trung Hoa trên nhiều
mặt chính trị, văn hoá, kể cả lãnh vực tôn giáo. Nếu
về mặt chính trị, chế độ quân chủ Việt Nam là một sao
y bản chánh của mô thức quân chủ Trung quốc thì về mặt
tôn giáo, Phật Giáo Việt Nam cũng đã khoác lên người chiếc
áo của Phật giáo Trung Hoa qua hàng bao nhiêu thế kỷ. Thế
nên bất cứ những chuyển động nào tại Trung Hoa dù lớn
hay nhỏ đều có những tác động đến Việt Nam. Tình trạng
suy thoái của Phật giáo trong những năm cuối cùng của vương
triều Mãn Thanh tại Trung Quốc đã góp phần tạo ra không
ít những tệ trạng và bất công xã hội. Trái với chủ
trương từ bi, bác ái của đạo Phật, chùa chiền, tự viện
lúc này đã không còn là nơi xiễn dương giáo lý của Đức
Thích Ca mà trở thành những trung tâm bòn rút sức người
và sức của. Nhà chùa biến thành những chủ điền sở hữu
ruộng đất cho nông dân thuê mướn cày cấy. Có nơi trở
thành những trung tâm cho vay lãi với tiền lời cắt cổ. Chưa
kể là tình trạng mất phẩm chất của hàng ngũ tăng lữ,
thay vì phục vụ lý tưởng độ sanh cao cả, đã bị thế
tục hóa để trở thành một guồng máy phong kiến, một đẳng
cấp mới ăn trên ngồi trước thụ hưởng nhiều đặc quyền
đặc lợi trong xã hội. Núp dưới chiếc áo cà sa, những
tăng sĩ biến chất này tha hồ tom góp của cải của bá tánh
và theo thời gian tài sản của họ càng ngày càng phình ra
trước sự đói nghèo của quần chúng. Tình trạng này không
khác gì mấy với khung cảnh của xã hội Âu Châu trước thời
kỳ cách mạng Tư Sản Dân Quyền 1789, khi mà hai giai cấp qúy
tộc và tăng lữ đã cấu kết chặt chẽ với nhau để thống
trị và bóc lột đám nông nô nghèo khổ, suốt đời còng
lưng tận tụy phục vụ cho họ. Thế nên khi cuộc cách mạng
Tân Hợi thành công, giới trí thức Trung Quốc -phát xuất
từ các Đại học Bắc Kinh, và Giang Tô- bất mãn trước những
bất công to lớn này, đã vận động một phong trào cách mạng
xã hội triệt để mà Phật giáo Trung Quốc cũng là một đối
tượng bị đả phá mạnh mẽ. Họ chủ trương “Cần phải
đả phá giai cấp tăng phiệt, hãy giải phóng cái khổ của
tăng lữ ở dưới chế độ tăng phiệt, hãy tịch thu tất
cả những tài sản của tự viện để bổ sung vào sự nghiệp
của giáo dục...”(1). Trước áp lực mạnh mẽ của dư luận,
chính phủ Trung Hoa Dân Quốc cuối cùng đã phải ban hành đạo
luật “Tự miếu đăng ký” để điều tra tất cả tài sản
của chùa miếu, và tiếp theo đó là đạo luật “Thần từ
tồn phế tiêu chuẩn” để xem xét chùa miếu nào cần được
giữ lại và chùa miếu nào cần phải được phá hủy. Phật
giáo Trung Quốc lâm vào cơn pháp nạn.
Trước
tình hình này, tuy chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã đi hơi
quá đà nhưng không phải là không có lý do; những tăng sĩ,
trí thức Phật giáo có tâm huyết không thể khoanh tay đứng
nhìn mà không phản ứng. Một phong trào hộ pháp mạnh mẽ
đã được phát khởi lên trong quần chúng. Tuy nhiên để cho
công cuộc hộ pháp có hiệu quả, người Phật tử cũng không
thể làm ngơ trước những vấn nạn ngay chính trong nội bộ
mình, vì thế việc thanh lọc những con sư tử trùng đang tàn
hại cơ thể của Phật giáo trở thành một yêu cầu cấp
bách. Thế là kể từ năm 1912, tại Trung Quốc đã bắt đầu
nhen nhúm lên ngọn lửa chấn hưng, canh tân Phật giáo.
Ngọn lửa này ngày càng cháy bùng lên mãnh liệt với những
khuôn mặt lãnh đạo ưu tú như các ngài Thái Hư, Ấn Quang,
Đế Nhàn, Đạo Giai, Viên Anh,... mà nổi bật nhất là ngài
Thái Hư Đại sư với phong trào đoàn kết thống nhất Phật
giáo, vận động chỉnh lý tăng già, canh tân nền giáo dục
tăng lữ. Đây là một công cuộc cải cách sơn môn rộng
lớn mà cho đến khi nhắm mắt, với uy tín lớn lao của mình,
Thái Hư Đại Sư vẫn chưa vượt qua được những trở ngại
của thành phần sơn môn thủ cựu đang cố gắng bám rễ vào
tình trạng “chùa riêng“ để tận hưởng một cuộc sống
xa hoa, vị kỹ, và cuối cùng Ngài nhận ra rằng: “Nguồn
chủ lực và hướng hổ trợ cho Phong Trào Cách Mạng Tôn Giáo
chỉ còn trông cậy vào các hàng cư sĩ hữu tâm, kiên trì
và có khả năng.” (2)
Những
tệ trạng của Phật Giáo Trung Hoa trong giai đoạn này, cụ
thể là tình trạng “riêng Chùa, riêng Phật” cũng là một
trong những tệ trạng khá phổ biến tại Việt Nam, đặc biệt
là tại miền Nam, nơi mà số lượng những tăng sĩ có phẩm
chất không đủ đáp ứng với yêu cầu của quần chúng.
Đây cũng chính là hậu quả trực tiếp của chính sách chia
để trị của thực dân Pháp trong ý đồ gây phân hoá chia
rẻ làm suy yếu những thế lực dân tộc mà họ nghĩ là có
thể tạo nên những nguy cơ cho kế sách thống trị lâu dài.
Những biểu hiện của sự mất phẩm chất này đã được
người thanh niên Phật tử nồng nàn tinh thần yêu đạo, Huỳnh
Phú Sổ, ghi nhận như sau:
Tu
còn ham chay to đám bự,
Đặng
thế gian dâng cúng bạc tiền.
Dối
rằng: lo tu bổ chùa chiền,
Mà
làm của xài riêng cho thỏa
Bảo
làm sao dân không sa ngã,
Nghe
lời rù tông nọ phái kia.
Cả
tăng đồ trong nước chia lìa
Riêng
Pháp bảo, riêng chùa, riêng Phật. (3)
Đứng
trước tình trạng suy đốn này, bất cứ những ai nặng lòng
với tiền đồ của đạo pháp và dân tộc-dù là ở trong
giới tăng sĩ hay cư sĩ- đều không khỏi cảm thấy tủi hổ
và đau xót, và đây là động cơ chính thúc đẩy họ
phát khởi hùng tâm đứng lên gánh vác trách nhiệm duy trì
lại mối đạo, làm sáng tỏ ý nghĩa giải thoát của nền
“đạo diệu mầu (đang) gặp lúc truân chuyên”. Thế nên,
kể từ năm 1920, khi ngọn gió canh tân, chấn hưng Phật giáo
từ Trung quốc bắt đầu thổi vào đất nước Việt Nam, tất
cả những người con Phật có tâm huyết từ Nam chí Bắc đều
nhiệt liệt hưởng ứng để cùng bắt tay nhau “khơi ngọn
đuốc từ bi chí thiện”, thắp sáng ngọn đèn Chánh Pháp
đã bị lu mờ trong suốt gần một thế kỷ qua.
Nhìn
lại phong trào “Chấn Hưng Phật Giáo” Việt Nam, người
ta nhận thấy có hai sự kiện nổi bật đặc biệt có ý nghĩa:
Thứ
nhất, hồi trống lệnh bát nhã đầu tiên của phong trào này
đã được giục giã gióng lên không phải từ những vùng
căn cứ địa lâu đời của Phật Giáo Việt Nam, tức là từ
miền Trung hay miền Bắc, mà lại được phát khởi lên từ
vùng đất sông nước bao la của đồng bằng châu thổ sông
Cửu Long. Đây là một sự kiện có ý nghĩa, cho thấy chính
từ khung cảnh địa lý chính trị của vùng đất mới này,
với tinh thần phóng khoáng và sức sống không ngừng vươn
lên mà con người dễ dàng mở rộng vòng tay đón nhận những
tư tưởng tự do tiến bộ. Người góp công đầu của
phong trào Chấn Hưng Phật giáo Việt Nam là Thiền sư Khánh
Hoà, trú trì chùa Tiên Linh (Bến Tre), và do công sức bôn ba
vận động không ngừng nghỉ của Ngài mà Hội Lục Hoà được
thành lập (1923), quy tụ những thành phần tiến bộ trong cả
hai giới cư sĩ và tăng sĩ. Phong trào này ngày càng lớn
mạnh với sự ra đời của “Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu
Phật Học” (1932) sau đó mà cơ quan ngôn luận của hội,
tạp chí Từ Bi Âm đã để lại những tiếng vang và dấu
ấn mạnh mẽ trong hàng ngũ trí thức Phật Giáo. Bắt nguồn
từ đây mà miền Trung nối gót với sự ra đời của “Hội
An Nam Phật Học (1932) và rồi miền Bắc tiếp nối với “Hội
Phật Giáo Bắc Kỳ”(1934) tạo một sức đẩy cho phong trào
“Chấn Hưng Phật Giáo” Việt Nam tiến lên một bước cao
hơn đóng góp những nhân tố quan trọng cho công cuộc
thống nhất Phật giáo Việt Nam sau này.
Thứ
hai, một điều đúng như nhận xét của Đại sư Thái Hư về
vai trò của người cư sĩ, chính từ trong lòng của phong trào
Chấn Hưng Phật giáo này mà hai khuôn mặt cư sĩ lỗi lạc
của Phật giáo Việt Nam xuất hiện. Một Tâm Minh Lê Đình
Thám của miền Trung, người đã góp phần đào tạo nên những
tăng tài kiệt xuất cho một thế hệ lãnh đạo mới của
Phật giáo Việt Nam sau này như qúy Ngài: Thiện Minh, Thiện
Siêu, Trí Quang, Trí Tịnh,... Một Huỳnh Phú Sổ của miền
Nam, người đã đại chúng hóa phong trào Chấn Hưng Phật giáo,
trở thành một phong trào vận động cư sĩ lớn lao nhất trong
lịch sử Phật giáo Việt Nam, mà thành quả là sự ra đời
của tông phái PGHH. Trong tập “Khuyến Thiện”, Ngài đã
đưa ra những lời hiệu triệu, kêu gọi chân thành và khẩn
thiết để cổ xúy cho phong trào Chấn Hưng Phật giáo như
sau:
Cả
tiếng kêu cùng khắp chư Tăng
Với
tín nữ thiện nam Phật giáo
Nên
cố gắng trau thân gìn Đạo
Hiệp
cùng nhau truyền bá kinh lành
Làm
cho đời hiểu rõ thinh danh
Công
đức Phật từ bi vô lượng
Đồng
dẹp bớt âm thinh sắc tướng
Lo
CHẤN HƯNG Phập pháp mới là... (4)
Nếu
như nguồn cảm hứng phong trào chấn hưng Phật giáo của Trung
Quốc bắt nguồn từ cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 thì phong
trào Chấn Hưng Phật Giáo của Việt Nam đã được khai sanh
và lớn mạnh trong bối cảnh của cuộc vận động cách mạng
giải phóng dân tộc. Trong suốt 80 năm, cả một đất nước,
dân tộc bị đọa đày dưới ách nô lệ của thực dân Pháp.
