Bất
kỳ tôn giáo, giáo phái, hay học thuyết nào xuất hiện trên
đời, cũng đều có lập trường, tư tưởng và mục đích
riêng. Mỗi trường phái đều có nhận xét, đánh giá
của mình về các trường phái khác. Ở đây, bằng cái nhìn
của một người theo đạo Phật, chúng ta thử phân tích đường
lối hành đạo của giáo phái Thanh Hải. Điều đầu tiên
chúng ta nên tìm hiểu là Pháp Môn Quán Âm của họ.
Mục
tiêu chung của phần lớn các tôn giáo là giải thoát con người
khỏi cảnh khổ trần gian, để đến một nơi chốn nào đó
hạnh phúc, bình yên đời đời. Nhưng, muốn được giải
thoát thì con người phải trải qua một tiến trình tu tập,
như học hỏi giáo lý, tế lễ, tư duy, thiền định và giữ
gìn giới luật của môn phái.
Giáo
phái Thanh Hải cũng có những hình thức có vẻ tương tự,
mà mới nghe nói qua, ai cũng tưởng giống đạo Phật hay một
đạo nào khác, cũng giữ năm giới, cũng ăn chay, cũng ngồi
thiền…v…v… Thấy thì có vẻ như vậy, nhưng thực tế
lại không phải vậy.
Trong
phạm vi bài viết này chúng tôi đề cập phần lớn đến
việc hành thiền tức tu tập Pháp Môn Quán Âm, mà bà
Thanh Hải đã mập mờ mượn tên một pháp tu của đạo Phật.
Tuy là tên pháp tu thì có vẻ giống, nhưng nội dung cũng như
phương pháp hành trì thì hoàn toàn khác hẳn.
Trước
hết chúng ta hãy nghe chính bà Thanh Hải nói về pháp môn này
như sau:
“…Mọi
người đều có “Thượng Đế Bên Trong”, và bí quyết để
câu thông cùng Thượng Đế ấy, qua đó đạt giác ngộ, là
vô cùng đơn giản: Giữ ngũ giới, và hàng ngày tọa thiền
2 tiếng rưỡi. Giữ giới và thiền như thế tức là tu tập
Pháp Môn Quán Âm, tập cho đến khi nghe và thấy được…Âm
Thanh Thiên Đàng và Ánh Sáng Thiên Đàng là đắc đạo…Pháp
Môn Quán Âm Là pháp môn cứu cánh nhất…Phương pháp quán
"Ngôi Lời" bên trong, Âm thanh nội tại và Ánh sáng thiên đàng
bên trong. Đây là phương pháp tốt nhất và tối thượng bởi
vì cuối cùng chúng ta phải đến với ánh sáng của Thượng
Đế và "Thánh Âm" của Ngài để đạt được trí huệ…Quý
vị sẽ thấy ánh sáng và nghe âm thanh ngay vào lúc được
truyền Tâm Ấn. Với những phương pháp khác quý vị phải
tốn rất nhiều thời gian hay nhiều năm, và phải chịu nhiều
khổ hạnh hay hy sinh mới đạt được đến đó…” (01)
Bà
Thanh Hải đã mập mờ chế biến pháp môn của bà ta bằng
những từ ngữ có vẻ như tương tự với pháp môn tu của
Bồ Tát Quán Thế Âm, vốn có tên gọi là Nhĩ Căn Viên
Thông, được giới thiệu trong kinh Thủ Lăng Nghiêm
(02), thành Pháp Môn Quán Âm, khiến cho một số người
không đọc kinh Phật, cứ tưởng bà ấy đang truyền bá đạo
Phật theo pháp môn tu hành của ngài Bồ Tát Quán Thế Âm.
Pháp
môn của Bồ Tát Quán Thế Âm trong đạo Phật là phương pháp
phản văn văn tự tánh (không xuôi dòng đuổi theo âm thanh
mà trở ngược lại tánh nghe) tức là từ cái nghe để trở
về tự tánh của mình. Trong pháp tu này, hành giả tuyệt đối
không dùng tai để nghe. Nếu còn dùng tai để nghe là
chạy theo âm thanh sắc tướng.
Hoà
thượng Thích Thiện Hoa khi giải thích về phương pháp tu của
ngài Bồ Tát Quán Thế Âm đã cho biết: (1) Bắt đầu từ
khi cái nghe đối với thanh trần không khởi phân biệt theo
thanh trần, nên thanh trần tự vắng lặng; xong còn cái nghe.
