THƯ VIỆN HOA SEN
[Search][English][Mirrorsite]
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
 
c
Trang Hiện Tại
Trang 1
Trang 2
Trang 3
ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG THƠ DU TỬ LÊ 
QUA THI PHẨM “VÌ EM TÔI ÐÃ LÀM SA DI” 
Trang 01
Trang 02
Trang 03
Trang 04

FROM: huyen hoang <votandang@y...>
DATE: Tue, 23 Sep 2003 17:20:24 -0700 (PDT) 
TO: <banbientap@thuvienhoasen.org> 
SUBJECT: Tho Du Tu Le 

Kính thưa Ban Biên Tập,

Nhân đọc những ý kiến của quý đạo hữu trên Diễn Ðàn Phật Pháp về Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê. Tôi cũng mạo muội xin đóng góp một vài ý kiến thô thiển của mình về vấn đề này. Vì không am tường về Phật Pháp cũng như không hiểu biết nhiều về thơ, do đó không dám làm việc phê bình văn học, cũng như bàn thảo giáo lý, tôi chỉ xin ghi lại đây một vài cảm tưởng trung thực của mình khi đọc các bài thơ đó mà thôi.

Tôi hết sức cám ơn ý kiến của các đạo hữu đã giúp tôi hiểu được khía cạnh nghiêm túc của Ðạo Phật. Tuy nhiên có lẽ vì quá nghiêm túc nên có vị hơi khắc khe để phủ nhận "thiền tính" trong thơ của Du Tử Lê. 

Riêng tôi, tôi rất cám ơn nhà thơ đã giúp tôi có thể hiểu được nghĩa của chữ "từ bi" qua tình yêu của con người. Trong các câu thơ Du Tử Lê hay dùng những từ đề cao tình yêu nam nữ, do đó dễ đưa đến những hiểu lầm, rồi từ đó dễ đến ngộ nhận là nhà thơ đã phàm tục hóa đạo Phật. Tôi thì không nghĩ thế, nếu chúng ta bình tâm để hiểu những chữ như: em, tình yêu.. có nghĩa là Phật tính, là từ bi.. thì chúng ta sẽ thấy bài thơ rất sinh động và sâu sắc. Hồ Xuân Hương và Henry Miller vẫn thường bị kết án về những hình ảnh dâm dục trong tác phẩm của họ, nhưng qua những hình ảnh đó chúng ta cảm nhận được sự nhàm chán của kiếp người. Mật Tông Tây Tạng vẫn dùng hình ảnh giao hợp để diễn tả tính nhất quán của Từ Bi và Trí Tuệ.  Cũng hình ảnh đó thô tục nhưng nếu chúng khéo sử dụng thì vẫn diễn tả được những cái thanh cao của cuộc sống.  Trong các bài thơ của Du Tử Lê tôi không thấy sự thô tục đó.

Tôi vẫn quan niệm thế giới của thơ là thế giới chủ quan "tẻ vui âu cũng tính trời biết sao", thi nhân là Thượng Ðế của thế giới đó. Do đó tôi khi đọc thơ tôi cố gắng cảm nhận cảm hứng của người làm thơ. Chữ nghĩa nhòa đi để chỉ còn lại những rung động chân thành. Còn gì đẹp bằng khi nghĩ đến tình yêu trong thế giới Hoa Nghiêm. Trong Hoa Nghiêm "một là tất cả, tất cả là một", tình yêu ở đây đã được thăng hoa thành tình thương bao la của các vị Bồ Tát, khi cá thể đã hòa vào đại thể, khi ranh giới của những nhỏ hẹp đã xóa đi cho những bao la vô hạn. Ðây là hình ảnh tuyệt đẹp để nói đến lòng từ bi vô lượng:

. .."...Hôm nay quỳ dưới chân Bồ Tát 
tụng một pho tình-yêu-hoa-nghiêm..."... 

Nhà thơ đã tìm cách thăng hoa tình yêu nhỏ bé của mình vào tình yêu bao la của Ðạo, để cho những "Phụ Rẫy", những đau khổ trong tình yêu chiếm đoạt chóng "Quên" đi để siêu độ cho tình yêu đó đi bằng "Kinh Vãng Sanh". Tình yêu thế gian tuy có lúc cũng có hạnh phúc nhưng "chất ngọt thì ít mà vị đắng thì nhiều", chỉ có lòng từ bi bao la của Ðức Phật A Di Ðà cõi Tịnh Ðộ mới xoa dịu đi hết những đau thương của thế nhân:

" ...trì tụng cho tình kinh Vãng Sinh 
một pho Phụ Rẫy. Một pho Quên..."... 

Rồi nhà thơ chợt nhận ra "em" (Phật Tính) trong mình. Buổi sáng của tâm thức, khi ánh sáng giác ngộ soi chiếu để thấy mình và vũ trụ không khác, tình yêu cá thể đã hòa vào đại thể trong thế giới "trùng trùng duyên khởi" của Kinh Hoa Nghiêm:

"...buổi sáng em về như Hoa Nghiêm..."... 

Và rồi "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt" (ngôn ngữ đứt lìa, tâm đi vào tịch diệt). Lúc đó tiếng nói không còn ý nghĩa gì nữa, không chuyển tải được thực tại bao la của chân lý cho dầu danh từ đó là Niết Bàn hay âm phủ thì cũng chỉ là danh từ mà thôi:

"...Niết Bàn chẳng khác gì âm phủ..."... 

Khi giác ngộ các vị Bồ Tát thấy rằng chúng sanh đau khổ vì những dục vọng ích kỷ, để từ đó phát khởi tâm nguyện cứu độ bao la như Ðịa Tạng Ðại Sĩ lao vào địa ngục để cứu vớt những chúng sinh trầm luân trong biển ái. Trong bao ngàn năm qua con người đã đau khổ nhiều, thế kỷ chúng ta ngày nay phải là thế kỷ của sự giài thoát. Lời nói đó như một xác quyết với chính mình:

"...Thế kỷ mới mang linh hồn Địa Tạng ..." 

Những tình tự, những đạo tâm đó tuy đã nung nấu từ nơi quê nhà xa xôi, miền Nam hiền hòa, nơi mà cây vú sữa là một biểu tượng cho tình cảm quê hương đằm thắm đó, nhưng tác giả cũng chỉ thấy mình chỉ là kẻ mới tập tu, chỉ là một "chú tiểu" mới bước vào Chùa Ðại Bi để học những bài học vỡ lòng về tình yêu cao thượng đó.