Tình trạng lầm than của xã hội thực không bút mực nào
tả xiết:
“Việt
Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp, vừa là một
quốc gia mất chủ quyền độc lập, lại vừa là một xã
hội phân hoá bất công, đồng thời còn là một xã hội đang
chuyển hướng văn hóa trong sự giao tiếp của nền văn minh
truyền thống phương Đông với nền văn minh duy lý, kỹ thuật
mới nhập cảng từ phương Tây. Đây là một xã hội đang
bị đè nén dưới sực nặng của bộ máy cai trị thuộc địa.
Nhưng cánh cửa đã hé mở đón nhận luồng gió mới thổi
đến từ một chân trời mới, hai yếu tố nội tại và khách
quan này khích động mạnh mẽ sự bùng nổ của một cuộc
cách mạng đáp ứng nguyện vọng vươn lên đòi thay đổi,
không những chỉ thay đổi thân phận mà con thay đổi cả
lịch sử, thay đổi cả hướng đi tương lai. Đây là cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách ngoại bang thống
trị, và cũng là cuộc cách mạng giải phóng con người khỏi
tình trạng bất công xã hội.” (5)
Nạn
nhân trực tiếp của tình trạng bất công xã hội này không
ai khác hơn là những người nông dân, những tá điền nghèo
khổ, sống dưới ách một cổ hai tròng, vừa của chủ điền
lẫn thực dân thống trị. Thống kê năm 1930 cho thấy tại
Nam Kỳ số điền chủ sở hữu trên 50 mẫu đất chỉ có
2.5% nhưng chiếm đến 45% diện tích canh tác, nhiều đại điền
chủ có trong tay trên 18,000 mẫu ruộng, trong khi đó có đến
71% nhân dân không có ruộng cày. (6) Những người nông
dân không có mảnh đất cắm dùi này không còn một con đường
nào khác hơn là tình nguyện làm công suốt đời cho chủ điền
trong tình trạng vay trước trả sau. Thêm vào đó, tình trạng
sưu cao thuế nặng biến họ thành một con nợ truyền kiếp
từ đời này sang đời khác. “Thuế má nặng nề , nhiều
thức, hoặc trực thu, hoặc gián thu, không một ngành hoạt
động nào là không chịu thuế, và trong những món đồ thiết
dụng hàng ngày như muối, rượu, người dân cũng đã phải
trả cho Chánh phủ một món tiền thuế. Ngoài thuế đinh, thuế
điền ra, người dân quê phải nạp những thứ thuế mà họ
chưa từng thấy ở thời trước: Người đi chợ phải
nạp thuế chợ, kẻ đưa đò phải nạp thuế đò, kẻ buôn
bán phải nạp thuế môn bài, kẻ vào rừng làm săn, đốn
củi, phải chịu thuế kiểm lâm,...” (7) Tình trạng mù chữ
là phổ biến với trên 80% dân số. Đời sống của người
nông dân miền Nam càng trở nên bi đát hơn khi cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới 1930 bắt đầu lan vào Việt Nam. Năm
1930 giá gạo tốt mỗi tạ (100Kg) là $13.10, thì đến năm 1933
chỉ còn $3.20. Giới lao động, nông dân, thợ thuyền lâm vào
cảnh thất nghiệp, đói rách.
Năm
1930, cũng là năm mà cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng
của dân tộc Việt Nam bước vào một khúc quanh đẫm máu.
13 liệt sĩ yêu nước của Việt Nam Quốc Dân Đảng hiên ngang
bước lên đoạn đầu đài. Màu tang tóc phủ lên trời Yên
Bái. Cả đất nước cũng là một trời tang. Người nông dân
Phật Tử Việt Nam -cụ thể là ở miền Nam không thể ngồi
yên trước thảm cảnh của đồng bào, dân tộc. Noi gương
các vị anh hùng cách mạng tiền bối trước đây: Trương
Định, Nguyễn Trung Trực, Cố quản Trần Văn Thành,... họ
lựa chọn thái độ dấn thân tích cực. Trong năm này,
nông dân của tỉnh Sa Đéc đã đứng dậy biểu tình đối
đầu với chính quyền thống trị.
Tuy
cuộc biểu tình bị đàn áp dã man với trên 11 người bị
thiệt mạng nhưng đã châm lên một ngòi lửa đấu tranh bất
khuất. Ngọn lửa này đã lan đến tỉnh Vĩnh Long với một
cuộc biểu tình quy mô hơn với trên 2500 người tham dự (8).
Là một tôn giáo dân tộc, Phật Giáo Việt Nam chia xẻ số
phận chung cùng với dân tộc. Khi dân tộc bị đọa đày,
áp bức, Phật Giáo Việt Nam cũng bị đọa đày áp bức. Khi
dân tộc vùng lên quật khởi, Phật Giáo Việt Nam cũng đứng
dậy hoà mình vào cuộc đấu tranh chung. Chính trong bầu khí
sục sôi này mà PGHH ra đời tiếp nối chủ trương học Phật,
tu Nhân của Bửu Sơn Kỳ Hương. Mà Tu Nhân là gì? Tu Nhân
chính là trả nợ Tứ Ân, trong đó ÂN ĐẤT NƯỚC là một
gánh nặng vô cùng lớn lao của đạo làm người. Mang tấm
lòng son sắt của một người Phật tử nặng lòng vì đất
nước, Đức Huỳnh Giáo Chủ đã thể hiện bằng một
thái độ dứt khoát:
Tăng
sĩ quyết chùa am bế cửa
Tuốt
gươm vàng lên ngựa xông pha
Đền
xong nợ nước thù nhà
Thiền
môn trở gót Phật Đà Nam Mô. (9)
Đây
chính là tinh thần của Phật giáo Lý Trần, một thời đại
mà có lúc số lượng tăng sĩ đã chiếm đến khoảng một
nữa dân số (thiên hạ bán vi tăng), nhưng đứng trước họa
ngoại xâm, trước sự điêu linh của dân chúng, giới tăng
sĩ cũng không thể không phát khởi tâm từ bi, nổi máu Bồ
Tát để “Cởi áo cà sa khoác chiến bào”, cầm gươm
lên ngựa xông vào chốn nước lửa để cứu vớt sinh
linh đang đồ thán. Thế nên chúng ta sẽ không ngạc nhiên
khi thấy cuộc kháng chiến của dân tộc ba lần đánh bại
đội quân xâm lược thiện chiến Nguyên Mông được lãnh
đạo bởi hai vị vua thiền sư nổi tiếng trong lịch sử Việt
Nam cũng như lịch sử Phật giáo Việt Nam: Trần Thái Tông
và Trần Nhân Tông.
Một
cách tóm tắt, có thể nói rằng Phật Giáo Hoà Hảo đã được
khai sanh ra từ phong trào vận động CHẤN HƯNG Phật giáo của
giới cư sĩ Phật tử Việt Nam, và phong trào này được lồng
trong bối cảnh lịch sử của một cuộc vận động cách mạng
giải phóng dân tộc. Đức Huỳnh Giáo Chủ luôn luôn xác nhận
rằng mình là một đệ tử của Phật gia và Phật Giáo Hoà
Hảo là một phong trào của giới tại gia cư sĩ, một thành
phần trong tứ chúng:
“Đây
là hạng người học Phật , tu Nhân.
Bàn
xét như trên, thấy rằng toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc
hạng tại gia cư sĩ.” (10)
Thế
nên cũng có thể kết luận một cách dứt khoát rằng: “Trên
phương diện chính danh, PGHH không phải là một tôn giáo mới
hay một đạo Phật canh tân. Về mặt tổ chức, PGHH mới xuất
hiện từ 1939. Nhưng về mặt giáo lý, PGHH không phải là một
tín ngưỡng mới, hay tín ngưỡng cải cách. Giáo lý PGHH chính
là đạo Phật, bắt nguồn từ tinh hoa cốt tủy của giáo
thuyết mà Đức Thích Ca đã khởi truyền từ trên 25 thế
kỷ trước đây.” (11) Tuy nhiên đứng trên bình diện
nhận thức và cảm quan của một người Phật tử bình thường,
một câu hỏi sẽ được đặt ra là, nếu ta xem PGHH là một
tông phái của đạo Phật thì đây là đạo Phật theo khuynh
hướng, truyền thống nào? Căn cứ theo xuất xứ, hành trạng
và giáo lý của Đức Thầy còn lưu truyền lại, ta có câu
trả lời ngay không mấy khó khăn: Đây là một đạo Phật
Việt Nam theo khuynh hướng Đại Thừa, hay nói rõ hơn, PGHH
là một tông phái của Phật Giáo Việt Nam theo truyền thống
Tịnh Độ, trong đó đặc biệt xiễn dương vai trò của giới
cư sĩ .
II.
KHUYNH HƯỚNG TỊNH ÐỘ TRONG PGHH
Trong
bất kỳ thời đại nào, trong bất kỳ quốc độ nào cũng
đều luôn luôn có những vị Phật, những Bồ Tát, những
bậc đại Tăng vì lòng thương xót chúng sinh mà hóa hiện
ra đời hoặc tái sanh trở lại cõi trần để tiếp tục sứ
mệnh giáo hóa quần sanh. Khái niệm hóa thân, chuyển kiếp
tuy không được phổ biến trong truyền thống Phật giáo Việt
Nam nhưng là một khái niệm rất phổ quát và quen thuộc trong
Phật giáo, đặc biệt là truyền thống Phật giáo Tây Tạng,
chẳng hạn như người ta tin rằng nhiều vị lạt ma đã chuyển
kiếp tái sanh từ đời này sang đời khác và ngay cả Đức
Đạt Lai Lạt Ma cũng là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm
và là chuyển kiếp của vị Đạt Lai Lạt Ma tiền nhiệm.