(2) Đến giai đoạn thứ hai là cái nghe (năng, sở) cũng
hết, xong còn cái hết. (3) Đến tầng thứ ba không chấp ở
nơi hết, xong còn cái biết hết. (4) Đến tầng thứ tư là
cái biết đó cũng không, xong còn cái không. (5) Nên đến tầng
thứ năm là cái không đó cũng không còn. Lúc bấy giờ các
cái vọng niệm phân biệt chấp trước đều hết, thì chân
tâm thanh tịnh tự hiện bầy; cũng như các cặn đục đã
hết, thì tánh nước trong tự hiện. Mười phương các đức
Phật hay các vị Đại Bồ Tát tu hành, chỉ có một con đường
duy nhất là trừ hết vọng thì chân hiện bầy, như lau gương
sạch bụi, thì ánh sáng tự hiện, thế gọi là thành Phật,
hay là chứng Đại Niết Bàn (03).
Còn
cách tu mập mờ của Thanh Hải rất khác thường. Theo một
nhà nghiên cứu tôn giáo Đông phương cho biết lối tu Quán
Âm của Thanh Hải không phải xuất xứ từ đạo Phật mà
chính là của Sant Mat
hay còn có tên gọi khác là Surat Shabd
Yoga và vị Thầy truyền cho Thanh Hải
là Sant Thakar Singh(March
26, 1929 - March 6, 2005), được biết đến
với cái tên là
Sant
Mat Master. Ông đã truyền phương
pháp ấn tâm, năm câu chú hay năm danh hiệu God, và pháp
tu “Thanh Sắc Quang Ảnh” cho đệ tử Thanh Hải trước
khi rời Ấn Độ (04). Điều này được xác nhận bởi
Hoà Thượng Tiến Sĩ Thích Tịnh Hạnh, Viện Trưởng Học
Viện Phật Giáo Trung Hoa Dân Quốc (05).
Trong
thời kỳ ban đầu truyền đạo, Thanh Hải đã thừa nhận
Thakar
Singh là Sư Phụ, nhưng sau đó đã
phủ nhận và cho biết lối tu này do chính Thanh Hải sáng tạo
sau khi tu luyện ở Hy Mã Lạp Sơn về. Phương pháp tu
này do một đệ tử ly khai (06) của Thanh Hải kể chi tiết
cách thực hành như sau:
“Trong
những lần hành thiền đầu tiên, tôi được chỉ bảo là
niệm danh hiệu Sư phụ “Suma Ching Hai” trong khoảng nửa
giờ mỗi ngày. Tôi cũng được bảo phải từ bỏ ăn
thịt, cá và trứng. Sau một tuần, tôi được Sư phụ truyền
tâm ấn. Từ lúc đó ăn chay trường và giữ năm giới cũng
như hành thiền hai tiếng rưỡi mỗi ngày. Trong lúc thiền
tôi niệm thầm liên tục năm danh hiệu God và tập trung tư
tưởng vào con mắt thứ ba ở vùng giữa trán phía trên sóng
mũi, và đồng thời dùng hai ngón tay cái bịt kín vào lỗ
tai, ngón tay giữa chận mí mắt ngoài, ngón tay trỏ chận vào
góc trán, cả hai bên trái phải để lắng nghe những âm thanh
lạ lùng kỳ bí, những âm nhạc thiên đường. Tôi đã
không nghe gì cả, không thấy gì cả. Tôi cũng được
bảo là cứ ngồi như vậy sẽ nghe được âm thanh, sẽ thấy
ánh sáng. Khi thiền phải dùng tấm khăn hay tấm blanket phủ
kín người để người khác không trông thấy. Năm danh hiệu
God là: Dốt Nê Răng Danh, Ông Ca, Ra Rông Ca, Sô Hăn và Sát
Nam. (jyot naranjan, onkar, raronkar, sohang, satnam). Thực tôi không
biết đánh vần chính xác bởi vì chỉ được truyền khẩu
mà thôi. Tôi được yêu cầu là chỉ niệm thầm và tuyệt
đối không được nói cho ai biết năm danh hiệu này”.
Người
viết đã phối kiểm với hai người bạn đã từng theo bà
Thanh Hải về lối tu cũng như về danh hiệu năm vị God nầy
và được xác nhận là đúng như trên. Họ cũng cho biết,
trong quyển chỉ dẫn cho đệ tử truyền tâm ấn có nhắc
đến việc niệm 5 danh hiệu nhưng không nói rõ tên. Người
viết cũng tra tự điển các tôn giáo ở Ấn Độ tìm xem nhưng
chỉ biết vị God thứ năm Satnam là một đấng tối cao của
giáo phái Sikh ở Ấn Độ. Như
vậy có thể nói rằng giáo phái Thanh Hải có nguồn gốc từ
Surat Shabd Yoga (Sant Mat) ở Ấn Độ, chứ không phải từ Phật
Giáo. Thanh Hải chỉ mượn tên Phật Giáo để đánh lừa
dư luận mà thôi.