"...Nhớ cây vú sữa hiên nhà 
Nhớ ta chú tiểu thiệt thà...biết yêu ..." ... 

Qua những phân tích trên chúng ta thấy, nhà thơ Du Tử Lê Ŀã sử dụng tài tình những thuật ngữ Phật Giáo giàu hình ảnh và ý nghĩa. Chỉ một vài nét chấm phá nhà thơ đã diễn tả ra một thế giới huy hoàng mênh mông của Hoa Nghiêm, của Thiền, của Tịnh Ðộ.. Qua những vần thơ đó chúng ta thấy cái hiểu về Phật Giáo của tác giả không dừng lại trên phương diện ngôn ngữ, mà là sự cảm nhận thâm sâu về nguồn sống tâm linh tịch mặc đó. Những rung cảm của nhà thơ chính là những rung cảm tuyệt vời của những hành giả đang đi sâu vào nội quán. 

Trên đây là những cảm nhận chủ quan của tôi về những câu thơ dễ gây ngộ nhận của tác giả, xin ghi lại đây với ước mong "mua vui cũng được một vài trống canh".
Xin cảm ơn tất cả những ý kiến của quý vị đã đọc thơ Du Tử Lê với tất cả những tấm lòng chân thành của mình.

Kính bái,
Votandang


From: vuong van <vuongvanvan@ỵ..> 
Date:  Thu Sep 25, 2003  11:41 am
Subject:  Re: [hoasen-1] Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê

Chào quý D/H

(Tôi có ý kiến về người viết bài dưới chứ không bàn về thơ Du Tử Lê ở đây)

Người viết còn nhập nhằng giuã tình yêu (thế tục)  và từ bi.  Từ bi vắng bóng khi còn dính líu đến ngôn ngữ, âm nhạc thi ca và mọi khái niệm - Khi còn có sự hiện hữu của kiến giải, tri thức hay nói cách khác còn lặn ngụp trong lãnh vực lý trí, trong chuổi ma lanh của vọng niệm , dù cho hoàn toàn thoát khỏi ham muốn, mong đợi, và những thoả mãn bản năng đòi hỏi được lấp đầy [điều này không phải dễ làm, do đó mới không có vụ thơ Hồ xuân Hương, hoặc tượng khoả thân treo ở chuà hay nhà thờ..], tình cảm và tri thức đó chỉ là bóng dáng  rơi rụng của từ bi & trí tuệ  Từ Bi mà người đọc thấy được nơi thơ ca là tư bi dỏm, từ bi bằng cái miệng, từ bi lý thuyết, từ bi tưởng tượng dù là thơ Bùi Gíang, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, (hẵn nhiên cái thấy của chính tác giả lúc sáng tạo có thể ngoại lệ)  ...trái lại từ bi chỉ thể hiện bằng cái "biết" trực cảm từ tâm hoàn tòan thanh tịnh, khi mà  vô phân biệt. trí hiễn lộ, khi mà đau khổ / vui /buồn của người là cái đau khổ / vui / buồn của mình. 

Lại có người nhập nhằng giữa từ bi  và thương hại, yêu đương và những rung cảm thế tục. Chưa tới bờ đừng mong thấy từ bi ở bất cứ nơi đâu kể cả nơi hành động của các vị bồ tát đang hoá thân, cũng như trong thế tục  đừng nói  cục phân cũng là chân lý , cũng như đang là kẻ  phàm tục đừng nói thơ Du Tử Lê mang chở giáo lý Phật Giáo ( Ít nhất, cho trường hợp nhà thơ ca tụng yêu đương trai gái  , mình biến nó thành từ bi,  thật bị bệnh tưởng nặng)
VVV 


From:  "Hoa Nguyen" <THANHHUY@m...> 
Date:  Thu Sep 25, 2003  3:36 pm
Subject:  Re: [hoasen-1] Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê

Chaò quý đạo hữu,
Tôi cũng xin góp ý thêm  với đạo hữu Vuong Van.
Một số người lầm lẫn tình yêu của  đời thường với từ bi của Phật giáo.  Và trong bài viết để biện minh cho Du Tử Lê đó đã muốn đưa đến  ý  nghĩ này: tình nam nữ  yêu  (như DTL đã viết qua thơ) mà mở rộng ra mênh mông thì thành  "tình-yêu-Hoa-Nghiêm", từ bi của Phật giáo !

Trước hết, tình yêu nam nữ, tức luyến ái phát xuất từ tình dục, tuy là đã được thăng hoa lên thế nào để nhà thơ, người nghệ sĩ nào đó giàu tưởng tượng chỉ còn thấy những dáng vẻ đẹp đẽ thanh cao, như không còn dính dáng gì đến trần tục.  Nhưng đạo Phật đã dùng một từ ngữ chính xác để chỉ ra đúng bản chất của nó: tình yêu đó là ái dục. Tính chất "dục" rất nặng, nếu không phải chính là nền tảng, nhưng thường người ta cố ý nhìn lơ đi.  Ở đây không phải kết án , buộc tội gì tình dục, chỉ nêu lên để nói cho rõ đó không phải là từ bi.

Cũng có tình yêu khác người đời cho là cao thượng, như tình bạn (quý mến bạn bè), hay có khi đưa lên đến mức "thiêng liêng" như từ yêu của mẹ đối với con (tình mẫu tử). Nhưng thật ra, những tình yêu như thế rất vị kỷ, chấp ngã (ngã sở). Người mẹ yêu con thường thấy con mình đẹp nhất, nếu không thì cũng dễ thương, thông minh, ngoan ngoãn nhất. Nhưng thực tế thường không phải vậỵ  Và người mẹ yêu con thì nghĩ đến con mình, lo cho con mình nhiều nhất. Đó cũng không phải là từ bi.

Các tình cảm trên được gọi chung là tình Yêu, và nếu được dịch ra tiếng Anh thì đó là Love. Nhưng từ bi của Phật giáo thì dịch là Compassion, để chỉ lòng từ mẫn, xót thương kẻ khác (hay chúng sinh) khi họ đau khổ và muốn làm hết cách cho họ sung sướng thật sự.  Chúng sinh ở đây được hiểu là tất cả mọi người, mở rộng ra cho mọi loài, như mênh mông như pháp giới của Hoa Nghiêm. Không phải chỉ dành riêng cho một người (người yêu), một nhóm ngưòi gần gũi trong gia đình, làng xóm hay đất nước, chủng tộc.