Hiểu rõ điều này để thấy rằng Phật Giáo Hoà Hảo chỉ
là một sự kế tục của truyền thống Phật giáo Bửu Sơn
Kỳ Hương và Đức Huỳnh Giáo Chủ là hậu thân của những
vị Bồ Tát đã ra đời trước đó như Đức Phật Thầy Tây
An, Sư Vải Bán Khoai,... những người đã từng hành hoạt
trong địa bàn miền Tây Nam Việt và Cao Miên, đem ngọn đèn
Chánh Pháp soi đến tận những vùng thôn dân hẻo lánh sống
rải rác dọc theo các kinh rạch của đồng bằng Nam Bộ. Để
cho quần chúng hiểu rõ sứ mệnh thiêng liêng này, Ngài đã
tiết lộ máy huyền cơ, nêu rõ nguồn gốc xuất xứ của
mình: “Ta là một trong các vị cứu đời ấy. Ai liễu đạo
nơi quốc độ nào thì cũng phải trở về quốc độ ấy mà
trợ tế nhân dân, vì thể lòng từ bi bác ái cùng thù đáp
những linh hồn đã trợ duyên trong nhiều kiếp giúp Ta nương
cậy tu hành, nên ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Mão, Ta hóa hiện ra
đời cứu độ chúng sanh.” (12)
Thực
hiện sự mệnh cứu độ chúng sanh tức là đưa chúng sanh
qua bờ giác, thức tỉnh con người đang “say mê vật dục,
chìm đắm trong biển lợi danh, gây nên nghiệp quả” để
họ vượt ra khỏi bến mê. Muốn vậy, phải chỉ cho họ một
pháp môn tu tập. Đức Thầy, sau khi quán xét căn cơ và trình
độ chúng sanh của vùng đất Hậu Giang, Ngài thấy rằng không
có pháp môn nào thù thắng, diệu dụng bằng pháp môn Tịnh
Độ:
Lòng
thương chúng thuyết phương Tịnh Độ
Đặng
dắt dìu tất cả chúng sanh
Nếu
như ai cố chí làm lành
Chuyên
niệm Phật cầu sanh Phật quốc. (13)
Sở
dĩ pháp môn này được xem là thù thắng, diệu dụng vì hành
giả hành trì theo Tịnh Độ chỉ cần tu tập trong một kiếp
làm người hiện tại này -thông qua pháp môn Niệm Phật Ba
La Mật- là có thể trực chỉ Tây phương, không bao giờ còn
nổi trôi trong vòng sinh tử luân hồi nữa. Pháp môn này tuy
sâu thâm, uyên áo không thể nghĩ bàn, nhưng về mặt thực
dụng lại rất dễ thực hiện, trong bất kỳ không gian, thời
gian, hoàn cảnh nào cũng đều có thể áp dụng được: “Yếu
chỉ của môn Tịnh Độ là Tín, Nguyện, Hạnh. Muốn vào cửa
pháp này, trước tiên hành giả phải tin cõi Cực Lạc có
thật, và Đức A Di Đà luôn luôn hộ niệm, sẵn sàng tiếp
dẫn chúng sanh nào quy kính, niệm sáu chữ hồng danh kêu gọi
đến Ngài. Lòng tin như thế gọi là Tín. Sau khi đã có lòng
tin, hành giả phải phát tâm chơn thiết cầu thoát ly cõi Ta
Bà đầy khổ lụy chướng duyên, mong muốn sanh về miền Cực
Lạc an vui, sự thanh tịnh trang nghiêm vô lượng, để tu tiến
hoàn thành mục đích tự độ độ tha. Đó gọi là Nguyện.
Và khi đã phát nguyện như thế, lại cần phải thiết thật
xưng niệm danh hiệu Đức A Di Đà cho đến trình độ tâm
- Phật tương ưng, để được tiếp dẫn. Đây gọi là Hạnh...
Tín, Nguyện, Hạnh còn gọi là ba món tư lương của môn Tịnh
Độ.” (14) Đối với người Phật tử thuần thành, lòng
tin không phải là một vấn đề. Trên cơ sở niềm tin sâu
sắc vào Tam Bảo, người Phật tử không có lý do gì để
phủ nhận sự hiện hữu của Đức Phật A Di Đà và cõi Tây
Phương Tịnh Độ đã từng được Phật thuyết trong các bộ
Kinh A Di Đà hay Quán Vô Lượng Thọ,... Còn chuyện trì danh
niệm Phật thì bất cứ ai nghèo hèn sang giàu, già trẻ lớn
bé đều cũng có thể thực hiện được một cách dễ dàng
nếu như họ muốn Tu. Chẳng thế mà Đức Thầy đã công nhận
rằng “Môn Tịnh Độ là phương cứu cánh”:
Cả
vũ trụ khắp cùng vạn vật
Dầu
Tiên, Phàm, Ma, Quỉ, Súc sanh
Cứ
nhất tâm tín nguyện phụng hành
Được
cứu cánh về nơi an dưỡng
Chỉ
một kiếp Tây phương hồi hướng
Thoát
mê đồ dứt cuộc luân hồi. (15)
Chính
hiểu rõ được công năng vi diệu của pháp môn Niệm Phật
mà ngày xưa ngay cả những vị Bồ tát, Tổ sư , Luận sư
lừng lẫy của Phật Giáo Đại Thừa, có những vị là những
tổ sư chánh truyền của môn phái Thiền Tông, nếu không hết
lời lên tiếng ca tụng pháp môn Niệm Phật của Tịnh Độ
thì cũng đã dùng những lời lẽ hết sức trân trọng để
nói đến pháp môn này. Bồ Tát Mã Minh trong bộ Luận nổi
tiếng, “Đại Thừa Khởi Tín Luận”, đã dạy rằng:
“Nếu
có xhúng sanh nào lo sợ ‘ở cõi Ta Bà không thường gặp
Phật, nghe pháp và cúng dường, sợ e long tin của mình không
thành tựu’, muốn thối chí, thì những chúng sanh ấy, nên
biết rằng: Phật còn có phương tiện thù thắng, bảo đảm
tín tâm của hành giả được thành tựu Phương tiện ấy
là “nhân duyên chuyên tâm niệm Phật, cầu sanh về cõi Phật
ở phương khác, để thường được thấy Phật, nghe pháp”,
thì chắc chắn xa lìa được ác đạo.
Trong
Khế Kinh, Phậtdạy : “Nếu người chuyên tâm niệm Phật
A Di Đà ở thế giới Cực Lạc phương Tây, và đem công đức
tu hành hồi hướngphát nguyện cầu sanh về đó, thì
quyết định sẽ sanh về thế giới Cực Lạc, được
thường thấy Phật và nghe Pháp, không bao giờ thối chuyển.”
(16)
Tại
sao pháp môn Niệm Phật được coi là một pháp môn thù thắng,
vượt trội hơn hết? Bồ Tát Long Thọ một vị Tổ Sư Thiền,
đồng thời cũng là người sáng lập trường phái Trung Quán,
trong bộ Luận “Đại Trí Độ Luận” đã giải thích
như sau:
“Niệm
Phật Tam Muội có thể trừ các thứ phiền não và những tội
đời trước. Các pháp tam muội khác, có môn trừ được nghiệp
dâm, không thể trừ được nghiệp sân. Có môn trừ được
nghiệp sân, không thể trừ được nghiệp dâm. Có môn trừ
được nghiệp si, không thể trừ dâm, sân. Có môn trừ được
ba độc tham, sân, si, không thể trừ các tội đời trước.
Môn Niệm Phật tam muội có thể trừ các thứ phiền não và
các thứ tội chướng. Lại nữa, niệm Phật tam muội có phước
đức lớn, hay độ chúng sanh. Chư Bồ tát muốn mau diệt tật
chướng, được nhiều phước đức, sớm độ chúng sanh, không
chi hơn tu môn Niệm Phật tam muội...” (17).
Và
Bồ tát Thế Thân, tổ sư của trường phái triết học Phật
giáo Duy Thức, một người có kiến thức quảng bác, uyên
thâm về Phật pháp cho nên cách nhìn, cách tu của Ngài đối
với pháp môn niệm Phật cũng đã đưa những kiến giải rất
độc đáo. Ngài đã sáng tác ra bộ luận “Vãng Sinh Tịnh
Độ Luận” để tuyên xưng cõi Tịnh Độ Di Đà và giải
thích lý do:
“Con
làm luận nói kệ
Nguyện
gặp Phật Di Đà
Cùng
khắp các chúng sinh
Sanh
về An Lạc quốc.
...
Luận
rằng: Các nguyện kệ này muốn nói lên nghĩa gì ? Vì muốn
quán thế giới an lạc, muốn gặp Phật A Di Đà, muốn nguyện
sinh về cõi nước kia.
Làm
sao quán? Làm sao sinh tín tâm? Nếu thiện nam tử, thiện nữ
nhân, người nào tu “năm thiện môn” thành tựu, rốt cuộc
sẽ được sanh về nước An Lạc, gặp Phật A Di Đà kia.
Những
gì là “năm niệm môn”? Một là lễ bái môn, hai là tán
thán môn, ba là tác nguyện môn, bốn là quán sát môn, năm
là hồi hướng môn.
Thế
nào là lễ bái ? Thân nghiệp lễ bái A Di Đà Như Lai Ứng
Cúng Chánh Biến Tri, do vì ý muốn sanh về nước kia.
Thế
nào là tán thán? Xưng danh của Như Lai kia, đúng như trí
tướng quang minh của Như Lai kia, đúng như danh và nghĩa kia,
vì muốn như thật tu hành cho được tương ưng.
Thế
nào là tác nguyện? Tâm thường tác nguyện: Một lòng chuyên
niệm rốt cuộc sẽ vãng sanh về cõi nước An Lạc, bởi muốn
như thật tu hành samatha vậy.
Thế
nào là quán sát? Dùngtrí huệ quán sát, chính niệm quán
nước kia, bởi muốn như thật tu hành Tỳ bà xá na vậy.
Quán
sát cõi nước kia có ba loại. Những gì là ba loại ?
Một là quán sát sự trang nghiêm do công đức của cõi nước
Phật kia. Hai là quán sát sự trang nghiêm do công đức của
Phật A Di Đà. Ba là quán sát sự trang nghiêm do công đức
của các Bồ Tát.
Thế
nào là hồi hướng? Không bỏ tất cả các chúng sinh khổ
não, tâm thường tác nguyện, hồi hướng làm đầu, do để
thành tựu tâm đại bi vậy”. (18)
Khi
nói đến pháp môn tức là nói đến phương pháp. Pháp môn
Tịnh Ðộ đặt nền tảng trên việc niệm Phật thì câu hỏi
được đặt ra là phải niệm Phật như thế nào cho đúng?
Nếu công phu niệm Phật phải đạt đến trình độ tâm-Phật
tương ưng, nhất tâm bất loạn thì đâu phải là chuyện dễ
dàng, chắc gì ai cũng có thể làm được? Mà nếu không
đạt được đến tình trạng này thì phải chăng những người
tu theo pháp môn Tịnh Độ cuối cùng đã bỏ phí cuộc đời
tu tập của mình một cách vô ích? Không phải như thế. Đức
Phật A Di Đà trước khi thành chánh quả có phát 48 lời đại
nguyện cứu độ chúng sinh, trong đó có lời nguyện rằng:
“Khi ta thành Phật, chúng sinh trong mười phương, chí tâm
tin chịu, muốn sanh về trong nước của ta, nếu niệm danh
hiệu ta đến mười lượt mà không được vãng sinh thì ta
thề không làm Phật”. Mà đôi khi cũng không cần phải đến
mười lượt, trong những giây phút cận tử, chỉ cần một
niệm tưởng đến Ngài, Phật A Di Đà cũng sẽ hiện ra để
tiếp dẫn thần thức của người lâm tử về cõi Tây phương
Tịnh Độ. Pháp môn niệm Phật quan trọng như vậy cho nên
một danh tăng hiện đại của Trung Hoa, Ngài Ấn Quang đã đưa
ra lời khuyên: “Môn niệm Phật ước có bốn pháp: trì danh,
quán tưởng, quán tượng và thật tướng. Tựu trung chỉ có
pháp trì danh nhiếp cơ rất rộng, đã dễ tu lại không
khởi các việc ma.” (19)
Đức
Thầy cũng nhận thấy hiệu năng của việc trì danh niệm Phật
cho nên Ngài đã khuyến khích tín đồ thực hành phương pháp
này một cách rốt ráo, nghĩa là phải “Rạch tim đem để
nó vào”, phải “Niệm Di Đà rán niệm cho rành”, bất luận
ngày đêm sớm tối, bất cứ lúc nào mà ta có thì giờ đều
phải nên chuyên tâm trì tụng danh hiệu Đức Phật A Di Đà,
làm sao để cho từng nhịp đập của trái tim, từng giòng
máu luân lưu trong cơ thể của hành giả đều chuyên chở
một tâm niệm duy nhất, A Di Đà Phật:
Muốn
niệm Phật chẳng cần sớm tối
Ghi
vào lòng sáu chữ Di Đà
...