Pháp
môn Quán Âm tức Nhĩ Căn Viên Thông của đạo Phật
là phản văn văn tự tánh, là dứt
vọng trở về chơn, còn lối tu Quán
Âm của Thanh Hải là từ vọng chạy
theo vọng. Theo kinh Kim Cang thì kẻ
“lấy âm thanh sắc tướng cầu Phật, là kẻ theo tà đạo,
không thể thấy được Phật (07). Theo kinh Thủ Lăng Nghiêm,
người hành trì do dụng tâm thái quá mà thấy hình sắc, nghe
âm thanh, tất cả đều là giả, nếu tin tưởng đó là thực,
là kết quả tu hành thì lạc vào ma đạo (08). Hai điều
dẫn chứng kinh này xác định rõ
đường lối tu hành của giáo phái Thanh Hải không phải là
pháp tu của Phật giáo.
Chưa
hết, Thanh Hải còn phủ nhận luật Nhân Quả, bằng cách giúp
“rửa sạch trong khoảnh khắc tất cả nghiệp chướng
từ những kiếp trước của đệ tử” khi nói rằng “Lúc
thọ Tâm Ấn, tất cả những nghiệp chướng trong quá khứ
của đệ tử đều được tiêu trừ” (09). Trong một
bài giảng khác, Thanh Hải giải thích điều đó như sau:
“Chỉ
có Minh Sư khai ngộ (Thanh Hải) mới có thể vào những nơi
mà tất cả các hồ sơ được giữ gìn cẩn thận. Công việc
của những vị này (Minh Sư) là xóa bỏ hoàn toàn tất cả
những nghiệp chướng nhân quả xa xưa đó. Nếu không, chúng
ta có tu hành giải thoát cũng vô ích mà thôi… Dù có siêng
năng thờ Phật bao nhiêu đi nữa cũng không bao giờ đủ. Dù
học tất cả các kinh điển vẫn không thể khai mở trí huệ,
bởi vì những đám mây tăm tối của nghiệp chướng từ những
kiếp trước đang bao phủ chúng ta. Đọc đi đọc lại kinh
điển cũng vẫn như mù! Dù viết rất là rõ ràng, chúng ta
vẫn không hiểu ý nghĩa của nó, vì chúng ta đã bị rác rến
và nghiệp chướng làm mù quáng”. (10)
Ngoài
ra, Thanh Hải còn tự xưng là Phật hiện tiền, có nghĩa là
Phật sống. Điều này cho biết “đây là một đại
vọng ngữ, rất nặng, chỉ có kẻ hành ma đạo mới dám nói
như vậy mà thôi” (11). Trong kinh Lăng Nghiêm Đức
Phật đã dạy các đệ tử của Ngài là nếu có thị hiện
để cứu độ chúng sanh, thì chẳng bao giờ nói: “Ta đây
thật là Bồ Tát hoặc A La Hán v.v… hay tỏ ra một vài cử
chỉ gì làm tiết lộ sự bí mật, để cho người ta biết
mình là Thánh nhơn thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi,
các vị ấy mới âm thầm để lại một vài di tích cho người
biết thôi” (12). Cho nên nói rằng Thanh Hải là Vô
Thượng Sư, là Phật sống và những lời giảng dạy của
bà ta là giáo lý thì hoàn toàn không
đúng vì tất cả những lời giảng
của Thanh Hải không có gì mới lạ, chỉ là sự cóp nhặt
rồi pha trộn thuật ngữ của một số tôn giáo, trong đó
có Bà La Môn, Phật Giáo, và Thiên Chúa Giáo. Nhiều khi bà
ta chỉ nhắc đến tên kinh Phật để người nghe lầm tưởng
là bà ta thông hiểu giáo lý nhà Phật.
Trong
quyển sách: "Thí Luận Tuyên Hóa Lão Hòa Thượng Đích
Phật Học Cống Hiến đăng trên nguyệt san Vajra
Bodhi Sea từ số tháng 6, 1996 đến số tháng 10, 1997.
(http://www.dharmasite.net/thiluan.htm#2d)
Hoà Thượng Tuyên Hoá đã khai thị:
"Về
vấn đề có liên quan đến "Ngoại đạo trong Phật Pháp",
đa số đoàn thể Phật giáo không muốn công khai phân biệt
giữa tà và chánh, điều này giúp cho những kẻ "không chân
chánh trong Đạo Phật và những kẻ ngoại đạo" lợi dụng
ngày một nhiều hơn. Với ý xấu và xảo quyệt, ho lừa gạt
tiền bạc của kẻ khác và lừa người khác phạm những hành
vi dâm duc - trong khi mặc áo của Phật và ăn cơm Phật. Tôi
sẽ đưa ra hai vị có tên tuổi được nhiều người biết
đến. Một vị là nữ
đạo sư đạo Sikh ở Ẩn Độ. Bà ta tự xưng là "Phật tái
thế đã khai ngộ" và đi truyền "Pháp môn Quán âm - tức khắc
khai ngộ và giải thoát ngay trong kiếp này".
