|
|
c
|
PHÁP THIỀN CỦA
PHẬT THÍCH CA
|
From:
Tinh Thuy <tinhthuy2@y...>
Date:
Wed Jul 31, 2002 5:19 pm
Subject:
PHA'P THIE^`N CU?A PHA^.T THI'CH CA
Thiền
pháp của Bà-la-môn Ấn Ðộ sáng lập trước hơn các nước
khác, nhưng tất cả đều chưa lìa được tác dụng “KIẾN
VĂN GIÁC TRI”, nên chẳng có cách nào để chứng nhập chỗ
cùng tột của bản thể, nên họ vẫn phải chịu sự luân
hồi trong tam giới. Chỉ có Phật Thích Ca sử dụng Thiền
pháp bát nhã do Ngài tìm ra để phá tan hầm sâu vô minh, triệt
để chứng ngộ vào Vô Dư Niết-bàn, nên gọi là kiến tánh
thành Phật. Phật Thích Ca đặt tên pháp Thiền nầy là Pháp
Bản Trụ, ý là tự nhiên bản trụ, chẳng do tạo tác mà
có, vì tính cách “bản trụ”, nên Ngài cũng phủ nhận pháp
thiền này là do chính Ngài tìm ra.
Kinh
Lăng-già nói: “Ví như người đang đi ngoài đồng, thấy
có đường đi bằng phẳng liền theo đó vào thành, thọ dụng
sự an-lạc như ý. Xưa kia tất cả Phật đều đi đường
nầy thì nay ta cũng đi theo mà thôi”. Do đó mà xét thì biết
pháp Thiền ra đời là do nhu cầu tự nhiên của loài người,
trước khi có loài người, Phật tánh đã sẵn sàng và pháp
Thiền cũng đã là bản trụ. Bao nhiêu Cổ Phật trước đời
Phật Thích Ca cũng nương theo đường nầy để đạt đến
giác ngộ cuối cùng. Ngoài pháp nầy ra chẳng có pháp nào
khác nên đường lối nầy dù là sẵn có, nếu chẳng có Phật
Thích Ca chỉ thị thì chúng sanh ắt phải quanh quẩn trong ngã
rẽ mà quên việc trở về nhà.
PHÁP
THIỀN CỦA PHẬT THÍCH CA
Trước
đời Phật Thích Ca, các tông phái Bà-la-môn của Ấn Ðộ
đều có pháp Thiền tu hành của họ, pháp danh tiếng nhất
như Mười Hai Tịnh Pháp Thiền, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiền,
đều là ngoại đạo dùng đó tu để được sanh cõi Trời.
Khi Phật Thích Ca mới xuất gia, từng tham học các thiện tri
thức của Bà-la-môn, đối với các pháp Thiền của họ đều
chưa hài lòng, cho nên vào Tuyết-sơn tự tu. Ban sơ vẫn
dùng Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Thiền đoạn niệm dứt dục
trải qua sáu năm chẳng kết quả gì, biết pháp Thiền của
Bà-la-môn là sai, nên tắm gội, ăn uống lại rồi đến ngồi
dưới gốc cây Bồ-Ðề, dùng pháp Thiền Bát Nhã tam muội
phản quán chiếu soi, trải qua 49 ngày lên chứng quả Phật,
than rằng : “Lạ thay ! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều
sẵn đủ đức tướng trí huệ của Như Lai, nhưng chỉ vì
vọng tưởng chấp trước mà chẳng thể chứng đắc.”
Sau
khi thành Phật, Ngài muốn dùng sở chứng của Ngài khai thị
cho chúng sanh khiến ngộ nhập tri kiến Phật.
Vì
căn cơ chúng sanh muôn ngàn sai biệt, nên pháp của Như Lai
thuyết cũng muôn ngàn sai khác, nói đại khái có thể chia
làm bốn thừa : tiểu thừa, trung thừa, đại thừa và tối
thượng thừa. Tiểu thừa tu Thiền Tứ Ðế, gọi là Thanh-Văn
Thừa, trung thừa tu thiền Thập Nhị Nhân Duyên, gọi là Duyên
Giác Thừa, đại-thừa tu Thiềân Lục Ðộ, gọi là Bồ-Tát
Thừa, tối thượng thừa là trực tiếp chỉ thị chân như
Phật tánh, chỉ có người chứng nói với người chứng mới
biết được, gọi là Nhất Phật thừa, tức là pháp Thiền
“Niêm hoa thị chúng”. Cũng gọi là Giáo Ngoại biệt truyền
vậy.