Rán
trì tâm tưởng niệm canh thâu
Nằm
đi đứng hay ngồi chẳng chấp. (20)
Vì
cứu cánh của pháp môn niệm Phật là giải thoát, ta thấy
phương cách niệm Phật của Đức Thầy chỉ dạy không hề
chú trọng về mặt hình thức mà cốt yếu là làm sao cho nó
được đơn giản hóa, dễ thực hành và có kết quả để
mọi người có thể mang áp dụng một cách dễ dàng vào cuộc
sống đời thường, phù hợp với đặc tính thực tiễn của
người nông dân Nam bộ. Trong “Cách Thờ Phượng, Hành Lễ
Và Sự Ăn Ở Của Một Người Bổn Đạo”, Ngài cũng đã
nhắc lại rằng: “Nam Mô A Di Đà Phật, sáu chữ đi
đứng, nằm, ngồi rán niệm chớ quên, không đợi gì thời
khắc”. Tu theo pháp môn này hành giả không cần phải xuống
tóc, vào chùa, ăn chay trường, ngồi thiền, tụng kinh,... cho
nên rất thích hợp với đời sống của người cư sĩ tại
gia, đặc biệt là đối với người nông dân, rất diệu
d ụng, dễ dàng cho họ trong việc thực hiện tu tập, như
Ngài đã từng căn dặn bổn đạo: “Đi làm ruộng đến thời
cúng, ngó về hướng Tây nguyện rồi xá bốn hướng”.
Xem
Kệ này tu tỉnh tại nhà
Ở
ruộng đồng cũng niệm vậy mà
Phật
chẳng chấp chắng nài thời khắc. (21)
Đến
đây lại nảy sinh ra một vấn đề: Nếu tu hành nhắm mục
đích đạt đến giải thoát, và điều quan trọng nhất là
giải thoát ngay trong kiếp sống này -ngay bây giờ và tại
đây- thế thì tại sao phải cầu cho được vãng sanh về Tây
phương Tịnh Độ? Điều này đã được giải thích như sau:
“Tuy công phu niệm Phật trong hiện kiếp đã đặt nền tảng
vững vàng cho sự nghiệp giải thoát, nhưng sau đó phải vãng
sinh Tịnh Độ, lãnh thọ sự giáo hóa của Phật và Thánh
Chúng cho tới khi thành tựu Vô-Sinh-Pháp-Nhẫn. Sau đó mới
đủ năng lực hiện thân khắp mười phương hành Bồ tát
đạo, ra vào sanh tử mà không trói buộc, trở lại chốn ác
trược mà chẳng nhiễm ô, cứu độ chúng sanh không có hạn
lượng.” (22)
Kinh
Niệm Phật Ba La Mật. HT Thích Thiền Tâm dịch. Chùa Đức
Viên xb. 1997. Tr. 30.
Thấy
được yêu cầu này, hành giả một mặt phát tâm tinh
tấn tu hành đồng thời nương nhờ vào nguyện lực của Đức
Phật A Di Đà để được tiếp dẫn về cõi về Tây phương
Tịnh Độ. Danh hiệu của Phật A Di Đà có nghĩa là VÔ LƯỢNG,
bởi vì hào quang của Ngài chiếu dọi khắp mười phương
thế giới không có hạn lượng, không bõ sót một chúng sinh
nào:
- Nơi
nào có chúng sinh phát tâm niệm Phật thì không một chúng
sinh nào mà hào quang của Ngài không soi đến, nên gọi là
Vô Lượng Quang Phật;
- Tuổi
thọ của Đức Phật cùng nhân dân ở trong cõi này đều không
có hạn lượng, không bao giờ cùng tận nên gọi là Vô Lượng
Thọ Phật.
Với
thệ nguyện và công năng lớn lao của Phật A Di Đà thế nên
khi một người khởi lên chí tâm tín kính, niệm đến danh
hiệu của Ngài thì lập tức sẽ cảm đến cõi Tây phương
Cực Lạc, và trong ao Thất Bảo sẽ mọc lên một đóa hoa
sen, đến lúc lâm chung thần thức của người niệm Phật
sẽ thác sanh vào đóa sen này, không còn bị luân hồi sanh
tử nữa. Đức Thầy đã giải thích khái niệm vãng sanh Tịnh
Độ một cách cụ thể như sau:
Ôi!
cả sang hèn chẳng ai thong thả,
Sao
nhơn sanh cứ mãi đắm say.
Chẳng
tu thân đặng dựa Phật Đài
Cho
thong thả hưởng mùi sen báu
Thần
thức nhập Thai Sen tinh hảo
Nên
khỏi màng lo nổi khổ sanh... (23)
Như
trăm nhánh sông đều chảy về một biển cả, trăm ngã đường
tu đều dẫn đến một con đường duy nhất: Tịnh Độ.
Nói một cách rõ ràng hơn, mọi xu hướng của Đại thừa,
một khi đi sâu vào chân ý nghĩa của Đại Thừa, ắt hẵn
sẽ gặp nhau nơi Tịnh Độ, và như vậy “Tịnh Độ không
phải chỉ là lý tưởng của Tịnh Độ tông, mà còn là khuôn
mẫu lý tưởng chung cho mọi tông phái của Đại thừa Phật
giáo.” (24) Mà lý tưởng của Đại Thừa là gì? Là
vươn tới cứu cánh giải thoát để độ thoát chúng sinh.
Tịnh Độ A Di Đà giúp hành giả thực hiện lý tưởng này
một cách triệt để vì Đức Phật A Di Đà đã phát lời
thệ nguyện rằng: “Nếu chúng sinh nào đã sinh vào nước
ta rồi, bấy giờ muốn sinh sang nước khác cũng được như
nguyện, sẽ không còn sa đọa trong ba đường ác”. Thế nên
cầu vãng sanh Tịnh Độ không phải là hành vi chạy trốn,
đi tìm cõi Niết bàn, cực lạc, giải thoát cho riêng bản
thân, cá nhân mình. Do phát tâm dõng mãnh cứu độ chúng sinh,
cầu vãng sanh Tịnh Độ tức là cùng đáp lên chiếc thuyền
Đại Nguyện của Bồ Tát Quán Âm và Thế Chí, vượt qua biển
sinh tử luân hồi, trực chỉ Tây phương, gặp Phật và tu
hành đắc đạo rồi trở lại cõi Ta Bà độ thoát chúng sinh
đang đắm chìm trong bể khổ. Đây chính là khía cạnh tích
cực của Tịnh Độ. Đây chính là mầu nhiệm trong sự hoá
hiện của Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, như Ngài đã từng xác
nhận nhiều lần trong các Sấm giảng rằng mình là người
“vâng lệnh Tây phương Phật Tổ” cùng với Bồ Tát Quán
Âm mang sứ mệnh vào đời cứu khổ ban vui, trong đó niềm
vui Tịnh Độ mới chính là một niềm vui đích thực, hoàn
toàn, và triệt đáo:
Lời
Phật thuyết ta xin nhắc lại:
Ta
bà khổ, Ta bà lắm khổ
Có
bao người xét cho tột chỗ,
Tịnh
độ vui, Tịnh độ nhàn vui
Cảnh
thanh minh sen báu nặc mùi
Nào
ai rõ cái vui triệt đáo. (25)
Một
cách tóm tắt, pháp môn giải thoát mà Ðức Thầy đã rao giảng
cho đại chúng trong suốt bảy năm hành hoạt tại vùng đồng
bằng Nam Việt là pháp môn Tịnh Ðộ. Có một số ý kiến
đã căn cứ vào câu “Theo Lục Tổ không theo Thần Tú” trong
Sấm Giảng để cho rằng Ðức Thầy chủ trương “Thiền
Tịnh Song Tu”, thật ra khi khuyên Phật tử theo gương Lục
Tổ, Ðức Thầy chỉ có dụng ý phê phán lối tu chạy theo
hình thức “âm thinh, sắc tướng” của tăng, chúng đương
thời mà quên mất đi phần nội dung, thực chất của Ðạo
Phật chứ Ngài không hề bảo mọi người phải tu tập theo
môn phái Thiền tông. Một điều rất rõ ràng là, căn cứ
vào những sám giảng giáo lý mà Ðức Thầy còn lưu lại,
ta không hề thấy Ngài chỉ ra một phương pháp tu Thiền như
thế nào, vì một điều dễ hiểu, Ngài biết rất rõ rằng
pháp môn Thiền tông không khế hợp với căn cơ, trình
độ của người nông dân.
III.
PGHH: Hướng Ði Tịnh Độ Cư Sĩ,
Một
Giải Pháp Tích Cực của Thời Ðại
Thấy
được yếu tính của Phật Giáo Hòa Hảo, tức là thấy được
khả năng thù thắng, vi diệu của pháp môn Tịnh Độ cũng
như thấy được vai trò quan trọng của giới cư sĩ trong sự
nghiệp hoằng dương Chánh pháp ở bất kỳ thời đại, và
quốc độ nào. Hai yếu tính phổ quát này là những nhân tố
tích cực và là nền móng cơ bản cho PGHH phát triển trong
tương lai để có thể hoà mình vào sự phát triển chung cùng
với các khuynh hướng Phật giáo khác trên toàn thế giới
-đặc biệt truyền thống Tịnh Độ Cư Sĩ. Nếu sứ mệnh
chính của tôn giáo là phục vụ nhân sinh, tôn giáo không thể
tách lìa khỏi bầu khí xã hội cưu mang nó. Thế nên để
PGHH có thể chắp cánh bay ra khỏi địa bàn của vùng châu
thổ sông Cửu Long, trở thành một tông phái Phật giáo có
tầm vóc quốc gia lẫn quốc tế, cống hiến cho nhân sinh,
xã hội những giải đáp tích cực, cũng như giúp cho con người
một con đường tu hành đạt đến giải thoát trong một kiếp,
tự thân của PGHH cũng phải có những chuyển biến, canh tân
để phù hợp với những đổi thay của thời đại.
Như
ng khi nói đến chuyển biến và canh tân, ta không thể không
nhìn lại mình và một vấn đề cơ bản được đặt ra là
chúng ta nên bắt đầu từ đâu và canh tân như thế nào? Thế
kỷ 20 với những thành tựu vượt bực của khoa học, đặc
biệt trên hai lãnh vực Tin học và Sinh học một mặt đưa
con người lại gần nhau hơn nhưng đồng thời cũng tạo ra
những khủng hoảng mới trên cả ba phương diện ý hệ (ideology),
bản sắc (identity) lẫn cơ cấu (structure). Khi ngành Sinh học
có thể tạo ra con người bằng kỹ thuật nhân giống (cloning),
vai trò của Thượng Đế đã bị thách đố. Bên cạnh đó,
sự lung lay của những ý hệ một thời đã là chỗ dựa của
một phần nhân loại góp phần tạo nên những khủng hoảng
về niềm tin. Ngành Tin học với sự phát triển của xa lộ
thông tin cùng với sự lớn mạnh của xu hướng Toàn cầu
hóa, con người của thời đại ngày nay càng ngày càng đánh
mất dần những bản sắc độc đáo của truyền thống văn
hoá cá biệt. Chúng ta hiện đang chứng kiến những cơ
cấu cũ đang trên đà rung chuyển trước những đổi thay nhanh
chóng này. Như vậy, đặt vấn đề chuyển biến và canh tân
cũng có nghĩa là xác định những giá trị tích cực của
PGHH khi đối mặt với ba cuộc khủng hoảng này, và những
đóng góp của tôn giáo này trong việc giải quyết những thách
thức của thời đại.
1.