HT
đã nghiêm khắc chỉ trích:
"Nhiều
kẻ bị bà làm cho lầm lạc chỉ vì tham lam. Khi quy y Tam Bảo,
bài văn trong buổi lễ nói rất rõ ràng, 'Con
thà xả bỏ thân mạng nầy quyết không quy y với thiên ma
ngoại đạo.' Những điều bà nói
ra là lời tà thuyết của thiên ma
ngoại đạo, và tất cả đều nhằm mục đích dõi gạt người,
nếu quý vị tin những điều đó, quý vị thật ngu xuẩn,
vô tri, và quý vị tự đào đường xuống địa ngục."
Thật
là một lời mạnh mẽ: "tự đào đường đến địa
ngục." Hòa Thượng không tự chế ra những lời này.
Ngài luôn luôn "chỉ thẳng tâm người", nói ngắn gọn trúng
vào điểm chánh để phá tan vô minh và mê lầm của chúng
sanh
Nói
tóm lại, pháp môn Quán Âm của giáo phái Thanh Hải không
phải là của Phật Giáo và người đứng đầu giáo phái là
Thanh Hải cũng chẳng phải là Phật sống như Thanh Hải đã
tự xưng.
Tuy nhiên, nếu không nói thêm về thân thế và hành động
của bà ta thì e vẫn còn chưa phác hoạ hết nét vẽ của
một bức tranh nhiều mầu sắc.
Tên
thực của Thanh Hải là Trịnh Đăng Huệ sinh ngày 12 tháng
5 năm 1950 tại Đức Phổ, Quảng Ngãi, miền Trung Việt Nam.
Khi học tới lớp 11 vào năm 19 tuổi thì cô Huệ rời Việt
Nam đi qua Anh Quốc (có tài liệu nói 22 tuổi), rồi qua Pháp,
qua Đức. Trong thời gian ở Tây Đức , cô Huệ làm nghề
thông dịch viên cho Hội Hồng Thập Tự và lập gia đình với
một bác sĩ y khoa người Đức.(13) Ở Đức, cô Huệ
thọ Tam Quy Ngũ Giới với thầy Thích Như Điển. Thầy
ban cho pháp danh là Thị Nguyện. Thầy Như Điển hiện nay là
Thượng Toạ Viện chủ chùa Viên Giác. Chẳng bao lâu
sau, cuộc hôn nhân dị chủng tan vỡ, cô Huệ, pháp danh Thị
Nguyện qua Ấn Độ xuất gia, trước tiên là với các vị
Lạt ma Tây Tạng, sau theo học với một người Ấn Độ đạo
Sikh tên là Jampa Ghesbe Ngawang Dargey và người kế tiếp là
Thakar
Singh, một giáo sĩ thuộc dòng Surat
Shabd Yoga (Sant Mat) và chính vị này đã truyền pháp “Thanh
Sắc Quang Ảnh” (Light and Sound Meditation) cho Thị Nguyện.
Năm
1983 Thị Nguyện đến Đài Loan thọ giới Tỳ Kheo Ni tại một
Đại Giới Đàn ở Đài Bắc thuộc Giáo Hội Phật Giáo Đài
Loan. Trong thời gian trước khi thọ giới, Thị Nguyện
được gởi đến Linh Sơn Phật Học Viện tại Đài Bắc của
thầy Thích Tịnh Hạnh để tá túc học tập vì Thị Nguyện
là người Việt Nam. Nơi đây thầy Tịnh Hạnh ban cho
pháp hiệu là Thanh Hải.(14)
Thanh
Hải là người thông minh, đoán biết được thị trường
tâm linh của người Trung Hoa và cộng đồng Việt Nam ở nước
ngoài cũng như các nước Tây phương, có nhiều cơ hội hấp
dẫn để truyền đạo cũng như tạo danh và lợi riêng, nên
giống như Osho, Thanh Hải tung ra một chiêu bài nhiều hấp
dẫn với những người trong đạo và ngoài đạo Phật muốn
giác ngộ tức thời, muốn mau kiến tánh thành Phật.
Đó là những lời hứa hẹn “tức khắc khai ngộ một đời
giải thoát” bằng một lối tu giản dị mà Thanh Hải đã
mang về từ Ấn Độ.