Tất nhiên, lòng từ bi không phải tự nhiê mà có, dù đạo Phật tin là ai cũng có mầm móng của Bi tâm được  mang theo cùng Phật tính từ nguyên thủy, và được tăng trưởng dần do công phu tu tập.  Mục đích của việc tu hành theo đạo Phật là  đạt tới Trí Tuệ và lòng Từ Bi  vô lượng.  Và chắc chắn điều này không phải nhờ làm thơ , hay mơ ước qua thơ mà có được.
Còn bảo thơ Du Tử Lê  bao gồm cả Thiền tông, Tịnh Độ, và Mật tông thì là chuyện đề cao thơ Du Tử Lê  hơn thực chất , đồng thời hạ thấp  giá trị đạo Phật xuống thôi.
Hòa


From:  Vominhcusi@ạ.. 
Date:  Thu Sep 25, 2003  4:07 pm
Subject:  Re : Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê

BBT kính chuyển đến qúy đạo hữu bài góp ý về  <<Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê>> của đạo hữu Votandang:

From: huyen hoang <votandang@ỵ..>
Date:  Tue, 23 Sep 2003 17:20:24 -0700 (PDT) 
To: <banbientap@thuvienhoasen.org> 
Subject: : Tho Du Tu Le 

Kính thưa Ban Biên Tập,

Nhân đọc những ý kiến của quý  đạo hữu trên Diễn Đàn Phật Pháp về Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lệ Tôi cũng mạo muội xin đóng góp một vài ý kiến thô thiển của mình về vấn đề nàỵ Vì không am tường về Phật Pháp cũng như không hiểu biết nhiều về thơ, do đó không dám làm việc phê bình văn học, cũng như bàn thảo giáo lý, tôi chỉ xin ghi lại đây một vài cảm tưởng trung thực của mình khi đọc các bài thơ đó mà thôi.

Tôi hết sức cám ơn ý kiến của các đạo hữu đã giúp tôi hiểu được khía cạnh nghiêm túc của Đạo Phật. Tuy nhiên có lẽ vì quá nghiêm túc nên có vị hơi khắc khe để phủ nhận "thiền tính" trong thơ của Du Tử Lê.

Riêng tôi, tôi rất cám ơn nhà thơ đã giúp tôi có thể hiểu được nghĩa của chữ "từ bi" qua tình yêu của con người.

VM :
Thưa đạo hữu Votandang,
(Tôi đành để nguyên tên không có dấu, có phải là Vô Tận Đăng không ạ?)

Chữ "từ bi" mà nhà Phật dùng là từ "vô duyên từ, đồng thể bi". 

"Vô duyên từ" có nghĩa là tình thương không vì có nhân duyên nào,  chỉ là lòng xót thương của bậc giác ngộ, thấu suốt nỗi niềm khổ ải của kiếp nhân sinh, phải ra đời để mà chịu  khổ, ít nhất là 8 nỗi thống khổ mà bất cứ ai, dù là giầu, nghèo, sang, hèn, cũng đều phải chịu như nhau, công bằng, ngay đến vua chúa cũng không thoát, đó là : Sinh khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Chết khổ, Muốn mà không được khổ, Yêu nhau mà phải chia lìa khổ, Ghét nhau mà phải gặp khổ, Thân tâm lúc này lúc khác khổ.

Vì thấy ai cũng khổ nên thương xót, tội nghiệp cho kiếp nhân sinh, đó , là vô duyên từ. "Đồng thể bi" là thương xót chúng sinh vốn đồng thể Phật tánh mà không biết, cứ cắm đầu ôm lấy mấy cái niềm vui trần thế hời hợt, trôi lăn mãi trong dòng sông sanh tử, ân oán vay trả triền miên, không biết ngày nào mới chấm dứt, nên rủ lòng thương xót, tội nghiệp.

Còn tình yêu trai gái là tình yêu vị kỷ, yêu mà không được yêu lại thì căm thù, tạt át xít, bắn chết người yêu, sao có thể ví von dể giải thích cho những người không hiểu đạo Phật hiểu chữ từ bi được? 

Ông DTL lạm dụng chữ, làm sai lạc nghĩa của từ ngữ trong kinh điển, những từ ngữ vốn có nghĩa lý rõ ràng và cần được giữ gìn sự trong sáng để người tu học không bị lầm lẫn. "Từ bi" như kiểu ông ấy ví von thì trên mấy cái chat room www.xxx.com, tình muôn mầu, tình buồn, etc ... có cả ngàn cô câu ăn không ngồi rồi, sáng tác toàn những câu thơ khiêu dâm, có thiếu gì!

Votandang :
Trong các câu thơ Du Tử Lê hay dùng những từ đề cao tình yêu nam nữ, do đó dễ đưa đến những hiểu lầm, rồi từ đó dễ đến ngộ nhận là nhà thơ đã phàm tục hóa đạo Phật. Tôi thì không nghĩ thế, nếu chúng ta bình tâm để hiểu những chữ như: em, tình yêụ. có nghĩa là Phật tính, là từ bị. thì chúng ta sẽ thấy bài thơ rất sinh động và sâu sắc. Hồ Xuân Hương và Henry Miller vẫn thường bị kết án về những hình ảnh dâm dục trong tác phẩm của họ, nhưng qua những hình ảnh đó chúng ta cảm nhận được sự nhàm chán của kiếp ngườị Mật Tông Tây Tạng vẫn dùng hình ảnh giao hợp để diễn tả tính nhất quán của Từ Bi và Trí Tuệ. 

VM :
Đạo hữu đã tự nhận là <<không am tường về Phật Pháp>>. Tôi không biết đạo hữu nói dối hay nói thật, tôi cũng tạm tin đó là lời chân thật, vì bài học đầu tiên của người mới bước vào cửa Phật là giữ 5 giới, trong đó có tránh nói dối .