Vấn nạn khủng hoảng niềm tin:
Niềm
tin đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sinh hoạt tôn
giáo, tín ngưỡng vì tôn giáo là gì nếu không phải
là sự chia xẻ niềm tin? Tuy nhiên ta không thể chia xẻ được
niềm tin cho người khác nếu như ta không thấu hiểu, không
có niềm tin sâu sắc vào tôn giáo của mình. Trước những
đổi thay lớn lao của thời đại, những tín đồ của tôn
giáo độc thần đã ngày càng mất dần niềm tin vào Thượng
Ðế, từ xưa đến nay được quan niệm như là một nhân vật
siêu nhiên. Hình ảnh Thượng Ðế này nay bị các nhà canh
cải Cơ Ðốc, tiêu biểu là Giám Mục John Shelby Spong, Hoa Kỳ,
cho rằng là hình ảnh tiêu biểu còn sót lại của nhữ ng
“tôn giáo bộ lạc” (26). Tiếp nối công cuộc vận động
canh cải của Giám Mục John Arthur Thomas Robinson (Anh) khởi đi
từ những năm của thập niên 60, Giám Mục Spong trong các tác
phẩm mới xuất bản hồi gần đây đã đưa ra một khẩu
hiệu quyết liệt cho những người Cơ-Ðốc: “Thay Ðổi Hay
Là Chết” trong bối cảnh của những niềm tin cũ đã tàn
lụi, những niềm tin mới chưa hình thành.
Khi
đối diện với vấn nạn khủng hoảng niềm tin, con người
thường có khuynh hướng tìm về với những giá trị, truyền
thống tinh thần đã được thử thách trong quá khứ, trong
đó có Phật giáo. Không phải tự khoa trương quá lố về
mình, nhưng nếu nhìn vào thực tế, với số lượng gia tăng
đáng kể của những người Tây phương đang tìm về với
Phật giáo trong những thập niên gần đây, ta có thể
thấy được rằng con người của thời đại hôm nay -một
con người của lý trí và thực tế- đã nhìn thấy Phật giáo
như là một giải đáp tích cực về mặt trí tuệ, không
những giúp cho cá nhân tạo được trạng thái quân bình tâm
linh mà đồng thời cũng cống hiến cho xã hội những
giải pháp thực tiễn, hữu ích. Niềm tin này hoàn toàn được
xây dựng trên những cơ sở hợp lý có tính thuyết phục
bởi lẽ giáo lý Phật giáo không hề được xây dựng trên
những niềm tin mù quáng.
Trong
một dịp đối thoại, thảo luận với giới trí thức phương
Tây về vấn đề “Lý trí và Ðức Tin”, một nhà lãnh đạo
hàng đầu của Phật giáo hiện nay, Ðức Ðạt Lai Lạt Ma,
đã đưa ra nhận định rằng:
“Từ
cốt lõi của đạo Phật, đặc biệt là Phật giáo Đại thừa,
sự phân tích thuần lý chiếm một vị trí rất quan trọng.
Quan điểm này cho rằng ta không nên chấp nhận giáo lý của
Đức Phật nếu như trong đó có ẩn chứa những điểm sai
lầm thiếu sót hoặc mang tính cách mâu thuẫn, không hợp lý.
Bởi vậy bạn luôn luôn được khuyến cáo là nên giữ một
thái độ hoài nghi và một tinh thần cảnh giác, ngay cả đối
với những lời dạy của Đức Phật. Chính Ngài đã từng
phát biểu trong lời pháp cú sau đây: “Hỡi các Tỳ kheo,
như vàng được thử nghiệm bởi chà xát, cắt ra, và nung
chảy, chỉ nên chấp nhận lời dạy của ta thông qua đầu
óc phân tích chứ không phải bởi lòng kính trọng.” Đây
là một lời khuyên quan trọng cần nên được noi theo.”
Ngài
cũng đã giải thích thêm vấn đề này một cách rõ ràng:
“Ta
cũng có thể nói đến hai loại đức tin căn bản. Loại thứ
nhất đặt nền tảng trên lý trí, qua đó khi ta khảo sát
những nền tảng chân xác của đức tin này, được tìm thấy
trong số những người có trí thông minh sắc bén nhất. Loại
thứ hai có tính cách tự phát và đơn giản hơn được khai
sinh do một số ước lệ trong những người có khả năng tinh
thần yếu kém hơn. Trong hai loại này, loại đức tin được
xây dựng trên lý trí là quan trọng hơn cả. Thế nên ta có
thể thấy được rằng trong Phật giáo, đức tin và lý trí
quan hệ rất mật thiết với nhau, bởi vì đức tin được
sản sinh trên căn bản của lý trí hoặc nhận thức thuần
lý.
Có
rất nhiều cách để ta có thể tiến hành sự phân tích hợp
lý hóa, tuỳ thuộc vào ba loại đối thể mà ta quán sát.
Trong trường hợp đầu tiên, đối thể phân tích là một
hiện tượng giới rõ ràng. Trong trường hợp thứ hai, đối
thể được ẩn tàng và trong loại thứ ba nó được ẩn dấu
một cách vi tế hơn. Ba loại đối thể này tương ứng
với ba loại hiện tượng giới. Ta nắm bắt loại hiện tượng
giới biểu kiến do những nhận thức sơ khởi được biết
như là trực giác; thấu hiểu loại hiện tượng giới ẩn
tàng do những nhận thức suy luận đặt cơ sở trên chứng
cớ không thể bác bỏ được; còn loại hiện tượng giới
thứ ba cũng do những suy luận đặt căn bản trên giá trị
được công nhận trong các kinh điển.
Ta
khó có thể xác định ý nghĩa của hiện tượng giới ẩn
dấu một cách vi tế ngay lập tức bằng luận lý thuần lý
và càng khó hơn nếu dùng cảm quan. Chúng ta chỉ có thể thấu
hiểu được ý nghĩa của nó dựa vào những gì được phát
biểu bởi một nhân vật thứ ba đáng tin cậy, tín nhiệm
và không thể sai lầm mà những lời của họ, để được
tin tưởng, dĩ nhiên cũng phải hợp luận lý và không mâu
thuẫn lẫn nhau. Lý trí vốn không tham dự trực tiếp vào
việc hình thành loại hiện tượng giới thứ ba, thế nhưng
đã đóng một vai trò giúp ta xác định độ tin cậy của
một người trong việc khám phá ra loại hiện tượng giới
này.” (27)
PGHH
hoàn toàn được xây dựng trên giáo lý nhiệm mầu của Ðức
Thích Ca mà nét đặc biệt chính yếu là khế thời và khế
cơ thế nên những người Phật tử đã không bị cuốn hút
vào cơn lốc khủng hoảng niềm tin. Vấn đề còn lại chỉ
là việc củng cố xây dựng niềm tin của mình thêm vững
chắc, trên cơ sở những lời dạy của Ðức Thầy còn truyền
lại trong giáo lý:
- Tin
rằng “Tịnh Độ là pháp môn cứu cánh”;
- Do
tin rằng “Tịnh Độ là pháp môn cứu cánh”, nên tin rằng
có cõi Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà ;
-Từ
niềm tin có cõi Tây phương Cực Lạc của Phật A Di Đà ,
người Phật tử Hòa Hảo tin rằng
-Đức
Thầy là một vị Bồ Tát, trong hằng hà sa số những vị
Bồ Tát từ cõi Tây phương Tịnh Độ, đã vâng lệnh Bồ
Tát Quán Âm thị hiện xuống cỏi trần để cứu độ chúng
sinh.
Người
Phật tử Hòa Hảo tin chắc vào những điều trên vì không
những đã được Phật thuyết trong kinh điển mà còn được
lập lại bởi một nhân vật khả tín, Ðức Huỳnh Giáo Chủ.
Chính trên cơ sở của niềm tin rằng Ngài là một vị Bồ
Tát xuống trần, ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy được trí
tuệ và viễn kiến của Đức Thầy, người đã có một cái
nhìn xuyên suốt tương lai, thể hiện qua một số công trình,
sự nghiệp mà Ngài để lại trong khoảng thời gian 7 năm hành
hoạt ngắn ngủi. Một cách cụ thể, Ngài cổ xúy việc thành
lập “Việt Nam Phật giáo Liên Hiệp Hội” nhằm “liên
hiệp các tôn phái đạo Phật” để “nâng cao tinh thần
đạo Phật” và “bênh vực quyền tự do tín ngưỡng”.
Những chủ trương, tôn chỉ này như ta thấy cuối cùng đã
được những thế hệ Phật tử Việt Nam sau này thể hiện,
cụ thể là phong trào tranh đấu cho Tự Do Tín Ngưỡng của
Phật giáo năm 1963 mà kết quả là sự hình thành của Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất. Ðặc biệt hơn, Ngài
cũng đã nhìn thấy được trào lưu dân chủ sẽ là xu hướng
chính của thời đại và nền dân chủ mang tinh thần nhân
bản của Phật Giáo phải là nền dân chủ xã hội cho nên
đã đứng ra thành lập “Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng”,
là “một đảng dân chủ thiệt thi triệt để nguyên tắc
chánh trị của chủ nghĩa dân chủ: chủ quyền ở nơi toàn
thể nhân dân. Đã chủ trương ‘toàn dân chánh trị’ thế
tất đảng chống độc tài bất cứ hình thức nào” để
đi đến mục tiêu tối hậu là “làm cho mọi người đều
được hưởng phúc lợi cân xứng với tài năng và việc làm
của mình”, từ đó một nước Việt Nam độc lập sẽ “Căn
cứ vào Hiến chương của Liên Hiệp Quốc (O.N.U.) và sự bảo
vệ chung nền hoà bình, cọng tác với các dân tộc khác trên
lập trường tự do và bình đẳng.” (28)
Những
tinh thần chủ đạo, những nền móng dân chủ thắm đượm
tinh thần nhân bản Phật giáo này, ngày hôm nay, gần 50 năm
sau, đã được lập lại bởi một nhà lãnh đạo tên tuổi
của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, Hòa Thượng Thích Minh Châu.
Trong bài tham luận “Ðạo Phật và nền trật tự đạo đức
mới” đóng góp vào Hội Nghị Hoà Bình, tổ chức tại Mông
Cổ vào năm 1989, Ngài đã phát biểu như sau: “Chúng tôi tha
thiết hy vọng rằng tiến trình dân chủ hóa và nhân bản
hóa chính trị trong mối quan hệ giữa các nước, cũng như
trong tình hình nội bộ mỗi nước, sẽ được tăng cường
và đi sâu hơn nữa từ nay cho đến năm 2000. Như vậy, chúng
ta chuẩn bị cho một kỷ nguyên thật sự hòa bình, hòa bình
cho toàn thể hành tinh, không phải chỉ cho một số khu vực,
hòa bình cho toàn thể loài người, không phải chỉ cho dân
chúng sống trong một vài địa danh. Mọi hình thức chiến
tranh, không phải chỉ chiến tranh hạt nhân, cần phải loại
bỏ. Tất cả mọi biểu hiện bạo lực cần phải bị diệt
trừ một cách vĩnh viễn.” (29)
Xã
hội của Việt Nam trong tương lai theo xu thế của thời đại
sẽ phải là một xã hội mở, một xã hội dân chủ. Những
nỗ lực của PGHH vì thế phải được chuẩn bị để đóng
góp trên bình diện tôn giáo cho việc xây dựng một xã hội
dân sự này.
2.