Trong
thời gian ở Đài Loan Thanh Hải mang danh một Sư cô Phật giáo
mặc áo vàng, đầu trọc, chống gậy tích trượng, tự xưng
là Phật hiện tiền đi giảng đạo (Surat Shabd Yoga) nhưng
mang nhãn hiệu Phật Giáo “Pháp Quán Âm” và truyền
tâm ấn. Thanh Hải cũng độ cho người nam xuất gia thọ Tỳ
Kheo giới làm đệ tử của mình. Những việc này đã
tạo sự bất bình sâu rộng trong Giáo Hội Phật giáo Đài
Loan và cộng đồng Phật tử ở đảo quốc này thời bấy
giờ.
Sau
đó Thanh Hải sang Hoa Kỳ đặt bản doanh tại thành phố El
Monte ở miền Nam California và đi thuyết giảng khắp vùng đông
dân cư Việt Nam, rồi đi Boston, New York, Washington DC….Trong
thời kỳ này Thanh Hải vẫn còn mang hình thức là một Sư
cô mặc áo vàng, đầu trọc, chống gậy.
Và
từ đó đến nay, Thanh Hải khi ẩn khi hiện, khi đi nơi này
nơi khác, từ Âu Châu sang Á Châu, rồi Châu Mỹ La Tinh,
Úc, Gia Nã Đại, và Mễ Tây Cơ. Các buổi thuyết giảng và
truyền Tâm Ấn của Thanh Hải đều “miễn phí.”
Thanh
Hải được báo chí Tây phương gọi là nhà doanh thương tài,
nhà tiếp thị giỏi và cho nickname là “Part Buddha, Part Madonna”.
Thanh Hải tự mình sáng tạo ra các sản phẩm từ thời trang
quần áo đến âm nhạc và rồi quảng cáo để bán những
thứ ấy một cách dễ dàng với nhiều thủ thuật. Bắt
đầu từ lãnh vực tâm linh tặng “miễn phí” rồi sau đó
là bán sách báo, băng từ CD, DVD in ấn rồi đến âm nhạc,
thời trang, tranh ảnh...Một bức tranh sơn dầu bán với giá
$2,160.
Bắt
đầu từ năm 1995, Thanh Hải sáng tạo ra cả một line quần
áo thời trang gồm các thứ làm bằng tơ lụa, các nón, bóp,
các dù che cho người nữ, được triển lãm và bày bán tại
các hệ thống bán hàng danh tiếng trên thế giới, từ London,
Paris, Milan đến New York. Có loại thời trang giá tới $11,000.
Các
đệ tử của Thanh Hải mua với hình thức đấu giá những
áo quần cũ của bà ta; một đôi vớ của “Sư Phụ” đã
dùng bán với giá $800 trong một khoá retreat ở Đài Loan.
“Đôi vớ là memory của Sư Phụ, vì thế nó là vô giá”,
một đệ tử đã nói như thế trong cuộc đấu giá. Người
đó cũng cho hay là “không biết chắc đôi vớ của Sư Phụ
có được giặt sạch trước khi mang đấu giá không.
Khi Sư Phụ bỏ thân xác này ra đi, ít nhất tôi có đôi vớ
của bà cạnh tôi”.
Thanh
Hải có phải là Chúa hay Phật sống không? Chắc chắn
không phải là Chúa. Càng chắc chắn hơn nữa không phải
là Phật vì nếu Thanh Hải là Phật, Thanh Hải đã không tự
phong mình là Phật, đã không yêu cầu một cách khéo léo những
người theo bà ta từ bỏ của cải vật chất trên thế gian
ô trọc này, để hiến dâng cho tổ chức, đã không tự tạo
danh tiếng cho cá nhân mình, đã không hưởng thụ, từ tiền
tài đến danh vọng.
Theo
báo Lake Elsinore’ in The Press- Enterprise, December 31, 1996
p. B01) Thanh Hải có 2000 đệ tử ở California. Tuy
nhiên theo bài báo “Unusual Cast of Asian Donors Emerges in DNC
Funding Controversy” in the Jan 27, 1997 issue of The Washington
Post, Thanh Hải có 100,000 đệ tử ở Hoa Kỳ và hàng triệu
đệ tử ở 40 quốc gia trên thế giới.
Hiện
có khoảng 60 web sites bằng nhiều thứ tiếng khác nhau trình
bày về Pháp Môn Quán Âm và giáo phái Thanh Hải. Tiến
sĩ Margaret Singer, một chuyên gia hàng đầu chuyên nghiên cứu
vế các giáo phái cực đoan cũng như không cực đoan trên thế
giới, cho biết đã nhận được được nhiều thư phàn nàn
của một số người theo giáo phái Thanh Hải, về việc họ
mất mát những khoản tiền lớn mà người phối ngẫu của
họ đã hiến cúng cho tổ chức Thanh Hải. Một số khác nói
rằng họ mất cả tiền lẫn người phối ngẫu.