Nếu thật sự đạo hữu <<không am tường về Phật Pháp >>, thì tôi đề nghị đạo hữu không nên phê phán chuyện tu hành của Mật Tông Tây Tạng, là môn phái tu có những điều đặc biệt, khó hiểu, chỉ người trong môn phái mới được học, người ngoài không dễ hiểu được, hiểu sai, nói sai lạc, tạo nghiệp.

Votandang :
Cũng hình ảnh đó thô tục nhưng nếu chúng khéo sử dụng thì vẫn diễn tả được những cái thanh cao của cuộc sống.  Trong các bài thơ của Du Tử Lê tôi không thấy sự thô tục đó.

VM :
Điều này thì cũng tùy cảm quan của mỗi người, cho nên hãng nước hoa mới chế ra nhiều loại mùi khác nhau .

Votandang:
Tôi vẫn quan niệm thế giới của thơ là thế giới chủ quan "tẻ vui âu cũng tính trời biết sao", thi nhân là Thượng Đế của thế giới đó. 

VM :
Cứ coi như thi nhân là Thượng Đế của thế giới thơ đi, cho nên bất cứ thi nhân nào cũng có thể nhân danh quyền "Thượng Đế" của mình để làm thơ tục tĩu, nếu muốn, không ai phản đối, miễn là đừng khoe khoang là mình "ảnh hưởng Phật giáọ.." ghép mấy chữ vô nghĩa, gợi hình thô tục, đổ thừa là ảnh hưởng Phật giáo, đạo hữu ạ.

Kính,
VM

Votandang:
Do đó tôi khi đọc thơ tôi cố gắng cảm nhận cảm hứng của người làm thợ Chữ nghĩa nhòa đi để chỉ còn lại những rung động chân thành. Còn gì đẹp bằng khi nghĩ đến tình yêu trong thế giới Hoa Nghiêm. Trong Hoa Nghiêm "một là tất cả, tất cả là một", tình yêu ở đây đã được thăng hoa thành tình thương bao la của các vị Bồ Tát, khi cá thể đã hòa vào đại thể, khi ranh giới của những nhỏ hẹp đã xóa đi cho những bao la vô hạn. Đây là hình ảnh tuyệt đẹp để nói đến lòng từ bi vô lượng:. ..".
..Hôm nay quỳ dưới chân Bồ Tát 
tụng một pho tình-yêu-hoa-nghiêm..."... 

Nhà thơ đã tìm cách thăng hoa tình yêu nhỏ bé của mình vào tình yêu bao la của Đạo, để cho những "Phụ Rẫy", những đau khổ trong tình yêu chiếm đoạt chóng "Quên" đi để siêu độ cho tình yêu đó đi bằng "Kinh Vãng Sanh". Tình yêu thế gian tuy có lúc cũng có hạnh phúc nhưng "chất ngọt thì ít mà vị đắng thì nhiều", chỉ có lòng từ bi bao la của Đức Phật A Di Đà cõi Tịnh Độ mới xoa dịu đi hết những đau thương của thế nhân:

" ...trì tụng cho tình kinh Vãng Sinh 
một pho Phụ Rẫỵ Một pho Quên..."... 

Rồi nhà thơ chợt nhận ra "em" (Phật Tính) trong mình. Buổi sáng của tâm thức, khi ánh sáng giác ngộ soi chiếu để thấy mình và vũ trụ không khác, tình yêu cá thể đã hòa vào đại thể trong thế giới "trùng trùng duyên khởi" của Kinh Hoa Nghiêm:
"...buổi sáng em về như Hoa Nghiêm..."... 

Và rồi "ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt" (ngôn ngữ đứt lìa, tâm đi vào tịch diệt). Lúc đó tiếng nói không còn ý nghĩa gì nữa, không chuyển tải được thực tại bao la của chân lý cho dầu danh từ đó là Niết Bàn hay âm phủ thì cũng chỉ là danh từ mà thôi:
"...Niết Bàn chẳng khác gì âm phủ..."... 

Khi giác ngộ các vị Bồ Tát thấy rằng chúng sanh đau khổ vì những dục vọng ích kỷ, để từ đó phát khởi tâm nguyện cứu độ bao la như Địa Tạng Đại Sĩ lao vào địa ngục để cứu vớt những chúng sinh trầm luân trong biển áị Trong bao ngàn năm qua con người đã đau khổ nhiều, thế kỷ chúng ta ngày nay phải là thế kỷ của sự giài thoát. Lời nói đó như một xác quyết với chính mình:
"...Thế kỷ mới mang linh hồn Địa Tạng ..." 

Những tình tự, những đạo tâm đó tuy đã nung nấu từ nơi quê nhà xa xôi, miền Nam hiền hòa, nơi mà cây vú sữa là một biểu tượng cho tình cảm quê hương đằm thắm đó, nhưng tác giả cũng chỉ thấy mình chỉ là kẻ mới tập tu, chỉ là một "chú tiểu" mới bước vào Chùa Đại Bi để học những bài học vỡ lòng về tình yêu cao thượng đó.
"...Nhớ cây vú sữa hiên nhà 
Nhớ ta chú tiểu thiệt thà...biết yêu ..." ... 

Qua những phân tích trên chúng ta thấy, nhà thơ Du Tử Lê ?ã sử dụng tài tình những thuật ngữ Phật Giáo giàu hình ảnh và ý nghĩạ Chỉ một vài nét chấm phá nhà thơ đã diễn tả ra một thế giới huy hoàng mênh mông của Hoa Nghiêm, của Thiền, của Tịnh Độ.. Qua những vần thơ đó chúng ta thấy cái hiểu về Phật Giáo của tác giả không dừng lại trên phương diện ngôn ngữ, mà là sự cảm nhận thâm sâu về nguồn sống tâm linh tịch mặc đó. Những rung cảm của nhà thơ chính là những rung cảm tuyệt vời của những hành giả đang đi sâu vào nội quán. 

Trên đây là những cảm nhận chủ quan của tôi về những câu thơ dễ gây ngộ nhận của tác giả, xin ghi lại đây với ước mong "mua vui cũng được một vài trống canh".

Xin cảm ơn tất cả những ý kiến của quý vị đã đọc thơ Du Tử Lê với tất cả những tấm lòng chân thành của mình.