Vấn Nạn Khủng Hoảng Bản Sắc:
Nói
đến khủng hoảng bản sắc tức là nói đến cuộc khủng
hoảng văn hóa được phát sinh khi nhân loại bước vào kỷ
nguyên toàn cầu hoá trong một nền trật tự thế giới mới
đang trên đường hình thành. Xương sống của toàn cầu hóa
là nền kinh tế thị trường, hiện nay đã như một làn sóng
mạnh mẽ tấn công ồ ạt vào các quốc gia, dân tộc yếu
kém về kinh tế. Nền kinh tế thị trường luôn luôn được
đi kèm theo với nền văn hoá thị trường. Nền văn hoá này
đặc biệt được thể hiện qua nếp sống, nếp nghĩ đã
được cổ vũ, phổ biến ồ ạt qua các phương tiện truyền
thông hiện đại, ngày càng có khuynh hướng chiếm lĩnh cuộc
sống tinh thần của con người trên toàn thế giới. Những
truyền thống văn hoá cũ, những nét đặc trưng của các dân
tộc ngày càng bị xói mòn, lung lay có khi đã bị nhổ bật
đến đến tận gốc rễ. Trước nguy cơ này, một số các
dân tộc, quốc gia trên thế giới –trong đó có cả Trung
Hoa và Việt Nam- hiện đang có khuynh hướng quay trở về nguồn,
tức là phục hồi lại những giá trị, tinh hoa của dân tộc
mình trong quá khứ. Ðó là một cách thế đi tìm lại bản
sắc của chính mình một cách bất bạo động. Tuy nhiên không
phải là không có chuyện con người sử dụng cả phương tiện
bạo động, tức là chiến tranh để giải quyết vấn đề
xác định bản sắc. Những nhà phân tích và tiên đoán thời
cuộc thế giới đã đưa ra nhận định rằng, sau kỷ nguyên
đối đầu tranh chấp ý thức hệ của thời kỳ chiến tranh
lạnh, nhân loại sẽ bước vào một thời kỳ xung đột mới
trên nền tảng của tôn giáo, chủng tộc và sắc dân. Các
cuộc chiến tranh xảy ra gần đây tại vùng Balkans, châu Phi
mà rõ nét nhất là cuộc tranh chấp giữa Mỹ và thế giới
Ả Rập, cũng có nghĩa là giữa Hồi Giáo và Cơ Ðốc là một
minh thị cho nhận định này và là một biểu trưng mạnh mẽ
nhất của cuộc khủng hoảng bản sắc.
Ðối
diện với cuộc khủng hoảng này, nhân loại bắt đầu nói
đến chuyện hợp tác, đối thoại mà qua đó các nhà lãnh
đạo tinh thần, tôn giáo hiện đang đóng vai trò tiên phong,
chủ lực. Ngay từ năm 1970, Giáo hội Tin Lành Lutheran
của Mỹ đã lên tiếng cổ võ cho việc thành lập những học
viện thế giới và khu vực để nhân loại cùng bắt tay nhau
đi vào một trật tự thế giới mới. Tinh thần này sau đó
đã được Giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã nồng nhiệt cổ
võ qua “Hội Nghị Tôn Giáo và Hoà Bình Thế Giới Lần Thứ
Hai” do Vatican bảo trợ được tổ chức tại Louvain, Bỉ,
vào năm 1974 dưới sự chủ tọa của Giáo Hoàng Paul VI. Hội
nghị Louvain kết thúc với một bản tuyên bố chung nội dung
có đoạn như sau: “Những người Phật giáo, Cơ Ðốc, Khổng
giáo, Ấn giáo, Do thái giáo, Kỳ Na giáo, Hồi giáo, Sikhs, và
những tôn giáo khác cùng tụ hội ở đây để lắng nghe thông
điệp tinh thần của những truyền thống tôn giáo cá biệt…
Chúng ta hiện đang nắm bắt với những vấn đề trọng đại
của xã hội cần phải được giải quyết hầu có thể mang
lại hòa bình, công lý, và phẩm chất tốt đẹp của đời
sống đến cho mọi người, mọi dân tộc…
Chúng
tôi hân hoan khi thấy rằng một kỷ nguyên lâu dài chiếm lĩnh
bởi niềm kiêu hãnh, và ngay cả thiên kiến cố chấp cục
bộ của những tôn giáo của nhân loại, hy vọng rằng bắt
đầu từ hôm nay sẽ được cáo chung vĩnh viễn.
Chúng
tôi kêu gọi toàn thể cộng đồng tôn giáo của thế giới
hãy xem mình như là những công dân của hành tinh trái đất
này.” (30)
Cũng
trong tinh thần này, một nhà lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng
đã phát biểu rằng: “Vấn đề đoàn kết tôn giáo được
cổ vũ bởi Ðức Thánh Cha Gioan Phaolồ II và đồng thuận
bởi Ðức Ðạt Lai Lạt Ma không phải là một mục tiêu được
đạt đến trong một sớm một chiều, tuy nhiên một ngày nào
đó sẽ đến khi mà tình thương yêu và lòng từ bi vốn được
cả Ðức Phật lẫn Ðức Chúa Giêsu tuyên xưng một cách nồng
nhiệt sẽ hợp nhất thế giới trong một nỗ lực chung ngỏ
hầu cứu vãn nhân loại ra khỏi sự hủy diệt vô nghĩa để
đi đến một ánh sáng chung mà tất cả mọi người cùng tin
tưởng”. (31)
Tinh
thần của hợp tác, trao đổi, đối thoại có nghĩa là có
cho và có nhận. Ta không thể hợp tác, trao đổi, đối thoại
nếu như ta không có gì để cho. “Cái để cho” này chính
là bản sắc độc đáo riêng của mỗi cá thể mà nếu không
có nó, cá thể sẽ không tồn tại lâu dài. Như vậy, vấn
đề đặt ra là Phật Giáo Hòa Hảo có bản sắc gì đặc
biệt để có thể bước vào kỷ nguyên mới một cách mạnh
dạn? Như mọi người đều thấy, ngoài đặc tính phổ quát
là pháp môn Tịnh Ðộ, nội dung giáo lý PGHH có rất nhiều
nét độc sáng làm nổi bật được nét đặc thù chính yếu
của tông phái này. Ðặc tính chính yếu này có thể được
tóm gọn lại trong câu nói của Ðức Thầy xác định tính
chất của người tín đồ PGHH: “Đây là hạng người
học Phật , tu Nhân… Toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng
tại gia cư sĩ.”. Tu theo pháp môn Tịnh Ðộ thì điều rõ
ràng là người tại gia cư sĩ PGHH đã không chọn con đường
giải thoát trong kiếp sống này làm cứu cánh, thế nên:
Tu
đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn
cho rồi cái ÐẠO LÀM NGƯỜI.
Nhưng
mà để làm cho tròn cái “ÐẠO LÀM NGƯỜI” này cũng không
phải là chuyện dễ dàng đơn giản, còn khó hơn cả chuyện
xuống tóc đi vào chùa tu nữa là khác. Chẳng thế mà ca dao
Việt Nam khi sắp hạng các mô thức tu hành đã cho rằng:
Thứ
nhất là tu tại gia
Thứ
nhì tu chợ, thứ ba tu chùa!
Tu
tại gia quả là rất khó thế nên Ðức Thầy đã chỉ ra cho
mọi người một con đường, một mô thức hành hoạt độc
đáo của riêng PGHH, đó là HỌC PHẬT để TU NHÂN. Tu
Nhân là gì nếu không phải là đi trên con đường Bát Chánh
Ðạo để hoàn thành Tứ Ðại Trọng Ân: Ân Tổ Tiên Cha Mẹ,
Ân Ðất Nước, Ân Tam Bảo, Ân Ðồng Bào và Nhơn Loại. Ðây
là lối tu tích cực, nhập thế mà nói cho rộng ra, khi người
Phật tử hoàn tất được gánh nặng Tứ Ân thì cũng có nghĩa
là họ đã hoàn thành chặng đường đầu tiên của con đườngBồ
Tát Ðạo để nhập vào giòng Thánh . Giáo lý TỨ ÂN là nội
dung chính yếu của truyền thống Phật giáo Bữu Sơn Kỳ Hương
do Ðức Phật Thầy Tây An khai sáng mà Ðức Huỳnh Giáo Chủ
đã kế thừa và phát huy một cách hoàn chỉnh, trong đó hai
trọng ân Tổ Tiên Cha Mẹ và Ðất Nước như đã hoà
lẫn, quyện chặt vào nhau, phản ảnh đầy đủ nhân cách
lý tưởng của con người Việt Nam, hai vai gánh nặng món nợ
TRUNG - HIẾU vẹn toàn. Ðây là mẫu người thương dân yêu
nước mang sắc thái dân tộc tính cá biệt, phảng phất đâu
đây trong câu thơ của Ðồ Chiểu:
Thà
đui mà giữ đạo nhà,
Còn
hơn có mắt ông cha không thờ.
Mẫu
người trung hiếu vẹn toàn này đã được thể hiện qua một
nhân vật được người Phật tử Hòa Hảo kính ngưỡng, tôn
thờ: Vị anh hùng Nguyễn Trung Trực, được tôn xưng là Thượng
Ðẳng Ðại Thần, và hàng năm tế tự theo nghi lễ PGHH. Tước
hiệu Thượng Ðẳng Ðại Thần này mới thoạt nghe người
ta tưởng lầm là một tước hiệu phong kiến của vua ban,
nhưng thật ra không phải như vậy, Ðức Thầy đã giải thích
rằng chính Phật tổ đã ban cho Ngài Nguyễn Trung Trực danh
hiệu này vì cảm thương tấm lòng trung với nước, hiếu
với mẹ của Ngài. Chọn Nguyễn Trung Trực như là một nhân
vật biểu trưng để thờ phượng tức là muốn nhấn mạnh
đến tính chất yêu nước của người tín đồ PGHH, thể
hiện qua câu nói bất hủ của Ngài khi ung dung bước chân
ra pháp trường thọ hình: “Khi nào không còn cỏ mọc
trên trên đất nước Việt Nam thì mới hết người Việt
Nam yêu nước.”
Tiến
sĩ Lê Hiếu Liêm, một nhà nghiên cứu về PGHH, trong cuốn
sách mới xuất bản gần đây của ông, “Bồ Tát Huỳnh phú
Sổ và Phật Giáo Thời Ðại”, đã nêu bật tính chất này
như sau:
“Giữa
bao chia rẽ, phân hóa, nồi da xáo thịt bởi ý thức hệ, chủ
nghĩa, tôn giáo, đảng phái, địa phương, chính kiến, giai
cấp… xé nát, phân thây các thế hệ Việt Nam suốt nửa
thế kỷ nay, Huỳnh Phú Sổ đã cất lên cao ý thức hướng
về cội nguồn tổ tiên để hợp nhất quốc dân và ý thức
đồng bào để đoàn kết dân tộc.
Và
đi xa hơn nhân loại, đi trước cả những nhà nhân bản tiến
bộ nhất, với tâm thức cứu độ bình đẳng tất cả nhân
loại chúng sanh của Ðạo Phật, Ông đã gieo truyền ý thức
nhân loại là anh em một nhà, ý thức thế giới là ngôi làng
chung của tất cả chúng ta, trái đất là đất mẹ chung của
tất cả loài người.
…
Thuyết
Tứ Ân xa xưa của Phật giáo được Huỳnh Phú Sổ cầm
đến, một cách nhẹ nhàng, sơ lược như không cầm đến,
đã trở nên mới tinh và có giá trị thời đại, giá trị
toàn cầu, giá trị toàn diện, sâu sắc, không những cho việc
Học Phật Tu Nhân của người Phật tử Việt Nam, mà còn cho
mọi dân tộc, mọi quốc gia và mọi người không phân biệt
biên giới, chủng tộc -những công dân bình đẳng- của thế
giới hiện đại.
Thuyết
Tứ Ân đã đưa đạo Phật cao siêu đến tầm tay của quần
chúng, đưa đạo Phật vi diệu đến ngưỡng cửa cuộc đời
và con đường giải thoát tâm linh huyền bí, tối thượng
trở thành con đường giải phóng dân tộc và xã hội và cá
nhân một cách hiện thực, mà vẫn không mất đi bản chất
siêu thoát của đạo Phật.