Singer
nói, “Hầu hết những người đến than phiền với chúng
tôi đều nói là họ đã mất vợ, mất chồng, mất người
yêu bởi vì những người thân của họ đã bỏ họ mà tận
hiến cho tổ chức, làm việc cho các nhà hàng hay các nhóm
hoạt động..”
Vị
“Phật sống” kiêm “Chúa sống” này đã trở nên một
nhà đại doanh thương trong thời đại WTO, làm chủ 56 nhà
hàng chay trên khắp thế giới từ Taipei tới Melbourne, từ
Orange County đến San Jose. Nhiều trung tâm Thiền Định, trong
số đó có trung tâm Thiền ở Los Angeles và Morgan Hill, rộng
40 mẫu ở phía Nam San Jose. Riêng tại thành phố Saigon, Việt
Nam có ba nhà hàng chay và một cơ sở sản xuất thực phẩm
chay mang tên Âu Lạc.
Tại
sao Thanh Hải thuyết phục được nhiều người theo?
Bởi vì Thanh Hải thường rao giảng rằng người theo không
cần phải từ bỏ đạo truyền thống hoặc niềm tin tôn giáo
sẵn có và phương pháp tu Quán Âm là phương pháp hay nhất
chưa từng có và người theo bà ta sẽ có được những cái
mới mà vẫn giữ những cái họ đang có. Như thế có nghĩa
là “chỉ hưởng lợi thêm mà không bị mất đi một thứ
gì”. Tâm lý chung của con người bình thường là chỉ
muốn có thêm, chứ không muốn mất điều gì. Muốn có nhanh
chứ không muốn có chậm!
Còn
về câu hỏi “tại sao trong các buổi thuyết pháp lại
có đông người đến dự?” Điều này không phải
vì Thanh Hải có quyền lực siêu nhiên mà do tài năng và tổ
chức khéo của các nhóm hoạt động của bà ta khắp nơi trên
thế giới. Bất cứ nơi nào bà ta muốn thuyết giảng,
đều được các nhóm đệ tử tại địa phương tổ chức
rất chu đáo, quảng bá trên các phương tiện truyền thông
hiện đại như báo chí, truyền thanh và truyền hình. Họ không
ngần ngại chi tiêu những món tiền rất lớn vào việc quảng
cáo, có thể trả hàng chục ngàn Mỹ kim để thuê nhạc sĩ
nổi danh, ca sĩ giỏi và dàn hoà âm hay để hoàn thành một
bản nhạc. Điều này không phải chỉ có trong cộng
đồng Việt Nam ở hải ngoại mà còn áp dụng trong cộng đồng
bản xứ Hoa Kỳ.
Thanh
Hải có phải là Vô Thượng Sư và những lời thuyết giảng
của bà ta có phải là khuôn vàng thước ngọc để chúng ta
noi theo không, điều đó không tuỳ thuộc vào những khả năng
ăn nói lưu loát mà là từ hành động và động lực để
giảng dạy của bà. Ngài Đạt Lai Lạt Ma Thứ 14 đã
nói rằng: “Động lực giảng dạy (của một vị Thầy)
phải trong sạch – không bao
giờ vì một ước muốn danh tiếng hay lợi lạc vật chất…Trong
thế giới, nếu không có một nhà lãnh đạo chân chính thì
chúng ta không thể cải thiện xã hội được. Cũng vậy,
trừ phi vị thầy có phẩm chất đúng đắn, thì mặc dù đức
tin của bạn có mạnh mẽ đến đâu, việc theo học vị thầy
có thể làm hại bạn nếu bạn được dẫn dắt theo một
đường hướng sai lầm. Vì thế, trước khi thực sự
coi ai là thầy, điều quan trọng là phải khảo xét họ…”
…
Nếu
như vị đạo sư của bạn buộc bạn phải làm việc vô đạo
đức hay nếu giáo lý của vị ấy mâu thuẫn với Phật Pháp
thì hành xữ như thế nào? Ngài Đạt Lai Lạt Ma nói tiếp:
“Bạn nên trung thành với điều đạo đức và xa rời
những gì không phù hợp với Pháp…”
Ở
Ấn Độ, một lần kia, một vị thầy có nhiều đệ tử yêu
cầu họ đi ra ngoài ăn trộm. Vị thầy thuộc đẳng
cấp Bà La Môn và rất nghèo. Ông dạy rằng khi những
người Bà la Môn trở nên nghèo khó thì có quyền ăn cắp.