Kính bái,
Votandang


From:  "Chon.Nhu" <chon.nhu@v...> 
Date: Fri Sep 26, 2003  2:34 am
Subject:  Re: [tubi] Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê

Thưa Quí Bạn Đạo

Nếu đây không phải là diễn đàn của Phật tử, thì tôi sẽ không đóng góp ý kiến làm gì về bài thơ "rỗng tuyếch" của Du Tử Lê.  Bài thơ rõ ràng là rỗng tuyếch vì chẳng khác những anh chàng dốt chữ thích nói những danh từ "cao siêu" để chứng tỏ mình uyên bác mà lại không hiểu gì về ý nghĩa của chữ.  Dùng chữ "rỗng" như thế mà lại có kẻ tôn xưng là dùngchữ rất tài tình!

Ngoài ý kiến văn chương "rỗng tuyếch" ở trên, tôi không có ý phê bình gì về DTL trong vấn đề Phật Pháp.  Vì chưa từng nghe ông ta xưng là Phật tử nên ông ta muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói trong thơ văn của ông.  Điều đáng nói ra đây là nói với những ai tự nghĩ mình là Phật Tử, biết TÔN KÍNH PHẬT, TÔN KÍNH PHÁP, TÔN KÍNH TĂNG, có LÝ TƯỞNG GIẢI THOÁT mà lại có thể đem phổ biến sự ca ngợi, một bài thơ diễn tả hình ảnh của một loại TĂNG SĨ hạ liệt, khinh thường GIÁO PHÁP, và coi hình ảnh PHẬT không đáng chiêm ngưởng bằng hình ảnh người yêu của mình.

1) BÀI THƠ KHÔNG TÔN KÍNH TĂNG BẢO: Những ai gọi là Phật tử đều hiểu rằng TĂNG là hình ảnh cao quí của PHẬT là TRƯỞNG TỬ NHƯ LAI có phận sự truyền thừa lại Giáo Lý Giải Thoát cho chúng sanh.  Ở đây bài thơ lại thi vị hóa một vị Tăng hạ liệt chỉ theo đuổi tình yêu vị kỷ của mình, chỉ biết "tụng kinh tình yêu" cho riêng mình  (thế mà lại có kẻ ngu dốt cho tình yêu này ngang hàng với đức Từ Bi của Phật).    Không ai bắt mình khoác áo tu hành.  Cũng không ai bắt mình tiếp tục tu hành nếu không theo nổị   Nhưng mỗi khi đã mặc y áo của Phật, đã ăn của cúng dường của bá tánh mà còn lừa đảo Phật, lừa đảo bá tánh, tạo lầm lạc cho chúng sanh, là không thể tha thứ.   Quân đội của thế gian còn có kỷ cương để trừng phạt kẻ phạm quân kỷ.   GIỚI LUẬT của Chư Phật không lẽ lại không có kỷ cương bằng thế gian hay saỏ   Những ai hoan hĩ với một kẻ Sa Di hạ liệt như vậy hẳn muốn cùng đi vào "cọng nghiệp" hướng về Địa Ngục?

2) BÀI THƠ KHÔNG TÔN KÍNH PHÁP BẢO: Tất cả Chư Phật đều tôn kính GIÁO PHÁP vì GIÁO PHÁP là con đường giải thoát, là con đường hạnh phúc cho tất cả chúng sanh.  GIÁO PHÁP cũng là phương cách sản sinh ra tất cả Chư Phật.  Đa số các trong kinh lớn của Đại Thừa, Phật đều ca ngợi rằng trì tụng học hỏi kinh tạng còn Phước Đức hơn ngàn vạn lần cúng dường Chư Phật.  Như vậy đủ biết GIÁO PHÁP đáng được tôn thờ cở chừng nàọ   Thế mà trong bài thơ của DTL tên sa di hạ liệt tụng kinh tình yêu như là kinh Phật: "...Hôm nay quỳ dưới chân Bồ Tát (hình ảnh của người yêu) tụng một pho tình-yêu-Hoa-Nghiêm..."  và rồi coi "...Niết Bàn chẳng khác gì âm phủ..."  DTL muốn nói gì thì nói, nhưng những người Phật tử biết TÔN KÍNH GIÁO PHÁP không thể chấp nhận những cách ăn nói như thế.

3) BÀI THƠ KHÔNG TÔN KÍNH PHẬT BẢO: Đối với người Phật tử đã hiểu Đạo thì không hình ảnh nào cao quí bằng PHẬT và các vị BỒ TÁT vì các ngài đã Bố Thí vô lượng thân mạng cho chúng sanh.  Đã gian truân khổ tu qua vô số Đại Kiếp mới tìm được Giáo Lý để giải thoát chúng sanh.  Nếu mỗi Đại Kiếp là 782*10**20 năm, tức 78200000000000000000000 (20 con số zerós) năm thì đủ biết công khó tu hành của các ngài thật không thể tưởng tượng nổị  Thế mà tên Sa Di hạ liệt trong thơ Du Tử Lê lại không tôn quí hình ảnh đó, trái lại:

"Thiền viện tôi trưng chỉ ảnh em ...vô chấp, em ngồi như Quan Âm" hoặc "Thấy trong Địa Tạng em và mẹ  Tam Bảo theo tôi: có dáng người" (TAM BẢO = Mẹ, Em, và Tôỉ?)
-----------

Nói tóm lại tôi không thấy "Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê"  vì nếu thật có ảnh hưởng thì ông ta đã nói lên những lời tôn xưng cao quí do ảnh hưởng của Giáo Pháp chỉ dạy cho.   Sự thật không phải vậỵ  Ông ta vẫn là ông tạ   Ông ta chỉ muốn phô trương chơi chữ một cách "rỗng tuyếch" như tôi nói ở trên.  Có thể Ông ta gây ảnh hưởng ngược trên hàng Phật tử ngu dốt thì đúng hơn. 

Một lần nữa tôi muốn nói rằng, ở đây tôi không hề bình phẩm Du Tử Lê hoặc thơ văn của ông ta mà tôi chỉ chê trách những ai gọi là Phật tử có học hành Giáo Pháp, biết TÔN KÍNH PHẬT, PHÁP, TĂNG mà lại đem phô trương những lời thơ coi thường TAM BẢO như vậỵ   Chỉ có hàng Phật tử ngu dốt, hoặc các loại Tăng hạ liệt, hoặc thân nhân bạn bè cùng loại, mới có thể cùng nhau bênh vực thơ văn như vậỵ   Nếu là Phật Tử thật sự đã thấy lỗi, hãy thành tâm sám hối.