Với
thuyết Tứ Ân, người Phật tử được trao cho những trách
nhiệm làm người, làm cha mẹ, làm vợ chồng, làm con cái,
làm công dân ngay trong cuộc đời, đưa Phật pháp đi vào thế
gian để phụng sự gia đình, cuộc đòi, quê hương dất nước
cũng như chúng sanh nhân loại. Học Phật – Tu Nhân mà căn
bản là thực hành Tứ Ân, quả thật là một đường lối
tu hành thích hợp với người Phật tử tại gia, biến cải,
thăng hoa họ thành những người con có hiếu với cha mẹ,
ông bà; thành những người cha, người mẹ có trách nhiệm
với con cái; thành những vợ chồng biết thương yêu lo lắng
cho nhau cũng như thành những công dân đạo đức, yêu nước,
hữu dụng.
…
Nhập
thế triệt để, hành động tích cực và dấn thân toàn diện
trong mọi lãnh vực sinh hoạt xã hội, đó là đặc tính của
nền Phật giáo thời đại, và đó cũng là lời kêu gọi của
thuyết Tứ Ân, của chủ trương Học Phật – Tu Nhân, những
đặc tính quan trọng nhất của PGHH, mà Huỳnh Phú Sổ đã
tiếp nố và thành tựu huy hoàng di sản qúy giá từ Ðức
Phật Thầy Tây An, và của hai ngàn năm Việt-Phật.” (32)
Tất
cả những điều này đã nói lên được bản sắc độc đáo
của PGHH, cái truyền thống Việt-Phật mà người Phật
tử Hòa Hảo sẽ rất hãnh diện và tự hào khi giới thiệu
tôn giáo mình với thế giới rằng, đây là một Ðạo Phật
Việt Nam.
3/-
Vấn Nạn Khủng Hoảng Cơ Cấu
Và
Nhu Cầu Ðào Tạo Mục Sư Hoà Hảo (Minister).
Khung
cảnh xã hội của thời đại hôm nay không còn khung cảnh
xã hội của Phật giáo HH thời tiền bán thế kỷ 20. Những
Phật tử của PGHH thế hệ hôm nay không còn là những tá
điền của thế hệ với phương tiện canh tác cổ lổ của
con trâu đi trước cái cày. Người nông dân của thời đại
ngày nay đã sở hữu những tiện nghi văn minh tối thiểu.
Thế hệ con cái họ có rất nhiều người đã tốt nghiệp
Đại học hoặc trên Đại học. Nói chung, trình độ nhận
thức của cư dân vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long
và điều kiện kinh tế của Việt Nam nay đã khác biệt rất
xa so với bối cảnh thời đại mà PGHH mới khai sanh. Thế
nên tất cả những phương tiện hoằng truyền giáo lý của
PGHH đều cũng phải canh tân, thay đổi cho thích nghi với thời
đại. Hãy lấy một thí dụ cụ thể, nếu như trước đây,
tiếng ngâm của Sấm Giảng vọng lên từ những Độc Giảng
Đường vào những buổi chiều tà có thể thấm đậm vào
hồn người bằng những vần thơ lục bát chuyên chở đạo
lý nhiệm mầu, thì ngày nay, trong một xã hội dân sự, phương
tiện này đã không còn thích ứng, bởi lẽ nó xâm phạm đến
tự do cá nhân của người khác, vì không lý do gì chúng ta
có thể bắt những người không cùng một tôn giáo với mình
phải nghe những tín điều khác với niềm tin tôn giáo của
họ trên những loa phóng thanh công cộng.
Chỉ
từ một thí dụ điễn hình này, người ta đã thấy rằng
không phải chỉ một chuyện đơn giản như phương tiện phổ
thông giáo lý cần phải thay đổi cho thích nghi với thời
đại mà cao hơn thế nữa, mặt cơ cấu tổ chức của PGHH
cũng phải canh cải để phù hợp với nhu cầu truyền đạo
và giữ gìn mối đạo. Từ trước đến nay, tất cả mọi
tôn giáo, để tồn tại và phát triển hầu có thể đóng
góp những lợi ích thiết thực cho xã hội, và nhân sinh không
thể không có những cán bộ toàn thời. Tuy mang những tên
gọi khác nhau như Tăng sĩ, Linh mục, Mục sư,... nhưng tất
cả những người này đều có một mẫu số chung là
chấp nhận hy sinh trọn đời cho lý tưởng phục vụ tha nhân
theo tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Ở những tôn giáo khác,
tất cả những cán bộ toàn thời này đều được đào tạo
một cách chính quy và có hệ thống thông qua những Đại,
Tiểu Chủng viện, những Trung Tâm Thần học hay là những
Phật học viện. Nhìn lại Phật Giáo Hoà Hảo, tuy được
xem như là một tôn giáo, hơn thế nữa, một tôn giáo dân
tộc, nhưng cho đến nay, một sự thực đáng buồn mà bất
cứ ai quan tâm đến tiền đồ của PGHH đều không khỏi nặng
lòng suy nghĩ là, từ trước đến nay PGHH mới chỉ có các
cơ cấu Ban Trị Sự để giải quyết những công việc thế
tục nhưng vẫn chưa có được một trung tâm đào tạo tu sĩ
cho riêng tôn giáo mình. Thế nên, để lấp đầy khoảng trống
lớn lao này, để PGHH không bị lâm vào tình trạng tụt hậu
so với các bộ phận dân tộc khác, một Phật Học Viện Phật
Giáo Hòa Hảo (PHV-PGHH) phải được hình thành đặt nền móng
khởi đầu cho việc đào tạo chính quy một thế hệ Tu sĩ,
Mục sư PGHH hoạt động toàn thời có trình độ căn
bản trên cả ba mặt Thế học, Phật học và Giáo Lý Phật
giáo Hoà Hảo. Đây là một yêu cầu cấp thiết và sinh tử
của PGHH trong giai đoạn hiện nay và Phật Học Viện Phật
Giáo Hoà Hảo vì thế sẽ đóng vai trò như là chiếc cầu
nối liền hiện tại với tương lai, đưa PGHH tiến lên một
vị thế tôn giáo ngang tầm thời đại.
Là
một tu viện Phật giáo, Phật Học Viện PGHH đặt trọng tâm
phát huy hai phẩm tính căn bản của đạo Phật là TỪ BI và
TRÍ TUỆ. Tuy nhiên tinh thần từ ái bao dung của đạo Phật
phải là yếu tố chủ đạo trong việc đào tạo một thế
hệ lãnh đạo tinh thần có năng lực và phẩm chất, một
mẫu người biết thực hiện trọn vẹn tinh thần từ bi và
trách nhiệm đối với đồng loại, muôn loài và môi trường
sinh sống. Thể hiện tinh thần nhân bản, tự do, và khai phóng
của đạo Phật, Phật Học Viện PGHH cũng sẽ là nơi tạo
mọi điều kiện thuận lợi cho người tu sĩ PGHH tương lai
triển khai tinh thần nghiên cứu, phân tích và phê phán một
cách độc lập. Đây chính là yếu tố cơ bản cho sự
phát triển TRÍ TUỆ, phù hợp với tinh thần chung của Đại
Học trên toàn thế giới, và là một nỗ lực đóng góp tích
cực nhất của cộng đồng Phật Giáo Hoà Hảo vào sự tiến
bộ chung của đất nước và của cả khu vực, bây giờ và
mai sau. Để đạt được mục đích này, nội dung đào tạo
của Phật Học Viện PGHH sẽ được khai triển đồng đều
trên cả ba mặt: Thế học, Phật học và Phật Giáo Hoà Hảo
học, đặc biệt là nỗ lực vận dụng giáo lý PGHH vào đời
sống thực tiển như đã được vạch ra trước đây bởi
Ðức Thầy khi trả lời một cuộc phỏng vấn dành cho báo
“Nam Kỳ” ngày 29-11-1946: “Theo sự nhận xét của tôi về
giáo lý nhà Phật do nơi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật đã khai
sáng lấy chủ nghĩa từ bi bác ái đại đồng đối với tất
cả chúng sanh làm nòng cốt thì tôi nhận Ngài là một nhà
cách mạng triệt để về tư tưởng... Giáo lý đó, Đức
Thích Ca Mâu Ni không áp dụng được một cách thiết thực
trong đời của Ngài là do nơi hoàn cảnh của xã hội Ấn
Độ xưa không thuận tiện. Ngày nay, trình độ tiến hóa của
nhơn loại đã tới một mực khả quan, đồng thời với tiến
bộ về khoa học thì ta có thể thực hành giáo lý ấy để
thiệt hiện một xã hội công bằng và nhơn đạo. Thế nên
với cái tâm hồn bác ái, từ bi mà tôi đã hấp thụ, tôi
sẽ điều hoà với phương pháp tổ chức xã hội mới, để
phụng sự một cách thiết thực đồng bào và nhân loại”.
(33) Đây chính là tinh thần thể hiện Đạo vào Đời, hay
nói một cách khác, “Học Phật đạo, hành Bồ Tát đạo”.
Tinh thần này chính là yếu tính của Phật Giáo HH, bàng bạc
trong suốt các thi, kệ còn lưu lại của Đức Huỳnh Giáo
Chủ: Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm, Kệ Dân Của
Người Khùng, Sám Giảng, Giác Mê Tâm Kệ, Khuyến Thiện, và
Các Thi Văn Giáo Lý Khác của Đức Huỳnh Giáo Chủ...
Thật
ra công việc đào tạo những nhà mục sư Phật giáo (minister)
cũng không phải là điều gì quá mới mẻ. Gần một ngàn
năm trước đây, một tông phái Phật giáo Nhật Bản có những
nét rất tương đồng với PGHH đã làm công việc này và làm
rất thành công, đó là tông phái Tịnh Ðộ Chơn Tông
(Jodo Shinshu). Thành lập năm 1224 bởi Ngài Thân Loan (Shinran,
1173-1263), giáo phái Tịnh Ðộ Chơn Tông đã tách rời khỏi
truyền thống Phật giáo kinh viện cổ điển để hướng vào
tầng lớp quần chúng đông đảo tại nông thôn và đã được
sự đáp ứng nồng nhiệt của họ. Chỉ trong một thời gian
ngắn ngủi, phong trào Tịnh Ðộ cư sĩ này đã được truyền
đi nhanh chóng từ người này đến người khác, làng nọ đến
làng kia, thu hút hàng trăm ngàn Phật tử chỉ trong vòng
vài tháng. Tông phái Tịnh Ðộ Chơn Tông hiện có hàng chục
triệu tín đồ tại Nhật Bản và đang phát triển mạnh mẽ
trên thế giới, kể cả các quốc gia phương Tây.