Ông nói, là những người được Trời Brahma - đấng sáng
tạo của thế giới – yêu quý, đối với một người Bà
la môn, việc ăn cắp không xấu xa. Những đệ tử sắp
đi ăn cắp thì vị thầy người Bà la môn nhận thấy một
đệ tử đứng im lặng cúi đầu xuống. Ông hỏi anh
tại sao không đi. Người học trò nói: “Điều
thầy dạy chúng con bây giờ trái nghịch với Pháp, vì vậy
con không nghĩ rằng con có thể làm được điều đó. “
Lời nói này làm vui lòng người Bà la môn, ông nói: “Ta
đã trắc nghiệm các con. Mặc dù các con đều là đệ
tử của ta và trung thành với ta, nhưng sự khác biệt giữa
các con là sự phán đoán. Ta là thầy của các con, nhưng
các con phải xem xét lời chỉ dạy của ta, và bất kỳ lúc
nào lời chỉ dạy chống trái với Pháp thì các con chớ nên
theo.” …” (15)
Còn
có quá nhiều điều đối nghịch với giáo lý nhà Phật, nhưng
người viết cho là tạm đủ để độc giả có thể nhìn
rõ hơn về cá nhân Thanh Hải cũng như về pháp môn tu Quán
Âm đội lốt tên Phật Giáo của bà ta. Thanh Hải có
phải là Vô Thượng Sư và những lời thuyết giảng của bà
có đáng để chúng ta tin theo không?.
Hoàng
Liên Tâm
CHÚ
THÍCH:
(01)
Thanh Hải Vô Thượng Sư, Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ Hiện
Đời Giải Thoát, 1994, NXB: Công ty ấn loát của Hội Thiền
Định Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư, ROC (trang 62)
(02)
Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Q.6 Đoạn
27:
http://www.thuvienhoasen.org/kinhthulangnghiem-tamminh-06.htm
(03)
HT. Thích Thiện Hoa, Triết Lý Đạo Phật hay là Đại Cương
kinh Lăng Nghiêm, Đoạn 25: “Khi đó đức Quán Thế Âm Bồ
Tát đứng dậy lạy Phật cung kính thưa rằng: - Bạch
Đức Thế Tôn, con nhớ từ hằng hà sa số kiếp về trước,
có Phật ra đời, tên là Quán Âm. Con đối trước Phật Quán
Âm phát tâm Bồ Đề. Ngài dạy con từ ngơi nghe rồi suy nhớ
và tu (văn, tư, tu) mà được vào chánh định. Khi mới nghe
tiếng, không chạy theo thinh trần, xoay cái nghe trở vào chơn
tánh (nhập lưu vong sở). Vì chỗ vào đã yên lặng, nên động
và tịnh hai món trần cảnh không sanh. Như thế lần lần tăng
tấn đến cái nghe và cảnh bị nghe cũng hết. Cũng không trụ
vào chỗ hết nghe. Cái biết hết và cái bị biết cũng không
còn. Tiến một bước đến cái “không” và cái “bị không”
cũng không còn. Khi cái sanh và diệt đã diệt hết, thì cái
chơn tâm tịch diệt hiện tiền.”
http://www.thuvienhoasen.org/daicuongkinhlangnghiem-12.htm
(04)
Gordon Young, SF Weekly Article Published May 22, 1996: http://www.sfweekly.com/Issues/1996-05-22/news/news.html
(05)
HT. Thích Tịnh Hạnh, Học Viện Phật Giáo Trung Hoa Dân Quốc,
thông tư gởi Phật tử http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-thanhhai-thichtinhhanh.htm
(06)
I heard nothing and saw nothing" August 25, 2002 By a former practitioner
of the method of "Suma Ching Hai" http://www.rickross.com/reference/ching_hai/sumaching10.html
(07)
HT. Thích Duy Lực, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, Đoạn 26,
Từ Ân Thiền Đường Hoa Kỳ xuất bản: “Nhược
dĩ sắc kiến ngã, Dĩ âm thanh cầu ngã, Thị nhơn hành tà
đạo, Bất năng kiến Như Lai.”
Dịch
nghĩa: Nếu dùng sắc thấy ta, Dùng
âm thanh cầu ta. Là người hành tà đạo, Chẳng thể thấy
Như Lai.