From: "hongnhu96" <hongnhu96@ỵ..> 
Date:  Fri Sep 26, 2003  6:05 am
Subject:  Re: Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê

HNhư: 
Mấy hôm nay theo dõi vấn đề này nhưng không kiếm đâu ra thời gian để viết góp chút ý kiến...

Hôm qua mới vừa gặp được 1 đoạn của HT Thích Trí Quang nói về Ái, xin trích ra d-ây chia sẻ cùng quí đạo hữụ 

Nói thật ngắn về cảm tưởng của tôi về vấn đề này: tôi vì đang học theo hạnh không cãi, nên ai nói sao mình cũng xin tôn trọng, dù có đồng ý hay không . Nhưng đó là tôi ba phải, chứ luân hồi không ba phảị Luân hồi ví như cái bánh xe, xoay chiều này thì siết lại, xoay chiều kia thì gỡ ra, không sai chạỵ Mà xoay theo chiều nào, chỉ tùy vào 1 điều là nghiệp quả, không phải do qui ước của con người đặt rạ 

Phật không phá được bánh xe này dùm mình, chỉ có thể chỉ cho mình thấy nghiệp nào thì khiến bánh xe xoay theo chiều nàọ Rồi tự mình tin hay không tin, theo hay không theo, muốn gỡ hay không muốn gỡ.

Mà Phật dạy Ái chính là xăng nhớt khiến bánh xe luân hồi chạy bon bon. Ái tình nam nữ, chỉ là 1 phần trong chữ Ái Phật nói tớị Mà đã là Ái thì không kể thanh cao hay thô tục, đều chuyển đẩy bánh xe luân hồị 

Vậy Ái đó là gì, xin mời đọc đoạn trích dưới đây của HT Trí Quang. Biết rõ Ái thủ phạm của Luân hồi là gì rồi, chừng đó cứ tùy tiện xét thơ tình Du Tử Lê có bị vướng vào cái loại Ái trầm luân ấy hay không. 

Trích Đọc Pháp Cú Nam Tông, HT Thích Trí Quang.

....Bây giờ nói Ái. Ái ở đây là ái trong thành ngữ « ái tận niết bàn » (niết bàn là ái tận diệt). Ái đó có thể nói là lưu luyến - lưu luyến đời sống luân hồi. Pc Pali cũng đã phân tích đơn giản cái đối tượng bị hủy diệt của ý thức vô lậu là 5 hạ phần kiết và 5 thượng phần kiết. Pháp số này sẽ nói ở sau, chỗ thích hợp. Ở đây chỉ nói, tất cả cái xấu, cái dơ bẩn phiền não ấy toàn là các dạng lưu luyến (ái) và mù quáng (vô minh), nói tới nữa, mù quáng chính là sự mù quáng của lưu luyến. Do vậy, trong trường hợp này, ái hàm có đủ hết các dạng phiền não. Chính đó là lý do Pc Pali nói ái là thợ làm nhà, là mẹ : mẹ sinh ra cái thân 5 uẩn, thợ làm ra cái nhà luân hồi. Trong chữ kép, ái hay được nói bằng ái dục, dục vọng, dục lạc. Cũng có thể và nên phân tách một chút. Ái dục là cái gốc ; cái gốc nói rộng là sự lưu luyến, nhưng trong cõi Dục (thế giới tình dục) này thì cái tim của sự lưu luyến là dục, là tình dục. Tình dục là sự khao khát của giác quan thì gọi là dục vọng. Dục vọng, nỗi khao khát ấy là dục lạc : lạc thú thỏa mãn giác quan. Cái nhục dục ngoài đời nói, chỉ là xúc giác. Truyện tích Pc Pali hay nói dục vọng và dục lạc như vậy. 

Cái ái đủ dạng tình dục, dục vọng và dục lạc như vậy dẫn đến thủ : sự hoạt động biểu thị chiếm đoạt những gì mình ưa - tức có nghĩa chống đối những gì mình ghét. Thủ, như vậy, là Nghiệp, nghiệp hữu lậu. Do nghiệp như vậy mà ta đang sống đời sống con người đây có nghĩa đang trở thành, hình thành đời sống khác rồi. Rõ hơn, một người đang sống đây mà sự sống ấy đã làm cho người ấy còn là con người, hay khá hơn nữa là hiền thiện, hay tệ hơn nữa là con vật. « Muốn biết đời trước làm gì thì cứ nhìn đời này là gì, muốn biết đời sau là gì thì cứ nhìn đời này làm gì ». Do vậy, đời sống tạo ra đời sống, dòng nước đục và chảy ngược này là luân hồi - là đời sau, những đời sau. 

Nhìn cách nói 12 chi duyên khởi, dầu chỉ mấy chi quan trọng thôi, cũng đủ thấy như vầy. Trong vô lượng đời trước mà chỉ nói cái đời trước đời này thì sự mù quáng (vô minh) hoạt động (hành) mà thành nghiệp thức (thức) ; nghiệp thức ấy, với mọi tiềm năng của sự mù quáng hoạt động, nó biểu hiện  ra  sự  liên tục của   sinh  mạng  (danh sắc : tâm vật lý hóa hợp) ; tâm vật lý này từ giai đoạn tượng hình trong thai đến giai đoạn hoàn thành ra thai thì 6 giác quan sinh hoạt với 6 đối tượng (lục nhập) ; sự sinh hoạt đó chính là sự giao tiếp (xúc) và cảm giác (thọ). Ngang đây là cái mốc, bởi vì dòng sống với lục nhập và xúc, thọ, mà vẫn chưa có vấn đề gì thì đó là sự siêu thoát của bậc « thiện căn sinh đắc », dòng nước đã quay lại chảy xuôi. Nếu dòng nước tiếp tục chảy ngược với ái, thủ, thì có 2 trường hợp. Trường hợp thứ nhất, ái thủ chưa hình thành hữu một cách nặng nề, hoặc đã hình thành nặng nề đi nữa, mà « đang ngã vẫn cố đứng lên được » thì nhờ sự cố đứng lên đó, với sự khuyến khích của bậc đại thiện tri thức, thì đó là bậc « thiện căn tu đắc ». Trường hợp thứ hai, dòng nước chảy ngược cứ được cho chảy, ái thủ hình thành hữu, mà là cái hữu quá vẩn đục, thì thật phí kiếp làm người. Như thế, nói đại khái, Ái Thủ Hữu đời này là Vô minh Hành Thức đời sau, và đó là luân hồi ; nhưng nếu Ái ngừng, làm cho Thủ và Hữu cũng ngừng thì đó là niết bàn. Và đó là sự giải thoát, sự « tự lợi » mà Pc Pali đã nói làm gì cũng đừng quên. ....