Ngài
Thân Loan nguyên là một tăng sĩ Phật giáo thiền tông, đệ
tử của ngài Jichin, một thiền sư nổi tiếng vào bậc nhất
của Phật giáo Nhật Bản thời bấy giờ. Sau hơn hai mươi
năm tinh tấn tu tập tại tu viện trên núi Hiye nhằm hướng
đến con đường giải thoát, Ngài đã không tìm thấy một
ánh sáng kết quả nào nên đến năm thứ ba mươi, sau hơn
một trăm đêm thiền định, đã dứt khoát quyết định cởi
áo xuống núi. Trên đường đi, Ngài đã gặp lại một người
bạn cũ cũng là một tăng sĩ, môn đệ của Thánh giả Pháp
Nhiên (Honen), được coi như là vị tổ sư đương thời của
tông phái Tịnh Ðộ Nhật Bản, truyền cho pháp môn này và
rồi sau đó đã trở thành một đệ tử hữu hạng của Ngài
Pháp Nhiên. Sau này khi phái Tịnh Ðộ Chơn Tông ra đời, Ngài
Thân Loan đã cho biết sứ mạng của mình là nhận chịu sự
ủy thác của hai vị Bồ Tát Quan Âm và Thế Chí để rao truyền
hạnh nguyện nguyên thủy của Ðấng Giải Thoát là pháp môn
Niệm Phật. Ngài Thân Loan còn đi một bước quyết liệt hơn
khi cho rằng ý nghĩa và giá trị đích thực của sự truyền
thừa giới luật đã hoàn toàn mất dấu trong hàng ngũ
Tăng già Nhật Bản, mà theo ông “Tỳ kheo chỉ còn trong danh
nghĩa chứ không còn trong giới luật” vì “nếu thọ giới
mà không giữ giới thì thà là không thọ giới.” Chính bắt
nguồn từ nhận định này mà Ngài Thân Loan cổ xúy cho một
loại hình tu sĩ Phật giáo mới, “không phải Tăng mà không
phải tục”, tức là hình thái Mục sư Phật giáo (Minister)
như ta thấy hiện nay. Nét đặc thù chính yếu của vai trò
Mục sư được bắt nguồn từ cách nhìn của Ngài Thân Loan
khi nhận ra tính cách tiêu cực của khuynh hướng HƯỚNG NGÃ
của một vị Thầy trong khi giảng pháp. Ông đã nhận ra một
điều là mặc dù chúng ta lúc nào cũng tự cho rằng mình là
người đại diện cho chân lý, nhưng trong thực tế chúng ta
lại luôn luôn đem cái NGÃ của mình ra để áp đặt lên tha
nhân. Ý nghĩa quan trọng nhất của vai trò Mục sư Phật giáo
vì thế là sự canh cải trong tương quan đối đải giữa người
giảng đạo và bổn đạo: KHÔNG XEM HỌ NHƯ LÀ NHỮNG VẬT
SỞ HỮU CỦA MÌNH, mà tất cả đều chỉ là những ÐỒNG
ÐẠO, đều bình đẳng trong niềm tin vào Ðức Phật A Di Ðà.
Chính bản thân của Ngài Thân Loan cũng không có đệ tử vì
không nhận đệ tử.
PGHH
đã không có một thái độ quyết liệt như Tịnh Ðộ Chơn
Tông của Nhật Bản là hoàn toàn phủ nhận vị trí của Tăng
Bảo. Ðức Huỳnh Giáo Chủ trong khi thuyết giảng về Tứ
Ân đã nhấn mạnh đến ÂN TAM BẢO (Phật - Pháp- Tăng) như
là một trong những nền tảng cơ bản của giáo lý PGHH. Tuy
nhiên như đã nói ở trên, do nhu cầu truyền đạo và giữ
gìn mối đạo, PGHH cần có một loại hình tu sĩ hoạt động
toàn thời mà mô thức Mục sư (Minister) của Tịnh Ðộ Chơn
Tông Nhật Bản là một trong những khuôn mẫu đáng noi theo.
Ngoài những đặc tính chính yếu nói trên, người Mục sư
PGHH trong thời đại ngày nay, bên cạnh chức năng tôn giáo,
còn đóng vai trò như là một nhà cố vấn (counselor) cho những
đồng đạo của mình trong các lãnh vực tâm lý, xã hội…
Ðược quyền lập gia đình, sống hòa mình với xã hội đầy
sinh động, người Mục sư PGHH có những mặt thuận lợi hơn
một vị Tăng sĩ Phật giáo là họ có thể nắm bắt dễ dàng
những ước mơ, nguyện vọng của con người trong cuộc sống
đời thường, sống gắn bó với họ để hướng dẫn họ
một cách tích cực trên con đường tiến dến giải thoát.
Ngoài ra một khía cạnh tích cực khác của vị Mục sư, là
do được lập gia đình, họ không bị lâm vào cuộc khủng
hoảng tình dục gây nên bởi giới luật bắt buộc độc thân
của đời sống tu sĩ. Cuộc khủng hoảng và những tai tiếng
về tình dục trong giới tu sĩ Thiên Chúa Giáo La Mã tại Hoa
Kỳ hiện nay, như mọi người đều biết hiện đang làm rung
chuyển Toà Thánh Vatican. Với trên 2,000 Linh mục bị cáo buộc
về tội sách nhiễu tình dục (34) và trước áp lực mạnh
mẽ của dư luận, Ðức Hồng Y Bernard Law của giáo phận Boston
không những đã phải bỏ ra 30 triệu đồng để dàn xếp
những vụ thưa gởi mà rồi cuối cùng cũng đã phải từ
chức vì dư luận kết án rằng Ngài đã bao che cho tệ trạng
này. Không phải chỉ riêng Thiên Chúa giáo mà giới Tăng sĩ
Phật giáo cũng không thoát khỏi tình trạng tai tiếng về
tình dục. Mới đây, hai vị sư Chủ tịch Ðiều hành lẫn
vị Tổng Thư Ký của Giáo Hội Phật giáo Thái Lan, hai nhân
vật thực sự có quyền hành nhất của Giáo hội được coi
như là Quốc giáo của Thái Lan đã bị tố cáo về
các tội biển thủ, thâm lạm hàng chục triệu đô la
của công qũy để bao gái, hoặc có vợ riêng, hoặc đi chơi
điếm… và ngay tại Hoa Kỳ, chỉ nội trong cộng đồng Phật
giáo Việt Nam cũng không thiếu những tăng sĩ người Việt
đã bị đưa ra tòa, vào tù về tội sách nhiễu tình dục,
tai tiếng về mặt này đã liên quan đến cả những hàng giáo
phẩm cao cấp, ngôi vị Hoà Thượng! Trong tình hình này, vấn
đề đào tạo mục sư cho PGHH lại càng trở nên một nhu cầu
cấp bách và có nhiều thuận lợi hơn.
Đáp
ứng đúng những yêu cầu của thời đại, lịch sử và tôn
giáo, cũng như lòng mong chờ khát vọng của đại khối quần
chúng PGHH, sự ra đời của Phật Học Viện PGHH là một đáp
số tất yếu. Đây là một xu hướng tất nhiên, một kết
quả chín mùi của một tôn giáo có quá trình phục vụ cho
lợi ích của nhân quần, xã hội, Phật Học Viện PGHH do đó
chắc chắn sẽ được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của toàn
thể Phật Giáo đồ chứ không phải chỉ riêng tín đồ PGHH
và nhất định sẽ tiến những bước vững chắc vào tương
lai, tiếp tục duy trì ngọn đuốc thiêng trí tuệ và sứ mệnh
tôn giáo mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đã khai sáng gần bảy mươi
năm qua. Ðể đạt được mục tiêu này, người Phật tử
Việt Nam không thể không nhớ lại lời khẳng định của
Ngài Thái Hư Đại Sư trước đây trong phong trào Chấn Hưng
Phật Giáo: “Nguồn chủ lực và hướng hổ trợ cho Phong
Trào Cách Mạng Tôn Giáo chỉ còn trông cậy vào các hàng cư
sĩ hữu tâm, kiên trì và có khả năng.”
Tâm
Hà Lê Công Ða
CHÚ
THÍCH
(1)
Lịch Sử Phật Giáo Trung Quốc. HT Thích Thanh Kiểm. Vạn Hạnh
xb, 1965. Tr. 263-264.
(2)
Lịch Sử Tranh Đấu Phật Giáo Việt Nam. Tập I. GS Kiêm Đạt.
Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản. 1981. Tr. 50.
(3)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến
Thiện. Tr. 118.
(4)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến
Thiện. Tr. 118
(5)
Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc. Nguyễn Long
Thành Nam. Tr. 161-162.
(6)
“Một vài ý kiến về việc cải cách điền địa ở Bắc
Việt.” Tri Tân. Số 3. 1951.
(7)
Việt Nam Pháp Thuộc Sử. Phan Khoang. Tr. 451.
(8)
Việt Nam Pháp Thuộc Sử. Phan Khoang. Tr. 480.
(9)
“Tặng Thi Sĩ Việt Châu”. Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của
Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tr. 454.
(10)
Những Điều Sơ Lược Cần Biết của Kẻ Tu Hiền. Sấm Giảng
Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tr. 145-146.
(11)
Phật Giáo Hòa Hảo Trong Dòng Lịch Sử Dân Tộc. Nguyễn Long
Thành Nam. Tr. 235.
(12)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Sứ
Mạng của Đức Thầy. Tr. 19.
(13)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến
Thiện. Tr. 123.
(14)
Niệm Phật Thập Yếu. HT Thích Thiền Tâm. Tiết 21. Tr. 117.
(15)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến
Thiện. Tr. 123.
(16)
Luận Ðại Thừa Khởi Tín. Bồ Tát Mã Minh. HT Thích Thiện
Hoa dịch. Hương Ðạo xb, 1962. Tr. 190.
(17)
Mấy Ðiệu Sen Thanh. HT Thích Thiền Tâm dịch. An Tường tái
bản, 1997. Tr. 11.
(18)
Vãng Sinh Luận. Bồ Tát Thế Thân. TT Nhất Chân dịch. Chùa
Ðức Viên xb. Tr. 5.
(19)
Lá Thư Tịnh Độ. Đại sư Ấn Quang. Liên Du dịch. Chùa Đức
Viên Xb. 1997. Tr. 151.
(20)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ.
(21)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Giác
Mê Tâm Kệ 105.
(22)
Kinh Niệm Phật Ba La Mật. HT Thích Thiền Tâm dịch. Chùa Đức
Viên xb. 1997. Tr. 30.
(23)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến
Thiện. Tr. 126.
(24)
Vãng Sinh Luận. TT Nhất Chân. Chùa Ðức Viên xb.
Lời Tựa.
(25)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Khuyến
Thiện. Tr. 123-124.
(26)
A New Christianity for a New World. John Shelby Spong. HarperCollins xb.
2001. Lời Nói Ðầu. Tr. xxi. Ðồng thời xem thêm Tr. 1-2-3.
(27)
Beyond Dogma. HH The Dalai Lama. Rupa & Co. India xb. Tr. 184-185.
Xem thêm bản dịch Việt ngữ “Vượt Khỏi Giáo Ðiều”
của Tâm Hà Lê Công Ða: http://www.quangduc.com/triet/47vkgiaodieu.html
(28)
Xem Tuyên Ngôn và Chương Trình của Việt Nam Dân Chủ Xã Hội
Ðảng. Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ,
Tr. 468-469.
(29)
HT Thích Minh Châu. Trích lược bài phát biểu“Ðạo Phật
và nền trật tự đạo đức mới” tại cuộc hội thảo
"Ðạo Phật và sự lãnh đạo về hòa bình"
tổ
chức tại Ulan Bato, Mông Cổ, từ ngày 15 đến ngày 20 tháng
8 năm 1989. http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-vbud/vbpha064.htm
(30)
Catholic Register. Toronto, Canada. Sept 21, 1974.
(31)
Tibetan Review, được trích dẫn lại bởi Catholic World, số
tháng 5/6 năm 1989, Tr. 140.
(32)
Bồ Tát Huỳnh Phú Sổ và Phật Giáo Thời Ðại. Lê Hiếu
Liêm, Tr. 182-183-184.
(33)
Sấm Giảng Thi Văn Toàn Bộ của Đức Huỳnh Giáo Chủ. Tr.
481. Trích lục bài phỏng vấn của tác giả Hồn Quyên, báo
“Nam Kỳ” ngày 29-11-1946
(34)
Báo cáo của Tuần báo Time, Số 1-4-2002, Tr. 30.
 |