Lược
Giải Nếu dùng sắc thấy ta, Dùng
âm thanh cầu ta. Là người hành tà đạo, Chẳng thể
thấy Như Lai. Chữ Ta ở đây là tự tánh Phật. Tự tánh
bất nhị, chẳng có năng sở, nên chẳng phải sở thấy sở
cầu. Nếu đuổi theo căn trần để thấy để cầu là hành
theo tà đạo, chẳng thể đạt đến kiến tánh.
http://www.thuvienhoasen.org/u-kkimcang-03.htm
(08)
Cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật Học
Viện quốc Tế Xuất Bản PL 2527 – 1983, mục 8 đoạn 1: http://www.thuvienhoasen.org/kinhthulangnghiem-tamminh-09.htm
(09)
Thanh Hải Vô Thượng Sư, Bí Quyết Tức Khắc Khai Ngộ Hiện
Đời Giải Thoát, 1994, NXB: Công ty ấn loát của Hội Thiền
Định Quốc Tế Thanh Hải Vô Thượng Sư, ROC (trang 35)
(10)
Thanh Hải Vô Thượng Sư giảng tại Đài Bắc, Formosa Ngày
6 tháng 3, 1988) http://www.dainam.net/forums/showthread.php?t=50405
(11)
HT. Thích Tịnh Hạnh, Học Viện Phật Giáo Trung Hoa Dân Quốc,
thông tư gởi Phật tử http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-thanhhai-thichtinhhanh.htm
(12)
) HT. Thích Thiện Hoa, Triết Lý Đạo Phật hay là Đại Cương
kinh Lăng Nghiêm: Phật dạy: - A Nan, ta có dạy các vị
Bồ Tát và A La Hán: “Sau khi ta
diệt độ rồi, các ông phải thị hiện thân hình, trong đời
mạt pháp để cứu độ chúng sanh đang trầm luân, làm thầy
sa môn, cư sĩ, vua, quan, đồng na, đồng nữ, cho đến hiện
thành đàn bà góa, kẻ dâm nữ, người gian xảo, kẻ trộm
cướp, người hàng thịt, kẻ buôn bán, để lẫn lộn trong
từng lớp người chung một nghề nghiệp, đặng giáo hóa chúng
sanh trở về chánh đạo”. Nhưng
các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói: “Ta
đây thật là Bồ Tát hoặc A La Hán v.v… hay tỏ ra một vài
cử chỉ gì làm tiết lộ sự bí mật, để cho người ta biết
mình là Thánh nhơn thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi,
các vị ấy mới âm thầm để lại một vài di tích cho người
biết thôi”. http://www.thuvienhoasen.org/daicuongkinhlangnghiem-00.htm
(13)
HT. Thích Tịnh Hạnh, Học Viện Phật Giáo Trung Hoa Dân Quốc,
thông tư gởi Phật tửhttp://www.thuvienhoasen.org/ddpp-thanhhai-thichtinhhanh.htm
Theo
một luận văn tốt nghiệp cao học báo chí viện đại học
UC
Berkeley của Eric Lai viết năm 1995 nhan đề Spiritual Messiah
Out of Taiwan cho biết Thanh Hải có tên là Hue Dang Trinh, sinh
ngày 12 tháng 5 năm 1950 tại một làng nhỏ ở miền Trung Việt
Nam. Thanh Hải đã có một đứa
con với một quân nhân Mỹ. Năm 19 tuổi, vào lúc cao điểm
cuộc chiến Việt Nam, Thanh Hải rời Việt Nam với một bác
sĩ người Đức đang làm việc cho tổ chức từ thiện quốc
tế. Hai người lấy nhau và đi qua Anh rồi Đức sống
http://www.metroactive.com/papers/metro/03.28.96/suma-9613.html
(14)
Let Us Reason Ministries:
http://www.letusreason.org/NAM29.htm và HT. Thích Tịnh Hạnh,
Học Viện Phật Giáo Trung Hoa Dân Quốc, thông tư gởi Phật
tử
http://www.thuvienhoasen.org/ddpp-thanhhai-thichtinhhanh.htm
(15)
Dalai Lama Thứ 14, Con Đường Đến Tự Do Vô Thượng, nguyên
tác Anh ngữ: The Way To Freedom, Việt dịch: Liên Hoa, Nhà
xuất bản Thiện Tri Thức 1999. http://www.thuvienhoasen.org/conduongdentudovothuong-00.htm
GHI
NHẬN MỘT VÀI HÌNH ẢNH:
Thakar
Singh
|
Cô
Huệ, pháp danh Thị Nguyện qua Ấn Độ xuất gia, trước tiên
là với các vị Lạt ma Tây Tạng, sau theo học với một người
Ấn Độ đạo Sikh tên là Jampa Ghesbe Ngawang Dargey và người
kế tiếp là Thakar
Singh, một giáo sĩ thuộc dòng Surat
Shabd Yoga (Sant Mat) và chính vị này đã truyền pháp “Thanh
Sắc Quang Ảnh” (Light and Sound Meditation) cho Thị Nguyện |
|
|
|
|
|
Lúc
còn là nữ sinh
|
Lúc
ở Quảng Ngãi
|
Trên
đài CNN
|
Nhà
Doanh Gia
|
Word
Doc (137 KB)
Up
date: 03-07-2007 06:15