From: "hai520222" <hai520222@ỵ..> 
Date:  Sat Sep 27, 2003  3:42 pm
Subject:  Re: Ảnh Hưởng Phật Giáo trong thơ Du Tử Lê

Kính chị Hong Nhu and all:

Cảm ơn chị HN về sự trích dẫn HT Trí Quang với lời giới thiệu Pháp Cú Kinh. Nhân việc HT/TQ nói về Ái Dục, nay xin phép bàn thêm về cái lực vô minh này trong nghệ thuật, mà bản thân tôi cũng từng sụp bẫy trong nhiều na(m (đúng ra là từ vô lượng kiếp).

Mình là chúng sinh cõi Dục, nên khi chưa vào thánh quả, hay chưa vào vị bất thối chuyển, thì làm gì hay nghĩ gì đều từ Dục, do Dục và bởi Dục mà rạ Phật nói, cõi này như hầm lửa, đáng sợ lắm. Các vị Tổ ngày xưa khuyến tấn tu hành bằng cách nói là không chịu tu thì "coi chừng thác vào thai trâu bụng ngựạ" Vì làm sao biết kiếp sau mình về đâu, nhỡ nghiệp ác bao nhiêu kiếp dồn về thì saọ Nhưng một cách bình thường, đã biết đạo, chỉ cần nghĩ tới kiếp sau dù có là hoàng tử Ả Rập thì cũng đáng sợ rồi, chứ đừng nói tới đầu thai vào bụng một phụ nữ Phi Châụ Cho nên phải rời mầm Ái Dục, vì nó kéo mình về cõi nàỵ

Cho nên việc Mr. Du Tử Lê làm thơ đọa như thế là thường, bởi vì anh là chúng sinh cõi Dục. Ddiều ngạc nhiên chính là trình độ học Phật của các vị sư promote mấy dòng thơ như thế. Chỗ này phải nói thật, tôi có tình riêng với Du Tử Lê, vì bên cạnh quan hệ văn nghệ, thì khoảng 8, 9 năm trước, thỉnh thoảng khi phải lái xe đi hơi xa một chút, tôi ẵm đức con sơ sinh sang nhờ chị Du Tử Lê babysit giùm. Chính tôi cũng là người chỉ anh Du Tử Lê sử dụng VNI Word (thời của DOS). Nhưng những lời bàn nơi đây chỉ thuần túy về Phật học thôị 

Việc chúng sinh cõi Dục làm thơ cho cõi Dục là chuyện tự nhiên, vì động niệm nào của chúng sinh cũng không lìa dục nổị Ngay như tôi thời thanh niên, tự cho mình có nhiệm vụ hộ trì chính pháp cũng đã làm nhiều bài thơ đầy sinh tử luân hồi, thí dụ như câu "dẫu nát thân cũng về ôm núi đá, chận muôn trùng trận gió Bắc căm căm..." Sau này hiểu đạo mới thấy thế là sai, đó là lời nguyện đầu thai vào cõi Dục với đầy tà kiến. Sau được nghe Thầy tôi nói, "người ta có chĩa súng vào ngực mình, mình cũng không dậy nổi căm thù" hay khi đọc tiền kiếp Thích Ca bị cắt tay chân, vẫn khởi nguyện cứu độ cho hung thủ... mới thấy tất cả chúng sinh đều là phước điền, là cha mẹ nhiều đời của mình.

Với tâm thức như vậy, ở hải ngoại tôi giao du đủ hạng ngườị Từ trắng tới đen, từ lành tới dữ. Nói nhỏ thôi, tôi có một người bạn thân đã từng kiếm tiền bằng cách viết truyện sex (loại xxx), bây giờ họ bỏ nghề này rồi, và bây giờ bạn này đang tập ngồi thiền.Tôi vẫn nhìn họ với lòng từ bi (dĩ nhiên, bản thân tôi tu chưa bao nhiêu, phải nói thiệt, nhưng lời Phật dạy luôn nằm lòng.)

Bây giờ thử nghĩ xem, 24 giờ trong ngày, có gì mà không lôi buộc mình vào cõi dục? Mình buông thả theo nó thì mình tiêu tùng, mà mình chống cự nó mà chống sai thì cũng chết.

Thí dụ, như tôi hốt nhiên khởi tâm, phải chi mình trúng số thì mình sẽ xây chùa cho mấy sư huynh, sư tỷ của mình -- tôi nghiệp, họ tu lâu rồi mà vẫn homeless. Tâm này là tâm cõi dục, dù là tâm thiện. Nếu không đủ phước lực cho kiếp này trúng số, và nếu các kiếp trước có dư phước lực để trổ quả kiếp kế tiếp, thì sau kiếp này, tôi có thể đầu thai vào nhà ông triệu phú ở Chợ Lớn (cũng 1 hình thức trúng số) và rồi duyên xô đẩy sẽ xây chùa cho mấy vị sư, ni nào đó, có thể là chính sư huynh, tỷ của mình hay quyến thuộc kế pháp của họ Mới biết giải thoát là chuyện khó. Nhưng ngay khi khởi tâm xây chùa, mà mình biết là tâm sinh tử luân hồi, mà mình đè nén tâm này xuống, thì lại mất thiện căn. Thì cũng là tâm chúng sinh. Mới biết, hễ có với không, hễ thiện với ác đều là sai lệch.