Kinh
Hoa-nghiêm nói : “Nếu có chúng sanh căn cơ thấp kém thì
thuyết hạnh Thanh-văn cho họ, nếu căn cơ lanh lợi, ham độc
giác thì thuyết đạo Duyên Giác cho họ, nếu có người từ
bi, ham lợi ích chúng sanh thì thuyết hạnh Bồ-Tát cho họ,
nếu có người tâm trí huệ thù thắng thì chỉ thị ngay pháp
vô thượng của Như Lai”.
Phật
Thích Ca dù giả thuyết đủ thứ phương tiện để dẫn đắt
chúng sanh, nhưng tông chỉ duy nhất chẳng ngoài một việc
kiến tánh thành Phật, cho nên nói “vì một nhân duyên đại
sự ra đời” là vậy. Do đó, chỉ có một pháp Thiền đưa
chúng sanh đạt đến chỗ kiến tánh thành Phật, mới là sự
phó chúc huệ mạng của chư Phật chư Tổ.
Kinh
Pháp Hoa nói : “Trong mười phương quốc độ, duy có pháp
Nhất thừa, chẳng hai cũng chẳng ba, ngoài Phật thuyết phương
tiện, chỉ dùng giả danh tự, dẫn dắt cho chúng sanh, nên
nói trí huệ Phật, chỉ một sự thật nầy, ngoài ra đều
chẳng nhơn”.
Khi
Phật Thích Ca còn tại thế, các đệ tử đều lấy tu Thiền
làm cơ bản, sau khi Phật nhập diệt, do pháp Thiền cao thấp
thành có bốn thừa, đồng thời các tông phái sau này chú
trọng luôn cả bốn thừa. Thiền Tông độc lập thành một
tông phái là bắt đầu từ Trung-Quốc....
ÐẠI
Ý CỦA BỐN THỪA
Chữ
Phật còn thuộc giả danh, huống là bốn thừa ư ! Nhưng
đức Phật đại bi cứu thế, phương tiện độ sanh, vì tùy
căn cơ sâu cạn của chúng sanh nên giả thiết đủ thứ ngôn
giáo pháp môn dùng để tu tập, theo thời ứng cơ, tùy nghi
lập giáo, như lương y trị bệnh, tùy bệnh cho thuốc, nên
có những thí dụ như xe dê, xe nai, xe trâu (tam thừa) và Hóa
Thành (nửa đường), Bửu Sở (quả Phật), v.v... Khổ tâm
ấy thật là chiếu sáng muôn đời.
Tất
cả pháp có thể nói ra đều thuộc về tương đối ; pháp
tương đối phải tùy theo không gian và thời gian mà biến
đổi, vốn chẳng thật thể. Nên đức Phật thuyết pháp vừa
thuyết liền phá, ban sơ Phật đã từng vì chúng sanh thuyết
diệu lý của chân như pháp thân, ý chỉ huyền ảo vi diệu,
chúng đều bỏ đi, rồi trở lại thuyết pháp môn tiểu thừa
người nghe mới tin được. Ðến khi đồ chúng tu tiểu thừa
đã quen thuộc, ham thích thiền vị, chỉ tự độ thân mình,
Phật lại quở ràng : “Ðây chẳng phải cứu cánh, chưa
lìa hẳn sanh tử, nên tu trung thừa”. Ðồ chúng mới chuyển
tu trung thừa đạt nơi ngã pháp đều không. Phật lại quở
rằng : “Ðây vẫn chưa cứu cánh, tập khí từ vô thỉ
chưa sạch, cũng còn biến dịch sanh tử nên tu đại thừa”.
Từ đó chúng mới chuyên tu pháp đại thừa, đến khi căn
cơ thuần thục. Phật mới trực thị pháp tối thượng
thừa, kẻ tu hoạt nhiên đại ngộ, thấu triệt bản tâm chẳng
sanh chẳng diệt, chẳng biến chẳng khác, sẵn sàng viên mãn,
chẳng do tạo tác, mới biết phi tâm phi Phật phi vật, cuối
cùng chẳng có pháp nào để đắc, nói “pháp môn” chỉ
là nói suông, nói “bốn thừa đều là hí luận, khi ấy mới
tin Phật nói “chẳng thuyết một chữ, chẳng đáp một chữ
‘ là chẳng phải cất ý bày đặt sự huyền bí.
Nay
lược thuật cảnh giới bốn thừa như sau.....
Trích
đoạn: Cội Nguồn Truyền Thừa và Phương Pháp Tu Trì Của
Thiền Tông của Nguyệt Khê Thiền Sư, HT. Thích Duy Lực Việt
dịch, Từ AÂn Thiền đường xuất bản 1991 (trang 12- 51)
x
|