Hay thí dụ khác, như khi xem phim bộ Hồng Kông, tôi thấy cô tài tử đẹp, bèn mê liền. Tôi sưu tập hình ảnh cô này, dán đầy nhà, phim chất đầy tủ. Kiếp sau, nếu không có nhân duyên nào khác can thiệp (mà phải mạnh hơn), thì tôi có thể đầu thai vào bụng 1 bà xẩm ở Hồng Kông, hay Đài Loan, nơi thế lực, ảnh hưởng và quyến thuộc của cô tài tử này đang bao trùm. Nhưng nếu khởi tâm xua đuỔi hình ảnh cô này ra khỏi tâm mình, xem đó như là đối thủ thì lại buộc tâm mình theo chiều nghịch lạị Kiếp sau, có thể sinh vào gia đình Nho Giáo cổ hủ Hồng Kông, thù nghịch với các loại phim lãng mạn đó. Mới biết, tu là khó. Các bộ luận phân tích cách đối trị rất là kỹ. Cực kỳ là khó. Hễ bật TV lên, là thấy nghiệp cõi Dục lôi kéo mình liền. Không biết đối trị là hỏng.

Vì lý do chú trọng tới nhân của sự thác sinh như vậy, pháp môn Niệm Phật mới luôn luôn tạo duyên vãng sanh và dùng sự hộ niệm cho cận tử nghiệp lành hướng dẫn.Cho nên, bình thường, người học Phật cần khẩn cấp tu vào vị bất thối chuyển, trước khi chơi với đủ loại chúng sinh cõi Dục.

Chỗ này phải nói thẳng, hy vọng giúp cho vị sư có bí danh BM38, người trách nhiệm chuyên đề văn hóa Phat Giao của Phat Hoc Duong Van Hanh, nơi tổ chức vụ thơ Du Tử Lê. Thơ của anh Du Tử Lê là thơ của sinh tử luân hồi. Vị sư BM38 (không hiểu sao thầy không dùng pháp danh) còn khen câu "Khi tôi chết, hãy mang tôi ra biển..." của Du Tử Lê là hay, là yêu thiết tha quê hương. Khổ quá thầy ơi, cái hay của cõi Dục mà có gì đâu.  Miệng của 1 vị sư chỉ nên để nói lời Phật, chỉ nên tụng kinh Phật... nói chi câu thơ chết rôì còn không chịu siêu thoát... Thơ của Du Tử Lê có cái hay của cõi dục, đời sau có thể để anh ngang hàng với Nguyễn Du, Đo Phủ... nhưng đó là chuyện chúng sinh, không phải chuyện nhà chùạ Phat Giao bị các vị như Dao Suy Duy Tue (www.daosuduytuẹcom) quậy đủ rồi, thầy đừng vô tình làm hỏng thêm.

Chỗ này thật sự tôi rất liberal, phóng khoáng, nhưng luôn luôn tạo cơ duyên. Thí dụ, tôi vẫn đang làm việc với các anh chị Tạp Chí Thơ (www.tapchithọcom) trong này có những bài thơ tục tĩu tới bẩn cả màn hình, có đẹp thơ mộng tới thơm cả trang giấỵ Nhưng lòng tôi nhìn họ bình đẳng, chúng sinh cõi Dục mà, phải là nhân dịa tu hành cho mình. Phật không bỏ chúng sinh, thì sao mình không gây duyên lành cho họ

Kính chị HN
Chị là người cầm bút, nên tôi xin trình thêm chỗ nàỵ Mỗi khi tôi làm thơ, hay viết gì đó, thì sợ nghiệp la('m. Nên hễ ngồi xuống cầm bút (bây giờ là bật máy) là phát nguyện "con xin nguyện tất cả những lời con viết đều là lời ca ngợi Phật, ca ngợi Pháp, ca ngợi Tăng; và tất cả các chữ này sẽ gieo làm nhân thành quả Vô Thượng Bồ dề cho tất cả độc giả." Thì dù mình viết dở đi nữa, trong lòng cũng không ái ngại sợ sệt, mà ngồi viết cả ngày và gần cả đêm là chuyện thường. Lấy việc ngồi viết xem như ngồi thiền thì sẽ vui liền.

Bây giờ, chuyện bàn thơ Du Tử Lê đã lỡ rồi, cũng không thấy vị sư BM38 viết bài nào giải thích chuyện vì sao thơ sinh tử luân hồi lại đưa vào cho Phật tử học. Thôi thì chúng ta cho vào quá khứ là vừạ Càng nói tới, là càng gieo nhân sinh tử luân hồi cho người nghe, người đọc. Hãy xem như là chuyện của chúng sinh. Nếu chưa vào ngôi bất thối chuyển, mà bốc lửa thì tất phỏng taỵ

Tất cả những lời này được viết với tâm nguyện làm dịu đi sự phiền não của mọi ngườị Nếu có sai trái, hay gây ra nghiệp dữ nào trong cuộc bàn luận, xin cho con chịu mọi ác quả; và nếu có phước lành nào, xin hồi hướng tới nhất thiết chúng sinh, trọn thành Phật đạo

Phan Tấn Hải



Ghi Chú của BBT:
Vị Sư mà Đạo hữu Phan tấn Hải đề cập đến có bí số BM 16 chứ không phải BM 38.  Theo MC điều khiển chương trình giới thiệu BM 16 là ThượngTọa Cố Vấn (khâu Chuyên Đề của Chuaquocte online Phat Học Đường Vạn Hạnh)

Nguyên văn bài thơ như sau:

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển 
đời lưu vong không cả một ngôi mồ 
vùi đất lạ thịt xương e khó rã 
hồn không đi sao trở lại quê nhà 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển 
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi 
bên kia biển là quê hương tôi đó 
rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển 
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi 
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối 
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển 
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi 
những năm trước bao người ngon miệng cá 
thì sá gì thêm một xác cong queo 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển 
cho tôi về gặp lại các con tôi 
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi 
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối 

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển 
và trên đường hãy nhớ hát quốc ca 
ôi lâu quá không còn ai hát nữa 
(bài hát giờ cũng như một hồn ma) 

Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết 
đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn. 
Du Tử lê
12-77
 
 
 
 

Bài Đọc Thêm:
Tứ Vô Lượng Tâm, Đại đức Narada, 1980 - Phạm Kim Khánh dịch Việt
Vô Duyên Từ Và Ðồng Thể Bi
Tâm Từ - Lòng Thương Bình Đẳng, Thích Nữ Trí Hải
Tâm Đại Bi, Thích Nữ Trí Hải
Từ Bi Là Nền Tảng Của Hoà Bình Thế Giới, Tenzin Gyatso, Bảo Hoàn lược dịch
 
 

Trở Về: Trang 01

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap