c
He's Leaving Home,
quyển tự truyện của tác giả Kiyohiro Miura, đã được giải
thưởng đặc biệt AKUTAGAMA của Nhật. Quyển sách miêu tả
về sự mâu thuẫn trong tình cảm của các bậc cha mẹ có
con xuất gia : Họ tự hào vì con đường cao quí con mình đã
chọn, đồng thời đau khổ vì sự chia ly, vì quyết định
quá sớm, quá đột ngột của con mình.
Dịch theo bản
tiếng Anh của Jeff Shore.
Lần đầu tiên,
khi con trai tôi nói muốn đi tu, tôi rất ngạc nhiên, Ðó là
một buổi sáng chủ nhật, đầu xuân, khi chúng tôi như lệ
thường đang trên đường đến thiền viện. Năm học mới
sắp khai giảng và nó sửa soạn vào lớp ba. Khi đang đi với
nhau, nó ngước lên nhìn tôi và nói : "Cha, làm ơn xin với
Thầy dùm con".
Ðó là lần đầu
tiên con trai tôi xin xỏ điều gì giống như thế. Thường
nó chẳng nói gì, trừ khi được hỏi đến. Mà hình như ý
nghĩ muốn xuất gia không phải vừa chợt thoáng qua đầu nó.
Tôi có cảm tưởng như nó đã nghiền ngẫm về điều đó
một thời gian, và bây giờ mới nói ra.
Tuy nhiên, tôi
cũng không coi điều yêu cầu đó là nghiêm chỉnh. Trước
hết là vì tôi bất ngờ. Dầu tôi vẫn dẫn nó theo trong các
buổi tọa thiền, nhưng tôi chưa bao giờ bắt nó ngồi thiền.
Tôi dẫn nó theo giống như là hai cha con đi chơi công viên
nào đó. Hai nữa là vì nó đang theo d i chương trình "Ikkyu-san"
trên TV, một chương trình hoạt hình về một thiền sư Nhật.
Vì thế, sau đó tôi quên khuấy đi lời yêu cầu của nó.
Nhưng con trai tôi
thì không."Cha, cha đã thưa với Thầy về chuyện đó chưa
?".
Ðó cũng vào một
buổi sáng chủ nhật, hai hay ba tuần sau, cũng vaò lúc chúng
tôi đang trên đường đến chùa. Tôi chợt nhận ra cũng cái
nhìn van xin, lo lắng như lần trước. Mỗi chủ nhật, sau giờ
tọa thiền, chúng tôi hay ở lại, thọ trai, trò chuyện thân
mật với vị trụ trì. Những lúc như thế, gương mặt phụng
phịu của con tôi như thúc giục "Kìa cha.. Sao cha không hỏi
Thầy đi ?"
Vì thế, hôm ấy
ở bàn ăn, tôi nói, trong tiếng cười "Hình như con trai con
muốn xin xuất gia!". Làm được vậy, tôi coi như đã tròn
lời hứa với con.
"Vậy sao ?", Thầy
trụ trì nói, rồi quay nhìn con tôi, nở nụ cười thân thiện.
"Con có là nhà sư tốt không?".
"Dạ có", con trai
tôi trả lời với cái gật đầu sốt sắng.
Tôi hơi sững
lại : không ngờ câu chuyện lại xoay theo chiều hướng đó.
Tôi ngỡ là vị trụ trì cũng coi đó là chuyện trẻ con, một
câu nói đùa thôi. Nhưng đối với thầy trụ trì, chuyện
đó không phải chuyện đùa. Tôi đã quên là thầy trụ trì
luôn nghiêm chỉnh trước mọi việc kể cả những chuyện
của trẻ con. Tôi vội vàng nói đỡ : "Nhưng nó còn đang học
tiểu học, ai mà biết nó sẽ thay đổi lúc nào, thưa thầy
? Chắc là vì nó đang xem chương trình hoạt hình gì đó mà.
Thôi ta hãy bàn đến chuyện đó sau khi nó học xong tiểu học".
"Có phải vì con
đang coi các phim hoạt hình "Ikkyu-san" không ?", vị trụ trì
hỏi, dịu dàng nhìn vào mắt đứa trẻ. Nó lắc chiếc đầu
nhỏ bé của mình, nói Không.
"Hay ! Hay lắm
! Nhưng con còn nhỏ lắm. Hãy chờ khi con lớn hơn". Rồi thầy
trụ trì nói về các công việc phải làm trong chùa, nhưng
trong cách nói của người, không phải là của một người
lớn nói xuống với đứa bé.
Sau đó, mỗi khi
nói về con trai tôi, thầy hay nhìn vào mắt con tôi, rồi trêu
chọc, nói những lời như "Nầy Ryota, con chắc chắn sẽ làm
nhà sư chứ ?" hay, "Nè, chú tiểu nhỏ ! Con có siêng học không
?"
Sau đó, tôi bắt
đầu nói , "Phải sau khi nó lên trung học".
Nhưng tôi vẫn
lo vì thấy thầy trụ trì có vẻ nghiêm chỉnh quá về chuyện
này.
Một ngày kia trên
đường từ thiền viện về, tôi nói : "Nếu con trở thành
một thiền tăng, con phải làm hết mọi thứ từ quét dọn,
lau chùi, cọ rửa nhiều việc lắm đó. Nếu phải làm những
thứ đó, con còn muốn đi tu không ?"
Nhưng con trai tôi,
thích làm các công việc nặng nhọc, thể thao, hay mỹ thuật
hơn là học hành, gật đầu, mặt làm nghiêm, nói :
"Dạ muốn".
Khi nó lên lớp
bốn, năm rồi sáu, tôi tiếp tục hỏi nó về việc đó. Nhưng
câu trả lời của nó không hề thay đổi. Lúc nào cũng "Dạ
muốn". Không nói gì hơn.
Lúc học năm thứ
ba trường tiểu học, sau khi bắt đầu nói muốn trở thành
một nhà sư, con trai tôi nói muốn bắt đầu ngồi thiền như
các người lớn. Chúng tôi thường ngồi thiền ba buổi, mỗi
buổi bốn mươi lăm phút, nhưng chỉ sau vài phút là con tôi
bắt đầu xoay trở không ngừng, sau nó bỏ đi ra ngoài. Nhưng
rồi nó có thể ngồi lâu hơn : đầu tiên là một buổi, sau
đó hơn lên, cho đến lớp sáu thì nó có thể ngồi hết các
buổi lâu như người lớn. Nó ngồi trong tư thế kiết già,
và có thể xếp chân mà không cần dùng đến tay. Có lẽ các
vị thiền sư đầy kinh nghiệm cũng có thể ngồi như thế,
nhưng với những người như tôi, bắt đầu tu thiền khi đã
trung niên, không thể ngồi kéo chân lên mà không dùng đến
tay, mà ngay cả khi dùng tay, chúng tôi cũng phải thường sửa
đổi thế ngồi tới lui.
Tôi nghĩ cơ thể
con tôi dẻo dai vì nó còn quá nhỏ. Nhưng ngoài chuyện làm
sao nó có thể ngồi xếp chân, chuyện lạ hơn cả là, làm
sao đứa trẻ này, con trai của tôi, đứa lúc nào cũng nhảy
nhót, là đầu đảng của đám học trò phá phách ở trường,
nhưng lúc ở chùa, lại có thể trở thành một người hoàn
toàn khác như thế.
"Thì cũng nhờ
cha nó," mọi người nói. Một người cô thường chăm lo cho
nó từ khi nó mới lọt lòng, nói với tôi giọng đầy trách
nóc, "Nó trở thành như thế cũng do em đi chùa hay dẫn nó
theo !"
Ðiều cô ấy
nói cũng đúng, nhưng việc nó luôn vui vẻ đi theo tôi, cũng
đúng. Ngay chính việc đó cũng là lạ. Chưa có bao giờ nó
nói không muốn đi vì bận chơi với bạn bè. Mỗi chủ nhật,
nó đều cầm cái giỏ xách, trong đó có phần cơm trưa của
nó, giống như một ngày đi học, rồi trong khi mẹ và em gái
còn đang ngủ, nó ra đi với tôi, Tôi nghĩ có lẽ vì nó thích
được ngừng lại giữa đường ăn sáng ở tiệm McDonald (LND
Một loại tiệm fast-food chuyên bán bánh mì hamburger nổi tiếng
ở Mỹ) hay ở tiệm hủ tíu cạnh nhà ga, nơi chúng tôi "hút"
những cọng bún gạo tròn, nóng. Dầu vậy, khi đã đến chùa,
đối với một đứa trẻ cả ngày phải ở chùa như thế
sẽ dài, và nhàm chán biết bao.
Nó sẽ làm gì
từ lúc đến chùa cho đến khoảng hai giờ, khi buổi tọa
thiền chấm dứt để chúng thọ trai ? Lúc đầu, nó ngồi
vẽ hình trên giấy bằng bút chì. Có lần, nó bị rầy vì
vẽ lên cửa kéo. Ðôi khi bác già phụ việc trong chùa dẫn
nó đi chợ hay đi bắt các con ve sầu. Nhưng phần lớn thời
gian nó phải ở một mình. Không lẽ nó chỉ chơi với con
dế quanh quẩn chỗ ở của vị trụ trì, nơi có các ngôi
mộ, các cây dại bao quanh mà không cảm thấy buồn, cô đơn
sao ?
Nó cũng có lấy
mấy đồng tiền kẽm trong hộp công quả ra chơi, và giấu
mấy tượng Phật nhỏ đâu đó, nhưng tôi nghĩ những việc
đó xảy ra cũng vì nó buồn chán. Nhưng dầu nó có buồn chán
bao nhiêu, làm cha, tôi cũng chẳng giúp được gì. Người cha
chỉ có việc dẫn con đi về như một bổn phận. Và mỗi
chủ nhật, đứa con lại lẽo đẽo theo, không mảy may nghĩ
ngợi gì.
Trong một lần
đi bách bộ, vợ tôi và tôi đã khám phá ra Thiền viện Zenkaiji.
Sau gần mười năm lang thang ở Mỹ, tôi quay trở về Nhật
ở lứa tuổi ba mươi, cưới vợ và bắt đầu sống trong
khu chung cư mới được xây dựng ở ngoại ô Tokyo. Sau khi
dọn về chỗ mới, chúng tôi hay đi bách bộ để biết thêm
về các khu vực quanh đó.
Một lần, khi
lang thang đến một vùng đồi đã được san bằng chuẩn bị
cho một công trình xây dựng nào đó, chúng tôi chợt nhận
thấy mình đang đứng trong khuôn viên một ngôi chùa. Ðàng
kia những bức tượng Ziro (Ðịa Tạng) nấp dưới những sườn
hoa huệ thoai thoải. Ởđấy, cũng có các bức tượng Ðịa
Tạng mất đầu, gãy tay bị chôn ấp dưới đám cỏ dại.
Sau chúng tôi được biết là các bức tượng này đã bị
đem vứt bỏ ở đây từ thời kỳ chống Phật giáo, thời
đại Meiji (1868-1912).
Dưới chân đồi
có một cây chérie to. Một túp lều nhỏ ở dưới cây chérie,
và xa hơn nữa là cổng chính vào chùa, có lớn hơn, nhưng
mái vẫn lợp bằng tranh.
Ngôi chùa cổ
dường như đã bị bỏ quên từ khi được xây dựng khoảng
bảy trăm năm về trước vào thời Kamakura (1185-1333). May nhờ
có các công trình xây dựng đang phát triển, ngôi chùa như
được làm mới lạ. Ðồng thời cũng chính những mảnh đất
mênh mông đang được khai phá để xây dựng nhà cửa lại
làm cho ngôi chùa có nguy cơ bị " xóa sổ". Thật là một quang
cảnh lạ lùng.
" My goodness! An
old temple!" (Trời ơi! Một ngôi chùa cổ !), tôi buột miệng
kêu lên bằng tiếng Anh, vì những lúc ngạc nhiên hay thú vị
bất ngờ hình như ngôn ngữ này lại dễ dàng bật ra ở cửa
miệng tôi, hơn là tiếng Nhật.
Vợ tôi chỉ một
mảnh gỗ mỏng đóng ở cột vào chánh điện, nói:" Một ngôi
Thiền Viện".
"Look at it!" (Nhìn
kìa!), tôi nói trong sự ngạc nhiên, vẫn dùng tiếng Anh. Các
nét chữ Hán trên mảnh gỗ gãy góc bạc mầu, gần như lẫn
trong các thớ gỗ, khắc chữ: " Thiên đường Zenkaiji".
" Khó thể tưởng
nổi !". Tôi kêu lên, ghé mặt nhìn qua khe hở của cánh cửa
đóng lỏng lẻo. Sự tăm tối làm người ta nghĩ tới nơi
ẩn náu của các giống chồn tinh.
Lần khác chúng
tôi trở lại, đi vào khu hậu đường của chùa, nơi chúng
tôi tưởng là bỏ hoang, bỗng một trong những cánh cửa giấy
rách bỗng vụt mở, và trước mắt chúng tôi, không phải
là một con chồn, mà là hình dáng một người trong chiếc
kimono cũ rách. Như vợ tôi muốn tả là " Một vị Ziro hiện
hình"- một sự mô tả rất chính xác cho khuôn mặt tròn trĩnh,
bầu bĩnh như trẻ con, với đôi mắt nhỏ, dài. Ngay chính
nước da nâu đen cũng giống như của một vị Ðịa Tạng.
" Các người định
làm gì đó?", bóng người choàng chiếc áo cũ nói lớn. Mới
gặp lần đầu đã bị la, sau này chúng tôi biết đó không
phải là chuyện lạ, vì " vị thần này nổi tiếng hay la.
Bà ( vị Ziro này
là một vị sư nữ) nghĩ là chúng tôi phá cây cối hay gì
đó. Thầy (đáng lý tôi phải gọi là ni sư, nhưng vì bà quá
năng nổ, mạnh mẽ đến nỗi không có ai gọi bà như thế)
rất quý cây kiểng, và đã sưu tầm rất nhiều loại, trồng
quanh chùa. Vì ai cũng có thể đi vào khuôn viên chùa bằng
nhiều lối, nên dầu không phải để trộm thứ cây gì, họ
cũng thường dẫm đạp lên cây cỏ. Những gã lang thang trên
các xe gắn máy cũng đã đặt chân đến đây. Ni sư kể khi
đã mời chúng tôi bước vào khoảng sân đầy bóng nắng,
nơi Ni sư pha trà, hút ống điếu khi tiếp chuyện với chúng
tôi.
Mấy phút trước
đó, khi Ni sư vừa mới mở cửara, người đã nhìn chúng tôi
bằng cặp mắt nẩy lửa. Nhưng giờ, khi nói cười với chúng
tôi, khuôn mặt đó biến thành khuôn mặt của một Ziro hiền
hòa, thân thiện. Tôi không khỏi lo ngại cho việc một sư
nữ sống nơi hẻo lánh như thế này một mình.
Nhưng rồi tôi
thấy khó thể tin đó là một vị sư nữ, khi bà kể:Ỗ Có
một gã thanh niên vào đây trên xe gắn máy, thầy la hắn một
trận, đến nỗi hắn chạy bò càng, vứt cả xe mà chạy,
chắc là hắn tưởng gặp ma quỷ gì đó! Hì hì, " Ni sư cười
thành tiếng, giọng đục, rổn rang.
Trước đây một
ngôi chùa cổ kính, đã được xây dựng trên mảnh đất này
từ thời Heian (794-1185) bởi Ðại sư Bodhisattva Gyoki. Diện
tích chùa trước đây mênh mông bao gồm cả vùng đất này,
nhưng nông dân cứ lấn đất làm ruộng. Sau thế chiến thứ
II, không có giấy đất hay sơ đồ đất chính thức, vì thế
khi có cuộc cải cách ruộng đất , phạm vi đất chùa bị
thu hẹp lại. Không có người trụ trì, ngôi chùa dần đổ
nát, vì thế dân trong vùng đã yêu cầu Ni sư đến trụ trì,
chăm sóc chùa. Ni sư đã thề quyết phải trùng tu lại chùa
trước khi nhắm mắt.
Trên bức tường
nham nhở vì mưa nắng, treo một tấm biển gỗ với dòng Hán
tự:" Hãy nhìn ngay dưới chân mình!"
Chậm rãi, buông
ra từng tiếng, Ni sư nói:" Hãy nhìn ngay dưới chân mình đó
là cốt l i Thiền". Rồi bà tiếp thêm :" Thời bây giờ, ai
cũng chăm chăm nhìn tới phía trước, lúc nào cũng phía trước.
Nhưng phải nắm mũi họ lại, bắt họ phải chú tâm ngay dưới
chân mình. Ðó là Thiền định, chẳng có gì hơn". Nói xong,
Ni sư g g ống điếu của mình trên khay thuốc.
"
Thiền là gì?"
Câu hỏi đó đã
luôn ám ảnh trong đầu tôi kể từ khi tôi còn ở Mỹ. Ở
nước ngoài, người ta dễ thấy hụt hẫng khi không hiểu
biết về chính quê hương của mình. Một lần tôi bị một
người Mỹ hỏi Thiền là gì, và tôi không thể trả lời.
Không, còn tệ hơn thế nữa, tôi đã chế nhạo ông ta. Bởi
thế câu hỏi đó đã đọng lại tâm trí tôi mãi mãi.
Lúc đó, tôi đang
làm phiên dịch ở thành phố New York. Sống gần Greenwich Village,
tôi có thói quen vào các cuối tuần lang thang từ các tiệm
cà- phê có nhạc jazz, đến các vũ trường, các hộp đêm
thoát y, hay những chỗ đại loại như thế. Sống một mình
ở Manhattan dễ làm người ta thấy rất cô đơn. Nếu người
ta có thể đo lường sự cô đơn như thời tiết, thì ở Tokyo,
nếu mặc quần áo đầy đủ, tôi có thể chịu đựng được
nhiệt độ thấp dưới mức đông lạnh một chút. Nhưng ở
Mahattan, tôi cảm thấy nhiệt độ âm dưới số không rất
nhiều. Ðút tay túi quần để tìm chút hơi ấm truyền từ
thân thể, tôi cảm thấy sức sống thoi thóp trong tôi. Hình
như người ta đã chôn giấu sự cô đơn ngay trong lòng thành
phố, nên dù quanh tôi có bao nhiêu người, dù tôi đang ở
đâu luôn luôn tôi cảm thấy lạnh lẽo từ trong xương tủy.
Và nếu tôi không giã từ nó, có lẽ những bức tường xám
đó sẽ chôn vùi tôi không thương tiếc. Tôi thường lang thang
như thể người bị mộng du, đôi khi, cặp bồ với đám đàn
bà. Có lẽ tôi thèm hơi ấm của đồng loại.
Một đêm kia,
sau khi đã qua vài hộp đêm, tôi khá say vì đã phải kêu rượu
mạnh thay vì trả tiền vào cửa. Bước ra đường, tôi gặp
hai thanh niên Mỹ.
" Thiền là gỉ?",
một người hỏi. Có lẽ vì tôi đang ngất ngưởng đi với
một vẻ cô đơn xa vắng, giống như hình ảnh Thiền trong
tâm trí họ. Mệt mỏi vì đã lang thang qua những mê lộ ồn
ào các hộp đêm nơi da thịt được phơi bày lộ liễu, giờ
tôi bước đi trên đường với cảm giác chán nản ngay cả
cuộc đời.
Ðáng lý ra tôi
phải nói:" Tôi không biết," nhưng bỗng nhiên cái ý nghĩ muốn
trêu đùa với họ nổi lên. Lúc đó là thời kỳ Thiền đang
phát triển mạnh trong giới thanh niên trẻ ở Mỹ, tôi biết
Thiền rất thịnh hành nhất là đối với các nghệ sĩ tụ
họp ở Village, gần trường Ðại học. Hai thanh niên trẻ
này có vẻ như dân quê vừa từ ruộng đồng của họ ở
lowa hay Nebraska ra, và họ sốt sắng muốn hỏi về phong trào
Thiền nầy với bất cứ người Á đông nào họ chộp được
đầu tiên. Tôi muốn chọc phá họ một chút. Vì ngay chính
tôi cũng đang cô đơn, muốn có ai đó để chuyện trò.
Giả bộ như vừa
từ Nhật bản đế, bập bẹ chút ít tiếng Anh. Tôi làm như
đang nặn óc tìm chữ trong mớ từ ngữ giới hạn của mình,
và với cách phát âm rất tồi tệ tôi nói với họ về Thiền.
Chỉ vào người hỏi, vào chính tôi, vào tất cả mọi thứ
tôi nói:" Jis is Zen, Jis is Jen". ( Ðây là Thiền, đây là Thiền).
Người thanh niên thứ hai hình như cảm thấy điều gì không
ổn. Trong khi gã hỏi tôi thì đang ngóng cổ lên, nhìn tôi
trân trối.
Cuối cùng bạn
hắn hỏi :" Thôi đi, ông ấy đang chọc ghẹo mày đấy ",
và đẩy hắn đi. Hắn nhìn lại tôi lần nữa, nói:" Ông chọc
ghẹo tôi sao?"
"Ðâu có", tôi
nói, "Jis is Zen".
" Ðược, vậy
thì để tôi cho ông biết Thiền là cái gì". Vừa nói, hắn
vừa cung tay thủ thế.
" Bỏ đi", bạn
hắn nói, keó tay hắn lại.
Tôi lại nói "Jis
is Zen".
Hắm dứ dứ nắm
tay làm như sắp đấm vào mũi tôi. Nhưng rồi hắn xuôi tay
xuống, nói:" Thôi chào "Jis is Zen". Khi họ quay đi, bạn hắn
nói:" Cảm ơn đã chọc cười nhé, ông bạn!"
Hoàn hồn, tôi
cũng bỏ đi. Trên đường về, tôi lại vào uống rượu, nhưng
tôi cảm thấy hối hận, tôi muốn chạy theo họ để nói
vài lời xin lỗi. Hay là xin họ đổi địa chỉ để sau này
viết thư cho họ biết thật sự Thiền là gì. Kể từ lúc
đó, tôi cảm thấy như mình nợ hai người ấy một điều
gì.
Cuối cùng tôi
quyết định tham dự khóa tu Thiền vào mùa Ðông năm con trai
tôi ra đời. Sau này nghĩ lại tôi thấy điều đó còn hơn
là một bước ngoặt của định mệnh. Mùa đông năm đó tuyết
rơi nhiều. Tuyết rơi ngày tôi bắt đầu tu Thiền. Và tuyết
trắng xóa ngày con trai tôi chào đời. Ngắm những hạt tuyết
rơi lả tả, tôi có cảm giác như con tôi đã theo tuyết, rơi
xuống cuộc đời. Gương mặt nó tỏa rạng vẻ im lặng thánh
thiện ẩn giấu sau đôi mắt nhắm, giống như gương mặt
của một vị Ziro.
Ngắm nhìn nó
nằm lặng im trong nôi, đôi mắt nhìn bâng quơ, đôi lúc tôi
thấy nó bất chợt mỉm cười. Tôi nghĩ không biết có phải
vì nó nhớ lại ánh mắt thương yêu của ai đó nhìn nó từ
trên bầu trời đầy tuyết cái ngày đầu tiên của đời
nó.
Vị trụ trì,
Ni sư Gukai cho tôi một công án về "Không" (Mu) để suy gẫm.
Có lần một nhà sư hỏi thầy mình con chó có Phật tánh không?
Dầu trong các kinh tạng của Phật viết rằng tất cả chúng
sinh đều có Phật tánh, vị thiền sư Trung hoa tên Triệu Châu
(778-897) dưới đời Ðường, trả lời ngược lại : đó là
, ông chỉ đơn giản nói "Không".
"Bắt đầu từ
bây giờ, con phải suy gẫm về công án Không", Ni sư nói. Mình
mặc y vàng, ngồi trên sàn nhà, cây gậy Thiền(kyosaku) để
trên đùi, Ni sư có vẻ nghiêm trang hoàn toàn khác với lần
đầu tiên chúng tôi gặp.
" Bất cứ lúc
nào, dầu là con đang đi trên đường, ngồi tàu hỏa hay đang
chơi đùa với con cái, cũng phải nghĩ đến Không. Chỉ có
Không. Người nhìn, người được nhìn, cái nhìn, tất cả
đều là Không. Hãy nhớ lấy!" Nói xong, Ni sư dùng gậy Thiền
đánh vào vai tôi.
Vào một dịp
khác Ni sư lại nói với tôi:" Con phải biết Thiền không chỉ
là suy gẫm về cái Không. Thiền không chú trọng vào những
chuyện nhỏ nhặt như thế. KHÔNG chỉ là một phương tiện.
Nếu con quá bám víu vào cái Không, đó là Thiền chết. Ði
cũng là Thiền, ngồi trên tàu hỏa cũng là Thiền, chơi đùa
với con cái cũng là Thiền. Cả vũ trụ này không có gì ngoài
Thiền, không có gì ngoài công án. Ðó là Genjo-koan, nghĩa là
sự Tỉnh thức ngay trong giờ phút hiện tại".
Vợ tôi không
mấy vui lòng khi tôi bắt đầu học tu Thiền. Vì tôi bắt
đầu tu tập mà không mời rủ cô ấy. Một lần khi chuyện
này được khơi ra, cô ấy nói:" Anh chỉ đi, làm theo ý mình.
Chưa bao giờ anh hỏi em có muốn theo không?"
Lần đầu nghe
như thế, tôi hoảng kinh. Cô ấy đã sống ở Mỹ năm năm,
và tôi chẳng bao giờ nghĩ người đàn bà thích sống trong
các khách sạn, ăn ở các nhà hàng sang trọng, lại muốn thực
tập Thiền. Lần khác, cô ấy bảo tôi:" Hãy nhìn lại xem
anh là người thế nào. Tám năm ở Mỹ, anh đã làm gì? Luôn
cặp kè với đàn bà con gái, la cà ở các hộp đêm, quán
bar. Nếu người như anh mà còn tu Thiền được thì có gì
lạ nếu tôi cũng muốn học thiền?"
" Không giống
như học đánh Tennis hay học nhảy đầm đâu đấy. Mà đó
cũng không phải là chuyện của đàn bà. Ðó là việc căn
bản dành cho đàn ông".
"
Cái gì? Vậy chứ Ni sư không phải là đàn bà sao?"
Ðó là một câu
hỏi khó trả lời. Ni sư, ừ, thật ra bà cũng không phải
là một người đàn bà bình thường. Hình như xương cốt
bà không phải của đàn bà. Mà cũng không phải của loại
đàn ông bình thường, cuối tuần chỉ lo dắt vợ con đi chơi.
Bà đã thụ giáo Judo, và kiếm thuật Nhật Bản, trên trán
bà còn hằn một vết sẹo kỷ niệm một lần đụng độ
với đám du đãng.
Khi bà sống ở
vùng Hokuriku, bà nổi tiếng phá phách trong đám thiền sinh
ở thiền đường, được mệnh danh là "Con quỷ ở Dojo", và
quá khác thường đến nỗi sư phụ bà phải cho bà ra khỏi
tu viện. Riêng bà,coi đó là một cơ hội để đi hành hương
chiêm bái khắp nơi, thăm viếng các vị cao tăng. Vì quen thuộc
với lối sống đó, bà chẳng ngại ngùng gì đến trụ trì
ở ngôi chùa đã xuống cấp này. Tôi tưởng tượng ban đêm
bà lẻn ra ngoài, đi theo tiếng cười của lũ quỷ lùn, mũi
dài trong các câu chuyện dân gian của Nhật bản. (Bà chẳng
bảo đã từng thấy chúng đi từng đàn qua thung lũng đó sao
?). Có lẽ bà đã tu luyện được các phép thuật, như ngồi
thiền dưới thác nước, và tiếp tục thiền định dưới
các gốc cây hay trên những m m đá.
Có lẽ tất cả
những thứ đó đã biến đổi phái của bà. Tôi không thể
nghĩ ra điều gì khác hơn thế. Nhìn Ni sư, tôi thấy sự khác
biệt giữa hai phái nam nữ rất nhỏ.
"Tôi không phải
là đàn bà!", Ni sư tự nói. Rồi bà kể chuyện đã làm náo
động cả chúng khi bà đi vào nhà vệ sinh của một tu viện
dành chỉ cho tăng.
Bà thường tuyên
bố :"Ðàn bà vô tích sự. Tôi hiểu điều đó, tôi hiểu
họ không phù hợp cho việc tu hành. Lúc đầu, tôi cũng nghĩ
là phụ nữ cần được giải thoát, cứu rỗi, nên tôi rèn
luyện cho họ rất nhiều. Nhưng họ luôn luôn bỏ cuộc giữa
chừng. Dầu lúc đầu họ có mục đích, ý hướng r ràng,
nhưng sau đó rồi nhạt đi. Phụ nữ là như thế đó. Phụ
nữ có rất nhiều tham vọng. Tu thiền là phải buông bỏ tất
cả. Trong khi bản tính phụ nữ là bám víu, giống như khi
họ thấy cái gì rơi rớt, họ không thể không lượm lên.
Và nỗi đam mê nhất của phụ nữ là con cái họ. Nói tới
con họ rồi, là họ hoàn toàn u mê, không biết phải quấy
gì nữa."
"Nầy Kimura," Ni
sư quay sang tôi, "con là đàn ông mà lo cho con cái nhiều quá".
Với cái nhìn chán nản, Ni sư tiếp thêm : "Con cũng hơi khác
thường đó".
Tôi dẫn con trai
theo đến chùa không phải vì tôi lo cho con quá như Ni sư đã
nghĩ; ngược lại thì có. Hay ít nhất đó cũng là điều suy
nghĩ của vợ tôi. Các ông chồng khác ở nhà ngày cuối tuần
để chơi đùa hay đi câu với con cái. Tôi thường bỏ thằng
con trai đang học tiểu học và đứa con gái mới học mẫu
giáo của tôi ở nhà, và ra đi trước khi mọi người thức
dậy. Tệ hơn nữa, đêm trước đó, tôi còn nhờ vợ tôi
làm bánh mì đủ cho năm người ăn. (Cô ấy phải làm thế
vì chúng tôi, các thiền sinh thọ trai chung với nhau).
Chẳng bao lâu
có sự phản kháng trong gia đình. Nhưng không phải là từ
vợ tôi, mà là từ con trai tôi. Nó chun vô nhà hàng xóm, ăn
bánh kẹo của người ta hay đi với bạn bè vào các shopping
ăn cắp đồ . Con trai tôi là loại người dám đâm đầu xuống
núi nếu như có ai bảo nó làm thế.
"Nó thiệt là
một đứa trẻ nghịch ngợm. Ôi, nó phá bằng ba đứa con
trai tuổi nó. Một mình em không thể coi nó nổi đâu. Mà em
còn phải lo cho Rie nữa". Khi vợ tôi báo cho tôi biết về
các hành động ngang bướng của nó, tôi rất giận.
Trong buổi ngồi
thiền sau đó, tôi tuyên bố phải vắng mặt một khoảng thời
gian để lo cho con trai tôi. Ni sư đề nghị ngay rằng :
"Ðem nó theo con.
Nó muốn phá phách thế nào cũng được ở chùa này. Trẻ
con thường ngang bướng vì cứ bị la rầy. "Ðừng làm thứ
này, đừng mó thứ kia". Con còn cấm nó ăn thứ này, thứ
khác nữa có phải không ? Lúc nào cũng bắt nó ăn ba thứ
đồ ăn kiêng như thể con đang nuôi thỏ. Nếu con không nuôi
con nít đang lớn bằng thứ đồ ăn nó thích thì nó sẽ qua
hàng xóm ăn chực thôi. Nếu nó đến đây, thầy sẽ để
nó muốn ăn gì thì ăn. Ở đây này, thầy có bao nhiêu kẹo
bánh để đến hư luôn. Nếu trẻ con được ăn bao nhiêu tùy
thích, chúng sẽ không còn thèm thuồng nữa".
Tôi không thể
làm gì khác hơn là cúi đầu, lúng búng nói :"Cám ơn thầy".
Khi tôi hỏi ý
con trai tôi xem nó có muốn đi chùa với tôi, nó vui lắm. Có
lẽ nó đang tò mò không biết tôi đến chỗ vui thú nào mà
mỗi chủ nhật đều đi. Tôi nghĩ là không lâu sau nó sẽ
chán thôi, nhưng thay vì thế, nó bắt đầu đánh thức tôi
dậy vào những ngày chủ nhật.
Chẳng bao lâu
lại có chuyện. Một trong các vị thâm niên ở thiền đường
phàn nàn : "Ðây không phải là nhà trẻ. Thằng bé phá rối
việc tham Thiền của chúng tôi".
Ni sư gọi người
cư sĩ đại diện của khoá Thiền, giám đốc của một công
ty hải sản bán sỉ. Bà chất vấn :"Ở đây, ai là thầy,
ai là đệ tử ? Thầy đã cho phép mà. Thầy đã có tính toán
cho nó rồi. Hành Thiền kiểu gì như thế, chỉ có một đứa
trẻ cũng bị phân tâm ?" Tôi nghe được những lời này từ
người đàn bà phụ việc trong chùa cho Ni sư.
Tôi đã có tính
toán cho nó rồi. Không biết Ni sư nói vậy với ý gì ? Tôi
hơi thắc mắc, nhưng không hỏi Ni sư. Nếu Ni sư đã nhìn
thấy được nó sẽ trở thành một nhà sư, thì quả bà có
đôi mắt tinh đời. Nhưng cũng có thể Ni sư nghĩ điều gì
khác nữa, vì bà chẳng bao giờ bảo tôi bắt nó toạ thiền.
Nhiều lúc Ni sư làm chúng tôi ngạc nhiên với những ước
đoán chính xác của bà, có lẽ đó là do công lao tu Thiền
của bà.
Ðôi khi lúc kết
thúc các buổi tham vấn giữa Ni sư và tôi, bà thường nói
đại khái như : "Gần đây con hay lo ra. Ðó là lý do tại sao
con không thấy tiến bộ", hay "Khi ngồi, đừng để tâm con
đi lang thang", rồi Ni sư g g cây gậy thiền xuống mặt chiếu.
Và Ni sư đã nói
đúng. Khi đáng lý ra tôi chỉ ngồi thiền, thì tôi mơ mộng
về việc tậu một dàn máy nghe nhạc mới, hay nghĩ về những
nơi chốn tôi sẽ đi chơi với gia đình lúc nghỉ phép. Ðể
bù đắp lại, trong các buổi tham vấn, tôi ráng lạy rất
cẩn trọng hay la hét hết mình. Nhưng chẳng ích lợi gì.
Lúc đầu, khi
con trai tôi nói muốn xuất gia, tôi đã suy nghĩ về những
diễn biến lạ lùng của mọi việc. Tôi chỉ tình cờ khám
phá ra ngôi chùa trong một lần đi dạo, sau đó tôi lại học
Thiền. Rồi con trai tôi, lúc đầu bị bỏ ở nhà, sau theo
tôi đến chuà và dần dần nó đòi đến chùa ở luôn. Tất
cả mọi việc xảy ra một cách bình thường thôi. Nhưng ngẫm
lại câu chuyện từ đầu tới cuối, tôi không thể nghĩ được
điều gì khác hơn để diễn tả là do bàn tay của định
mệnh đã xếp đặt trước.
Một điều nữa
tôi cần phải nói thêm về Ni sư trụ trì Gukai mà nhiều người
dưới phố coi là khác thường là Ni sư yêu thú vật. Nhưng
không có nghĩa là Ni sư nuông chiều chúng quá. Ðúng ra thì
vì các loài vật hay quấn quít chung quanh Ni sư nên Ni sư cũng
sinh lòng quyến luyến chúng. Ðó là cách Ni sư thương loài
vật. Hay nói đơn giản hơn, Ni sư rất "hiểu" chúng.
Ðủ loài súc
vật lang thang trong chùa, lẩn quẩn bên Ni sư một lát, rồi
lại đi : gà vịt, chim chóc, sóc thỏ, dê không kể chó và
mèo. Phần đông là do các Phật tử của chùa, hay các gia đình
nông dân trong vùng mang đến. Họ nói không thích nuôi chúng
nữa hay nhờ Ni sư nuôi hộ dùm một thời gian.
Ni sư không bao
giờ nuông chiều chúng giống như kiểu người đời thương
thú vật, coi chúng hơn con người. Ðối với Ni sư, thú vật
là thú vật. Chúng muốn đến hay đi tùy ý. Ni sư chỉ việc
chuyện trò với chúng.
Và hình như chúng
cũng hiểu được Ni sư. Vài năm trước đây, một đàn vịt
xuất hiện, chúng ồn ào ỏm tỏi. Khi có con mèo nào lại
gần, chúng càng quạc quạc to hơn để báo hiệu cho nhau và
xua đuổi gã mèo đi. Rồi bỗng đàn vịt biến mất. Ni sư
trụ trì la gã mèo một trận, nghĩ rằng nó đã trả thù đám
vịt. Gã mèo hình như rất buồn lòng và sau đó cũng đi mất.
Ni sư trụ trì bảo chúng tôi có lẽ là gã mèo đi lang thang
ra khỏi chùa đã bị con chó hoang nào cắn chết rồi.
Bỗng một ngày
kia, Ni sư trụ trì có việc ra khỏi chùa, trên đường đi,
Ni sư bỗng nghe tiếng mèo kêu. Ni sư nhìn quanh quất cũng chẳng
thấy gì. Nhưng khi Ni sư định cất bước, thì tiếng kêu
lại trổi lên. Lúc ấy Ni sư nhận ra đó là tiếng kêu của
chú mèo đã thất lạc. Tìm kiếm trong các bụi cây gần đó,
Ni sư thấy cái xác thối rữa của một chú mèo. Bà đào hố
chôn xác mèo và tụng kinh Trái tim cho nó.
Ni sư là như thế
đó. Tôi cảm thấy rằng việc con trai tôi không thấy chán
chơi đùa ở chùa, mà còn muốn đến sống ở đấy, có lẽ
phần nào cũng do cá tính của Ni sư. Ðiều tôi lo sợ nhất
là không biết con tôi có trở thành một vị tu sĩ được
không. Theo tôi, thiền sư phải là người có tấm lòng đại
từ bi đối với người khác, không màng đến những tiện
nghi vật chất hay của cải, không ngại cúi xuống lau chùi
sàn nhà. Và khi rảnh rỗi, họ phải đọc bao nhiêu kinh sách
của Ðức Phật. Về lòng từ bi, có thể con trai tôi sẽ phát
từ tâm khi nó lớn lên. Nhưng tôi cũng không thể nói là nó
thờ ơ với việc ham muốn của cải vật chất; nó muốn có
tất cả những thứ bạn bè nó có : xe đạp, giày lăn, radio
Walkman, vân vân. Gần đây, nó còn để mắt đến các chiếc
xe máy kiểu cọ. Khi tôi lái xe, nó ngồi kế bên và bắt chước
tôi lái. Nó nói :"Con muốn học lái xe quá cha".
Tôi không lo ngại
mấy việc một vị tu sĩ phải lau chùi, quét dọn vì con tôi
cũng thích hoạt động. Tôi mà biểu nó đi quét dọn gì đó
thì nó còn làm chứ biểu cầm quyển sách lên học thì đừng
hòng. Tôi lo sợ rằng nó sẽ chẳng bao giờ với tới các
kinh sách của Ðức Phật. Chứ đừng nghĩ tới việc nó sẽ
là một nhà sư uyên thâm qua tận Ấn Ðộ để nghiên cứu
các kinh điển hay thuyết giảng về thiền.
Nhìn nó ngồi
kế bên tôi làm điệu bộ như đang lái xe, tai thì gắn chặt
vào cái Walkman, tôi nghĩ không biết cái quỷ gì đã xui khiến
nó nói muốn xuất gia. Tôi chỉ biết nhìn nó sợ hãi. Chắc
nó tưởng khi làm nhà sư rồi nó còn có thể vừa lái xe vừa
nghe nhạc như thế à? Ni sư trụ trì sẽ không bao giờ cho
phép nó làm như vậy, vì thế tôi thấy thương cho nó quá.
"Trẻ con đòi
hỏi thứ này, thứ kia, cũng là tự nhiên thôi", Ni sư trụ
trì nói. "Nhưng đầu tiên cũng là do cha mẹ mà ra. Một đứa
trẻ lớn lên ham muốn được có mọi thứ. Còn bổn phận
của cha mẹ là phải dạy cho con cái biết cái gì là cần
thiết và cái gì không".
Một người bạn
nói với tôi : "Bộ các nhà tu không có lòng tham sao ? Còn việc
chẳng kể đến tánh mạng vẫn đi đến tận Ấn Ðộ thỉnh
kinh thì chắc chỉ có một nhà sư trong mười ngàn nhà sư
và chỉ có một trong cả trăm năm. Anh bạn thật quá lý tưởng.
Thêm nữa, có ham muốn cũng tốt chứ. Vì có lòng ham muốn,
con người mới đạt được Giác ngộ. Nếu không có lòng
ham muốn, khó mà thành thầy tu giỏi được".
Vợ tôi nói :
"Anh muốn thứ gì là thằng Ryota muốn thứ đó".
Tôi nói : "Anh
đã suy nghĩ nhiều về việc thằng Ryota sẽ làm gì khi nó
lớn lên. Lúc đầu anh nghĩ nó sẽ là một kịch sĩ hay một
tay trống jazz. Nó hay diễn tả mọi thứ bằng cử chỉ, thích
nhún nhảy theo điệu nhạc. Lần nhà trường tổ chức lễ
hội, nó đã chơi trống thật xuất sắc, dầu đó chỉ là
một sinh hoạt phụ. Nhưng anh cũng đã nghĩ là nó sẽ làm
việc trong một ngân hàng hay công ty kinh doanh, làm chủ một
cửa hàng hay làm công nhân viên, nhưng hình như không có gì
hợp với nó cả. Anh có một người bạn, một nhà kinh doanh
rất thành công với các cửa tiệm sang trọng ở Tokyo và New
York, vợ ông ta là Á hậu kỳ thi Hoa Hậu Nhật Bản.
Vậy đó, mà rồi
giữa khi cuộc đời đang phất lên như thế, một ngày kia
anh ấy bỗng bỏ hết mọi thứ, đi tìm cái chết".
"Anh lúc nào cũng
bi quan quá. Làm cho các công ty thương mại hay ngân hàng không
phải là việc tầm thường đâu. Tất cả các bà vợ trong
khu chung cư đang được xây cất đều rất tự hào về các
ông chồng của họ. Anh lúc nào cũng bóp méo sự thật hết".
Anh còn nhìn sự
việc qua ống kính lịch sử nữa. Có bao nhiêu triệu, bao nhiêu
tỉ người đã có mặt trên quả địa cầu, rồi cũng biến
mất. Mọi người đều có thời là đứa trẻ con như Ryota,
suy nghĩ, lo lắng không biết mình sẽ làm gì khi cha mẹ họ
cũng lo lắng. Cuối cùng rất ít người có thể sống cuộc
đời họ đã chọn, trong khi phần lớn không có sự lựa chọn
nào. Và trong con số ít, rất ít đó có mấy ai còn để lại
dấu vết gì trong lịch sử. Nhưng có phải họ mới là những
người đáng kể không ? Nếu Ryota có chọn lựa sai lầm đi
nữa, thì cũng chỉ có nó hay chúng ta là kẻ phải lãnh chịu
hậu quả thôi".
Dầu vẻ mặt
vợ tôi tỏ vẻ khó chịu, tôi vẫn tiếp tục nói :"Tóm lại
làm sao ai có thể thật sự biết con đường nào đúng để
chọn lựa ? Chừng nào họ đã đi qua con đường rồi, họ
mới biết. Và cũng chỉ có họ phải đi con đường đó thôi".
Dựa vào lịch
sử, anh chắc rằng sự cường thịnh của nước Nhật rồi
cũng đi đến
đường cùng. Hãy nhìn nước Mỹ đó ; nước Nhật rồi
cũng giống như
thế. Trong lúc các tệ nạn về tình dục, hút sách
tăng lên, ở các
vùng núi California vẫn có những thiền viện
được tạo lập
và rất nhiều người trẻ tuổi đã tìm đến đó. Mà
cũng không chỉ
những người trẻ tuổi. Em có biết là cựu thống
đốc tiểu bang
California bỏ làm thống đốc, đi đến một ngôi chùa
-
Kyoto để tu Thiền
không ?"
"Thì ra vì các người
Mỹ hành Thiền rồi con trai em cũng phải trở thành Thiền
sư, có phải vậy không ?", vợ tôi cắt ngang.
"Không, điều
anh muốn nói là chúng ta đang ở thời đại của tôn giáo.
Khoa học, kinh tế, chính trị không thể tiếp tục bỏ qua
tôn giáo. Ông Fritzof Capra, một nhà vật lý ở Mỹ đã nói
những gì bây giờ các nhà vật lý đang nghiên cứu những
điều đó đã có trong các tôn giáo ở Á châu. Khi anh trao
đổi với Ni sư trụ trì về vấn đề này, Ni sư nói đã
biết điều đó từ lâu".
Vợ tôi trả lời:
"Em không biết gì về Thiền, vật lý hay những thứ rắc rối
khác, Chúng không ảnh hưởng gì tới em cả. Không thành vấn
đề với em nếu con trai mình sẽ trở thành một nhà kinh doanh
hay một vị tăng sĩ. Nhưng nếu nó có thể sống theo ý muốn
mà không làm hại gì ai, em đủ thấy hạnh phúc rồi. Trước
sau gì nó cũng phải rời bỏ gia đình để sống tự lập.
Nếu mỗi tuần nó ghé thăm mình cũng được rồi. Ở chùa,
nó vẫn làm được chuyện đó, có phải không ? Hoặc là dịp
năm mới, nó có thể về thăm. Rồi hè nữa. Em sẽ giữ phòng
nó nguyên như vậy, ghế bàn gì cũng giữ y nguyên, để những
khi nó về thăm nhà có mà sử dụng. Nó sẽ buồn nếu đồ
vật của nó bị mất mát, hay nó không còn có phòng riêng".
Tôi tưởng tượng
ra con trai tôi trở về nhà trong mùa hè ngắn ngủi hay dịp
lễ đầu năm, đi dọc hành lang nhà, mặc áo tu sĩ với cái
đầu đã cạo. Ðiều đó gợi tôi nhớ đến yabu-iri, một
từ ngữ tôi thường nghe lúc còn trẻ để chỉ thời gian
nghỉ phép của người đi học nghề ở xa về. Tôi không biết
từ ngữ đó có áp dụng cho các chú tiểu tập sự không,
Nếu có bà nội trợ nào trong chung cư gặp nó, chắc là bà
sẽ xoe tròn mắt vì kinh ngạc. Rồi người ta xì xào : "Tại
sao đứa con trai phải bỏ nhà đi tu, trong khi cha nó không phải
là trụ trì. Cha mẹ nó còn bắt nó phải đi vòng quanh phố,
mặc chiếc quần đen cổ lổ ấy. Trước đây, nó đâu có
gì khác lạ trong chiếc áo thể thao màu tươi rói, quần trắng
và giầy thể thao. Có lẽ do ác nghiệp gì đó mà cha mẹ nó
bắt nó phải xuất gia".
Nó sẽ đứng
ở cửa phòng, cúi chào như một người khách, nó sẽ kêu
lớn lên, giống như thầy trụ trì đã dạy :"Cha mẹ, xin thứ
lỗi cho sự phiền rộn này".
Và nếu chúng
tôi có hỏi han về sức khỏe nó hay về tu viện, tôi biết
cũng chỉ được nó trả lời một cách bài bản như "Dạ",
và "Dạ, đúng".
Tôi cũng hình
dung ra cảnh gia đình bốn người Ố Mẹ, cha, con trai và đứa
con gái nhỏ Rie ngồi trước bàn thờ Phật ở nhà, và nó
sẽ dẫn chúng tôi tụng kinh. (Thật ra, "chánh điện" ở nhà
chúng tôi gồm một tượng nhỏ của ngài Jizo Ố quà của
Ni sư trụ trì để trên kệ cao nhất, một chén trà nhỏ dùng
làm bát hương và một bình hoa không đẹp lắm với đủ loại
hoa). Hình ảnh chúng tôi quần tụ như thế vừa có vẻ buồn
bã, vừa có vẻ hấp dẫn kỳ lạ.
Còn về đời
sống khắc khổ với những luật lệ khắt khe thì sao ? Tôi
đã có lần xem một chương trình truyền hình về sinh hoạt
ở tu viện Eiheiji : Trước khi mặt trời lên, một chú tiểu
chạy qua những dãy hành lang dài và tối, tay rung một cái
chuông nhỏ để đánh thức mọi người dậy. Rồi mọi người
cùng ngồi thiền trong buổi bình minh giá lạnh, với hơi sương
như tỏa ra từ các đỉnh đầu trọc. Những đôi chân trần,
lau nhà với các mảnh giẻ ướt. Một thế giới hoàn toàn
biệt lập với thế giới bên ngoài, và khổ hạnh không tưởng
được. Nhưng Ni sư trụ trì bảo một khi con là người ở
trong chúng rồi, con sẽ không thấy giống như thế. Bao nhiêu
việc tưởng chừng như khó khăn, đều có thể thực hiện
được với chúng tu đông đảo. Không biết đó có phải là
nơi con tôi nên sống không, vì nó dễ kết bạn, nhưng cũng
hay bị bạn bè ảnh hưởng dễ dàng ?
Một khi người
ta đã bước vào thế giới đó, có dùng cây thước đo của
thế giới bên ngoài để đo lường cũng chỉ là vô ích. Có
lẽ nó cũng thôi đòi phải có dàn máy stereo hay xe gắn máy.
Trên chương trình
TV, một trong các tu sĩ ở tu viện Eiheiji được hỏi : "Thầy
thích gì về đời sống ở đây ?". Người phỏng vấn hỏi
với giọng đầy nghi ngờ như thể mốn hỏi tại sao mà người
ta có thể từ bỏ thế giới đầy lạc thú để chui vào đây,
sống khổ như thế này. Tôi vẫn còn nhớ câu trả lời của
vị sư trẻ, lúc đó đang đảm nhiệm công việc ở nhà bếp
từ sáng tới tối, chuẩn bị bữa ăn cho các huynh đệ khác.
Hơi nghiêng chiếc đầu không tóc một tí, vị sư trả lời
:"Có lẽ là niềm vui được làm tốt hơn những điều hôm
qua chưa làm tốt".
Như không để
ý đến câu trả lời đó, chương trình quay qua một cảnh
khác. Nhưng câu trả lời đó gây ấn tượng mạnh mẽ trong
tôi. Con người có thể tìm thấy niềm vui trong mọi hoàn cảnh.
Và chính những niềm vui nhỏ bé đó truyền sức để ta tiếp
tục vươn lên. Có lẽ, hơn cả là "niềm vui", chúng ta nên
gọi đó là "sự cảm nhận" Ố lòng biết ơn. So sánh với
những niềm vui này, ta thấy niềm vui của dục lạc hay được
trúng số trở nên phù du, thoảng chốc biết bao. Niềm vui
càng lớn, càng chóng qua. Tóm lại, mọi niềm vui đều thoáng
qua, vì thế chúng ta không nên bám víu vào chúng. Một ngày
kia, có lẽ con trai tôi sẽ hiểu ra điều đó .
Niềm vui được
làm tốt hơn những điều hôm qua chưa làm tốt .
Khi con trai tôi
hiểu được như thế, có lẽ nó thực sự trở nên một người
tu. Khi tôi suy gẫm về tất cả những chuyện như thế này,
tôi bắt đầu thấy việc con trai tôi muốn xuất gia trở nên
có căn cớ hơn .
Tuy nhiên khi lên
trung học, con trai tôi bắt đầu có những hành động khác
thường. Tôi tìm thấy các điếu thuốc hút dở trong hộp
viết chì, các quyển tạp chí nhảm nhí trong cặp sách của
nó, nó bắt đầu đến trường áo thì dựng cổ lên, không
cài nút, đầu dây nịt để vắt vẻo, thay vì cài vào lưng,
nó mang giầy bít như thể giày sandals-nghĩa là phần gót không
xỏ vào mà đi đạp lên thay vì mang cặp sách, nó vác cái
túi đi chợ màu sắc loè loẹt đến trường .
Tôi tưởng đó
chỉ là những thay đổi tạm thời để thích ứng với trường
hợp mới hay gì đó, nhưng rồi thầy giáo chủ nhiệm đến
thăm để báo cho chúng tôi biết là nó la cà với đám học
trò phá phách nổi tiếng ở trường. Khi tôi vừa hiểu ra
sự nghiêm trọng của vấn đề thì có cuộc ẩu đả giữa
học sinh của hai trường. Vợ tôi được mời đến và nhà
trường thông báo kẻ cầm đầu của cuộc ẩu đả : đó
là con trai tôi .
Suốt thời gian
đó, nó vẫn tiếp tục đi theo tôi đến chùa để tọa thiền
mỗi chủ nhật, mang theo hộp đồ ăn trưa khá to trong một
cái túi và đi theo tôi với cái vẻ bất cần bình thường
như thể chẳng có gì đã xảy ra. Nó ít khi chuyện trò với
tôi trong suốt thời gian chúng tôi ở chùa làm cỏ, hành thiền,
thọ trai rồi trở về nhà. Nhưng theo luật lệ ở Thiền viện
thì trong suốt thời gian này dù là người trong gia đình cũng
không được nói những chuyện không cần thiết, nên tôi cũng
chẳng quan tâm lắm .
Chỉ có một điều
thay đổi là bây giờ nó muốn về nhà sớm hơn để
đi chơi với bạn
bè. Thỉnh thoảng nó thọ trai sớm, rồi lấy tàu
hoả về trước
một mình. Suốt những năm tiểu học, chưa có chủ
nhật nào nó bỏ
đi chơi banh, đi câu hay cặp kè chúng bạn dù bị
rủ rê. Khi nó
bắt đầu vào trung học đệ nhất cấp, tôi nghĩ là
nó cũng cần đi
chơi với chúng bạn, nên tôi vui vẻ tiễn nó ra
khỏi chùa, còn
bảo nó đi chơi vui vẻ. Vậy mà rồi nó đi đánh lộn
.
"Sao mà con có
thể đi đánh lộn sau khi ngồi Thiền?", tôi rầy nó . Thiệt
là vô tâm, tôi đoán có lẽ sau buổi tọa thiền, nó trở
về đi hút thuốc, coi sách báo nhảm nhí với chúng bạn .
Thứ hạng của
nó tụt xuống hẳn, bây giờ nó đứng thứ hai hay thứ ba
cuối sổ. Thầy chủ nhiệm bảo là trong lớp nó hay làm trò
để chọc cả lớp cười, tôi tra vấn nó :
"Tại sao con không
ngồi yên được trong lớp? Nếu tụi bạn có cười,
cũng chỉ vì họ
nghĩ con là đưa ngốc nghếch"
Nó có thể ngồi
thiền cả hai giờ không động đậy, tại sao không thể ngồi
yên ở lớp học. "Con không thể", nó trả lời .
Bữa nọ, tôi
răn đe nó về việc lười học "Làm nhà sư, không phải chỉ
có lau chùi, dọn dẹp không thôi, con có biết không? Con còn
phải học kinh nữa" .
Cuối cùng nó
bắt đầu nói :"Con không thành nhà sư đâu" .
"Vậy con sẽ trở
thành gì?", tôi hỏi .
Nó có vẻ không
tìm ra câu trả lời. "Con sẽ tìm cái gì đó thích hợp với
con".
Tôi hét lên "Ðồ
ngốc ! Con còn dám nói sẽ tìm cái gì thích hợp khi con không
muốn học hành".
Ðêm đó tôi trăn
trở trong giường, lo lắng về việc bây giờ nó không muốn
đi tu nữa. Không thể ngờ là tôi đã đặt quá nhiều hy vọng
vào việc đó, đã trông mong việc đó xảy ra đến thế nào.
Giờ nhận ra rằng có thể nó sẽ không xuất gia, làm tôi
thấy được làm một nhà sư thật là tuyệt vời. Ðó là
một việc chỉ số ít người phát nguyện, và chỉ số ít
người có thể thực hiện được. Một kẻ tầm thường như
con trai tôi còn ước mong gì hơn thế nữa. Hình như có ai
đó đã đưa lối cho nó đi vào con đường đó. Có lẽ nó
đã có căn tu từ lúc sinh ra, có lẽ vị Jizo trên bàn thờ
nhà tôi đã dẫn dắt nó. Không biết có phải vị thần Jizo
đó đã hết linh nghiệm hay vì các ảnh hưởng xấu quanh nó
quá mạnh? Tôi nghĩ là bằng mọi cách, tôi phải đưa nó ra
khỏi vòng vây của lũ quỷ. Ðiều đó phải làm trước tiên,
rồi mới tính tới việc nó có thành một nhà sư hay không?
Nếu cuối cùng nó có bỏ ý định đi tu, để theo con đường
của người thế gian, thì cũng đành thôi. Nhưng nếu nó cứ
tiếp tục sống như hiện giờ, thì nó sẽ chiến bại trước
các ảnh hưởng xấu xa .
Tôi bàn với vợ
chuyển con trai tôi qua trường khác học. Chúng tôi định đổi
nó sang một trường tư với luật lệ nghiêm khắc hơn trường
công nó đang học. Là học sinh chuyển trường, nó phải qua
một kỳ thi tuyển nhưng gay go nhất là bảng xếp hạng của
nó. Trường tư loại nào lại nhận học sinh đứng thứ hai,
thứ ba cuối lớp? Nếu có trường nào nhận nó, trường đó
chắc phải vào loại thứ ba, thứ tư, nên không có đủ học
sinh. Trường hợp đó có thể nó còn trở nên tệ hơn nữa.
Dầu sao cũng còn hy vọng, nó có thể theo học ở các trường
tôn giáo. Nó có thể có hy vọng được vào học trường Phật
giáo .
Vợ tôi và tôi
đến gặp Ni sư trụ trì. "Chao ôi. Cả hai người ! Hẳn phải
có việc gì hệ trọng lắm", Ni sư nói vẻ chế nhạo khi chúng
tôi cúi chào Ni sư .
Tôi kể cho Ni
sư nghe mọi chuyện, kể cả chuyện con trai tôi nói bây giờ
nó không muốn xuất gia nữa .
"Nó đã sống
trong một thế giới quá trong sạch. Giờ thì đủ loại vi
trùng muốn bám vào nó, nhưng thầy không lo gì những chuyện
đó. Nó sẽ thay đổi ngay thôi", Ni sư trụ trì thản nhiên
nói, một nụ cười chợt nở trên khuôn mặt đầy nét trẻ
thơ của bà .
Tôi nói ý định
chuyển trường học cho nó, Ni sư trụ trì tán đồng :"Ý kiến
hay lắm. Con phải tách nó ra xa các ảnh hưởng xấu càng nhiều
càng tốt".
Rồi tôi hỏi
về trường Sendan, Ni sư nói "Ðó là trường Phật học, dầu
có nhiều con cái của các cư sĩ cũng theo học. Con cái của
các vị trụ trì chùa có thể được nhập học không phải
thi, nhưng thầy nghe hình như bây giờ điều đó cũng thay đổi".
Tôi nói tôi nghĩ
là nếu nó có trở thành tu sĩ cũng được. Ðó là điều
nó muốn thực hiện ngay khi vừa lên trung học. Nhưng vì cha
mẹ nó chần chừ, nên bây giờ nó cũng đổi ý. Tôi nhấn
mạnh rằng nếu nó được đổi đến trường này học và
trở lại muốn đi tu thì cũng được .
"Thế à" Ni sư
nói, đôi mắt sáng lên nhìn tôi. Rồi quay sang vợ tôi :"Con
có đồng ý như thế không?" .
"Dạ" Vợ tôi
cúi đầu xuống nói .
"Quyết định
thế nhé !", Ni sư trụ trì nói lớn, bằng giọng nói tôi chưa
bao giờ nghe Ni sư dùng. "Giờ, để mọi chuyện cho thầy lo".
Tôi nghĩ mọi
việc xảy ra nhanh chóng quá. Cách Ni sư giải quyết
vấn đề thật
bất ngờ. Tôi quen nhìn Ni sư ngồi uống trà tiếp
khách hàng giờ,
tưởng chừng như Ni sư đã mọc rễ trên chiếc tatami
.
Tôi nghe kể là
chủ nhật sau đó, khi con trai tôi vào phòng tham vấn, Ni sư
đã hỏi nó :"Con có còn muốn xuất gia không?".
Con trai tôi trả
lời :"Dạ conẨ nhưngẨ", nó ngập ngừng .
"Chuyện gì vậy?",
Ni sư hỏi .
"Con không có tự
tin"
"Tại sao?"
"Vì cha con nói
là người như con không bao giờ có thể trở thành tu sĩ"(Tôi
thật đau lòng nghe con tôi nói thế, vì tôi biết rất r lý
do ngại ngùng của nó) .
Rồi Ni sư trụ
trì nói với nó :"Thầy sẽ giúp con trở thành một vị
tu sĩ đức hạnh"
Giờ thọ trai,
Ni sư nói :"Thầy có một việc quan trọng cần tuyên bố",
rồi Ni sư tuyên bố thẳng luôn với mọi người đang có mặt
ở thiền viện việc Ryota sẽ trở than2h một tu sĩ. Ni sư
trụ trì nhấn mạnh :"Ðó là quyết định riêng của nó" .
"Ồ", mọi người
kêu lên thán phục .
"Và nó phải chịu
trách nhiệm về việc đó", Ni sư nói, hướng về con trai tôi
đang nhấp nhỏm trên ghế ngồi, nó rụt rè gật đầu .
Ni sư trụ trì
gọi điện cho trường Sendan, xin cái hẹn gặp thầy hiệu
trưởng rồi cùng đến với tôi. Học sinh mặc đồng phục
túa ra cổng trường đi dọc theo con đường đầy bóng cây
ginkgo. Khi chúng thấy Ni sư trụ trì mặc y vàng, chúng dở
nón chào. Trường con tôi đang học đâu có thế, tôi vui mừng
nhận ra sự khác biệt đó .
Thầy hiệu trưởng
bước vào phòng tiếp khách mặc đồ veste, nhưng có áo tràng
choàng ngoài. Ông chắp tay lại và cúi đầu chào Ni sư trụ
trì. Ni sư trụ trì giới thiệu tôi :"Ðây là cha của Kimura
Ryota, đưá học trò phải thi chuyển trường". rồi Ni sư tiếp
:"Tôi đã quyết định nhận nó vào chùa và sau này sẽ để
nó thay tôi trụ trì chùa Zenkaiji. Ðó là lý do chúng tôi có
mặt ở đây hôm nay".
Thầy hiệu trưởng
có vẻ thích thú với việc một đứa trẻ từ gia đình cư
sĩ lại muốn trở thành tu sĩ. Ông hỏi Ni sư trụ trì :"Thưa,
nó có liên hệ với thầy không?"
"Không, chúng tôi
không làm như thế để giữ chùa cho gia tộc mình. Ðó là
ý nguyện của đứa trẻ. Nó đã đến chùa tôi từ ngày mới
vào lớp một, đến khi lên lớp ba, nó nói muốn trở thành
tu sĩ. Chúng tôi đã bảo nó còn quá nhỏ, phải chờ đến
lên trung học. Trong thời gian đó, chúng tôi chờ xem thằng
bé có đổi ý không, nhưng nó không thay đổi. Cuối cùng chúng
tôi đồng ý", Ni sư nói, nụ cười thiền không kềm hãm nở
rộng trên khuôn mặt người .
"Vậy à, vậy
à", thâỳ hiệu trưởng nói vẻ thích thú ."Nó có ngồi thiền
không?"
"Y như người
lớn. Tâm nguyện của nó rất thành khẩn. Không giống
như người lớn.
Nó quá trong trắng, nó hành thiền với tất cả tấm
lòng. Thiệt là
đặc biệt"
"Vậy sao? Ngày
nay khó mà tìm được ai ngồi thiền với tấm lòng thành như
thế, kể cả các vị tu sĩ", thầy hiệu trưởng than thở.
Rồi ông đổi
đề tài "Nhưng nó đã làm lễ xuất gia chưa? Nếu nó
được nhận,
nó phải tham gia vào các sinh hoạt tăng đoàn, mà muốn
thế nó phải
làm lễ thọ giới", ông nói nhìn Ni sư trụ trì, rồi
nhìn tôi. "Quý
vị có thể không tin, nhưng gần đây càng ngày càng
nhiều các gia
đình Phật tử nhờ các chùa giới thiệu đến trường
chúng tôi, hầu
tách con cái họ ra khỏi các trường trung học công
lập đầy dẫy
các tội phạm thanh thiếu niên. Tuy nhiên việc này
tôi chỉ nói riêng
với quý vị thôi đấyẨ"
"Nó sẽ thọ giới
xuất gia ngay", Ni sư trụ trì bình tĩnh trả lời .
Ni sư quay qua tôi
mỉm cười nói :"Thầy định làm chuyện đó sau, nhưng
giờ thì càng
sớm càng tốt". Ni sư chưa nói gì với tôi về chuyện
đó, thành thử
tôi chỉ có thể ậm ừ theo bà
"Vậy
thì, sau lễ xuân phân của chùa được không ?"
"Không cần phải
vội vã thế", thầy hiệu trưởng đỡ lời. Rồi thầy
tiếp thêm :"Nếu
nó đã quyết định thọ giới xuất gia thì lúc nào
cũng được, miễn
là trước kỳ nghỉ hè. Trong khoá hè, các học sinh
sẽ được huấn
luyện cùng lúc với nhau, miễn là tới lúc đó nó
đã xuống tóc
Ẩ"
"Trước sau gì
cũng phải làm, thôi làm sớm tốt hơn. Kimura, con nghĩ sao?".
"Dạ, sao cũng
được", tôi chỉ có thể trả lời như thế vì tôi chẳng
biết gì về các thủ tục xuất gia .
Thầy hiệu trưởng
dẫn chúng tôi đi dọc hành lang ra cửa. Không giống như ở
các trường công lập, ở đây các mặt sàn bằng gỗ được
đánh bóng loáng đến nỗi tôi sợ mình sẽ trượt ngã. Thầy
hiệu trưởng tán thán việc Ryota xuất thân từ gia đình cư
sĩ nhưng lại xin vào học trường này và lại có ý muốn
xuất gia .
Tôi cảm thấy
lo lắng quá, nên bày tỏ sự lo lắng không biết con trai tôi
có thể hoà hợp được với con cái của các gia đình tu sĩ
không, nhưng thầy hiệu trưởng lại bảo thầy sợ ngược
lại thì có. Tôi hỏi ý thầy nghĩa là sao, với vẻ mặt đầy
âu lo thầy nói có vài đứa trẻ của gia đình tu sĩ rất
hư, thầy sợ chúng sẽ làm cản trở chí nguyện cao cả của
con trai tôi. Tôi định nói thầy không cần phải lo âu như
thế, nhưng kềm lại kịp .
"Thôi, thầy nghĩ
mọi chuyện đã dàn xếp xong" Ni sư trụ trì nói khi tôi quay
xe trở về .
Tôi trả lời
:"Nhưng vẫn còn kỳ thi nhập học, sợ rằng kết quả kỳ
thi sẽ làm thầy hiệu trưởng vỡ mộng về hình ảnh của
Ryota trong ông".
Ni sư trụ trì
có vẻ không để ý gì đến chuyện đó. Hình như Ni sư còn
đang lo nghĩ đến chuyện bỗng nhiên được có kẻ thừa kế
mình. Bỏ giầy ra, Ni sư xếp chân ngồi, nói không ngừng trong
khi hút thuốc cũng không dứt , luôn gạt tàn thuốc vào cái
gạt Ni sư cầm để trên đùi. Cứ như thế suốt đoạn đường
trở về chùa, một đoạn đường dài 90 phút. Ni sư quả thật
là người lưu loát. Thỉnh thoảng tôi mới nói chen được
vài câu, ngoài việc lo quay cửa xe lên xuống để cho khói
thuốc bay ra ngoài .
"Thầy định buông
bỏ hết mọi việc, nhưng giờ thì đã có việc cho thầy phải
lo đây, phải không Kimura? Có lẽ Ðức Phật đã sắp bày
mọi thứ. Thầy có ít tiền dành để dưỡng già, với số
tiền đó có thể để lo cho nó đến xong đại học. Ðó có
lẽ cũng là sự sắp bày của Ðức Phật nữa. Chuyện gì
sẽ xảy ra sau này, sau này hãy lo".
Tôi nói với Ni
sư tôi sẽ lo chi phí ăn học của nó .
"Không, không,
con không được làm như thế. Bổn phận của người tu là
phải tự lo cho mình. Một người tu mà nhận tiền của Phật
tử để lo cho riêng mình thì thật không tốt. Nhận đồ cúng
dường hay công lễ thì lại là việc khác, đó là cho việc
làm lễ ở các đám tang hay các thứ khác. Nghĩ đến chuyện
đưa tiền cho một nhà sư là ngã mạn, hãy lập tức bỏ lối
suy nghĩ đó đi".
"Nếu thầy đã
dạy như thế" tôi đáp .
"Này Kimura, ta
muốn đứa trẻ đó trở thành một nhà sư giống như Dogen
Zenji, người đã tạo lập nên dòng thiền Soto trong Phật giáo
Thiền. Con có thể cười, nhưng ta mong nó có thể lãnh hội
được cái tối thượng của Ngài Dogen càng nhiều càng tốt.
Ðó là ý nguyện của mỗi vị thiền sư Soto. Thầy nghĩ là
có hai loại thầy tu : loại chạy đuổi theo các cấp bậc
trong giáo hội và loại thầy chuyên tu. Các vị thầy ở các
chức vị cao trong giáo hội thường phải lo nhiều việc đời;
các vị thầy chuyên tu chỉ chú tâm vào việc tu tập, để
được giác ngộ sâu xa. Con chọn loại thầy tu nào?"
"Dĩ nhiên là các
vị thầy chuyên tu".
"Ðúng vậy, Nhưng
các vị này thường nghèo!", Ni sư cười to. "Thầy quyết phải
rèn luyện nó. Không có chuyện nửa người nửa ngợm. Trên
thế giới ngày nay, con có thấy toàn là nửa người nửa ngơm.
Ngày nay, ngay các thầy, cũng không ít người là như thế.
Các thầy thường được chứng nhận giác ngộ dễ dàng. Không
thể tin vào các việc như thế. Gần đây, hình như người
ta cứ chịu khó ngồi thiền, rồi sẽ được giấy chứng
nhận là đã giác ngộ. Ðó cũng là lỗi của các bậc sư
phụ. Riêng thầy, thầy sẽ rất nghiêm đó. Này Kimura, hãy
nghe đây, con phải giữ bình tĩnh và không được can thiệp
ngay cả khi sự việc có vẻ như tàn nhẫn quá. Con có làm
thế được không ?".
"Dạ được".
"Ðiều ta lo sợ
nhất là sức khoẻ của mình. Nó hãy còn trẻ. Mà đâu chỉ
có bảo nó làm là được, ta phải theo nó từng bước từ
sáng sớm, bằng không, ta khó thể rèn luyện nó được. Thầy
đã già yếu và bệnh tật, không biết khi nào đến lượt
mình ra đi. Nhưng cũng không sao. Thầy coi đây như là Phật
sự cuối cùng của mình".
Ni sư bập thuốc,
rồi nói tiếp :"Cuộc đời còn lại của thầy sẽ dành trọn
vào việc rèn luyện nó. Nó sẽ không giúp gì được cho thầy,
nhưng nó sẽ phục vụ nhà chùa. Số tử vi của thầy nói
thế, nhưng không sao .
"Thầy đang chọn
Pháp danh cho nó, thầy còn nhờ đến một ông thầy hay chữ
để tên sao cho hợp với người. Con nghĩ thế nào về tên
Ryokai? Hán tự Kai là từ tên thầy, Gukai và Ryo thì từ tên
Ryota của nó".
"Dạ
nghe cũng được"
"Ryokai là một
cái tên rất thanh nhã. Rất hợp với cá tính của nó. À,
mà tên với họ Kymura Ryokai nghe không hay. Bản chất của nó
là ngỗ nghịch, đặt tên như thế có khác gì châm dầu vào
lửa. Tâm tánh nó thì tốt nhưng hoang đàng quá. Tử vi còn
bảo là nó còn có thể trở nên một gã rù quyến đàn bà
nữa đấy".
Tôi không khỏi
phì cười . "Dạ, cũng có thể lắm chứ !".
"Ừ. Vị thầy
bói số tử vi rất giỏi, đã hay đoán cho ta điều này, điều
nọ. Thầy đã hỏi có nên lấy họ thầy là Gyokusen để đặt
cho nó không, thì ông bảo rất tốt, rất nên, điều đó sẽ
giúp hãm dây cương nó lại. Là con trai nó cần có nhiều bạn
bè, nhưng cũng không nên bừa bãi quá. Con thấy sao Gyokusen
Ryokai?".
"Dạ cũng được".
"Nếu con không
bằng lòng, cứ nói ra, thì không thay đổi họ nó nữa. Nhưng
thầy thấy nó không đi với cái tên mới kia".
Tôi nghĩ là dầu
gì nó sẽ ở chùa thôi. Tôi đâu thấy vị tăng sĩ
nào sống ở nhà
với cha mẹ. Và nếu nó sẽ sống ở đó suốt đời,
thì cũng nên chọn
cho nó một Pháp danh. Ðiều đó giúp nó dễ hoà
nhập vào cuộc
sống mới hơn. Việc đổi tên đâu thể biến nó thành
một con người
khác. Sao cũng được miễn là vì lợi ích của con tôi
.
Tay cầm lái, tôi
cúi đầu nói :"Nhờ thầy chăm sóc cho nó".
"Dầu có đổi
tên, cha mẹ vẫn là cha mẹ, Sự thật con là cha nó, có bao
giờ thay đổi được. Cái tên chỉ là tiếng gọi thôi. Con
có biết cái họ ta đang dùng, Gyokusen, đã được người khác
đặt cho không? Ta vốn là con gái của một người chủ trọ
ở Hokurikudo, họ là Ichinoseki".
Cuộc đời của
Ni sư hình như đầy sóng gió. Thỉnh thoảng Ni sư cũng nói
về chúng, nhưng sóng gió trong đời Ni sư có lẽ quá nhiều
đến nỗi tôi không thể hình dung ra hết. Hình như Ni sư được
đặt tên Gyokusen bởi những người có tranh chấp về việc
ai sẽ làm chủ một gia đình tiếng tăm ở vùng Chugoku. Khi
Ni sư hành hương qua đó, bà đã giúp họ hoà giải ổn thoả.
Và họ đã yêu cầu Ni sư mang dòng họ đó để ban phước
lành cho họ và Ni sư đã nhận lời. Ngay như nếu con tôi cũng
mang họ đó, không có nghĩa là gia đình đó đã nhận nuôi
nó. Ðó chỉ là tên gọi thôi mà .
Có tám thí sinh
dự kỳ thi chuyển trường đến trường trung học đệ nhất
cấp Sendan, nhưng chỉ có hai được vào, con trai tôi là một
trong hai trò đó, chúng tôi đợi trong một văn phòng ở trường
khi các thí sinh lần lượt từ người một được gọi vào,
tôi lo lắng tự hỏi, kế đến là chúng tôi chứ, hay kế
đến là ai? cuối cùng chỉ còn lại hai thí sinh, nên tôi nghĩ
thôi chắc chẳng còn hy vọng gì, không ngờ hai anh em còn chót
lại là thí sinh trúng tuyển. Khi tôi đưa cho con trai tôi xem
tấm giấy báo trúng tuyển, nó nhìn trân trối .
"Con đã đậu"
tôi nói .
"Con
đã đậu" nó la lớn
Nhìn mặt nó tôi
đã nhận ra rằng dù nó đã học lết bết ở trường
trung học trước,
nó vẫn vui mừng được nhận vào trường học mới,
còn tôi vui mừng
vì sự thành công của nó còn hơn khi lần đầu
tiên tôi nhìn
thấy tấm giấy được nhận vào đại học của chính tôi
.
Em học sinh trúng
tuyển thứ hai mang kiếng dầy cộm, có vẻ là loại học sinh
chăm chỉ đón nhận tin mừng với vẻ bình thản, nhưng cha
nó, người mập mạp là nhân viên bưu điện trong tỉnh, thật
sung sướng khi ông trao đổi danh thiếp với tôi. Tôi có cảm
tưởng là trong hai thí sinh trúng tuyển hôm nay, một người
có điểm cao nhất và người kia điểm thấp nhất .
Sau đó đến lễ
thọ giới xuất gia .
Ni sư trụ trì
muốn dành cho con tôi mọi thứ tốt nhất, nên khi không thể
mua được áo tràng và các thứ vật dụng khác ở Tokyo, Ni
sư liền gửi mua tận Kyoto, Ni sư nhờ một huynh đệ ở chùa
khác đến giúp lễ, mời hoà thượng chánh đại diện của
giáo hội, tất cả thiền sinh trong khoá tu Thiền hàng tuần
đến dự, và cố hết sức mình để buổi lễ được diễn
ra theo truyền thống cổ truyền tốt đẹp nhất. Con tôi ngủ
lại chùa đêm trước buổi lễ. Vị thầy phó chuẩn bị một
lễ tắm gội để rửa sạch hết bụi bặm của cuộc đời
trần tục, cũng như mọi thứ phiền não đã tích tụ trong
con tôi từ bấy lâu. Ngày hôm đó đã có một việc hệ trọng
xảy ra, ít nhất là đối với chúng tôi, cha mẹ của nó.
Oâng bà nội ngoại và chúng tôi sẽ tham dự buổi lễ nhưng
vợ tôi còn muốn mời cả người cô đã chăm sóc, nuôi nấng
nó từ thuở nhỏ. Vợ tôi đã gọi hỏi, và cô nó hứa chắc
chắn sẽ đến. Khi tôi hay tin này, tôi nói tốt hơn hết là
chúng tôi phải gọi xin phép trên chùa trước .
Ni sư trụ trì
gạt ngang :"Ðừng có đi mời đủ loại người như thế! Thầy
còn có bao nhiêu người khác nữa thầy muốn mời, con phải
biết đây đâu phải đám hát tuồng. Ðây là buổi lễ để
đứa trẻ chính thức cắt đứt dây liên hệ với cha mẹ
nó. Nói đúng ra, ta còn không muốn con mời các ông bà của
nó nữa, nhưng thôi lần này ta cũng ngó lơ cho, nhưng đâu
có thể như thế với tất cả thân bằng quyến thuộc".
Khi vợ tôi nghe
tin, cô ấy nói cô không thể nào báo lại tin cho người cô
thân yêu ấy được, tôi đành phải tự gọi để cắt nghĩa
đây là buổi lễ để cắt đứt mọi ràng buộc.
"Có phải em muốn
nói là sợi dây ràng buộc với tôi nữa, đúng không?" người
cô nói với giọng mỉa mai .
Ðúng vậy, buổi
lễ bắt đầu với con trai tôi nói lời từ biệt với chúng
tôi, cha mẹ nó. Con trai tôi, mặc đồ đồng phục, bước
vào chánh điện, hai tay chắp lại, đi bên cạnh vị thầy
phó. Vợ tôi và tôi ngồi bên nhau ở tuốt đằng sau .
Nó một mình tiến
đến gần, ngồi trước mặt tôi, rồi đặt ngửa hai bàn
tay ra trên tấm chiếu, nó nói :"Cha, người đã chăm sóc con
từ thuở bé, con xin cảm tạ".
Rồi nó đứng
lên, đến ngồi trước mặt vợ tôi :"Mẹ, người đã chăm
sóc con từ thuở bé, xin cảm tạ".
Nó cúi đầu lạy
.
Ðoạn, nó tiến
đến Ni sư trụ trì, quỳ gối xuống hai tay chắp lại. Ni
sư trụ trì xướng từng giới một, và mỗi lần đều hỏi
nó có giữ được không. Bằng một giọng sang sảng, nó trả
lời mỗi lần được hỏi :"Dạ, con xin giữ".
Sau đó, Ni sư
trụ trì đọc kinh, khi nó được phát từng thứ một :
áo, mũ và các
thứ vật dụng, nó đi ra khỏi phòng khi mọi thứ đã xong
xuôi .
Khoảng 15 phút
sau, nó trở lại mặc áo trắng và đầu đã cạo. Sự chuyển
đổi từ tóc, áo quần đồng phục, đến đầu cạo láng
và y áo trắng thật khá bất ngờ, giống như trong xiếc "úm
ba la" đổi .
Giờ thì mắt
vợ tôi đỏ lên, nhìn nó trong quần áo trắng, tôi thật sự
có cảm tưởng như nó đã bước vào một thế giới khác
vượt khỏi tầm với của chúng tôi. Nhưng tất cả dường
như quá đột ngột, hình như không phải là sự thật. Có
thật sự là sợi dây ràng buộc cha mẹ và con cái đã bị
cắt đứt? Sự liên hệ ấy giờ chỉ là trống không?
"Cảm ơn cha, cảm
ơn mẹ"-chỉ nói vậy là đủ phủ nhận mọi thứ từ bấy
lâu nay? sự liên hệ giữa cha mẹ, con cái là gì? Hay sợi
dây ràng buộc giữa cha mẹ và con cái chỉ là ảo tưởng?
Chỉ là một ý nghĩ sản sinh do thói quen? Có phải cha mẹ
và con cái chỉ là những vai trò giả tạo?
Ngồi lắng nghe
tiếng tụng kinh, tôi có cảm tưởng như mình vừa được
trao cho một công án để suy gẫm, nhìn Ni sư trụ trì bước
vào chánh điện, vừa tụng kinh trên gương mặt Jizo này, hình
như chỉ có đôi môi chuyển động như những sinh vật nhỏ
bé .
Ðôi môi đó hình
như đang nói :"Mu, MẨu".
Lễ thọ giới
xuất gia đã qua, nhưng con trai tôi vẫn sống ở nhà. Chúng
tôi đã thỏa thuận với Ni sư trụ trì là nó sẽ sống ở
nhà cho đến khi xong trung học đệ nhất cấp. Ðiều đó cũng
tốt cho nhà chùa nữa, vì thật sự phải trông coi một đứa
trẻ ở tuổi đó tại chùa thật phiền toái, vì thế tất
cả chúng tôi đều quyết định cho nó ở lại nhà trong lúc
này .
Lễ thọ giới
đã qua, giờ nó trở lại ngôi nhà nó vừa rời bỏ hôm qua
nhưng nó đứng đợi ở trước cổng nhà. Trước khi bỏ giầy
vào nhà, nó đứng thẳng lưng, chiếc đầu cạo hơi cúi xuống,
"Con phải nhờ sự chăm lo của cha mẹ trong thời gian này".
Chúng tôi không
thể gọi nó là Ryota nữa. "Phải gọi là Ryokai". Ni sư Gukai
nhắc nhở, nếu chúng tôi lỡ quên gọi nó là Ryota, nó sẽ
phản đối:"Xin gọi con là Ryokai".
Nó có vẻ rất
nghiêm túc về việc đó, và nó rất nghiêm túc về buổi lễ
tọ giới xuất gia nữa. Ðối với chúng tôi, cha mẹ của
nó, chúng tôi vẫn chưa hoàn toàn tin đó là sự thật, vì
thế chúng tôi thường xuyên cứ gọi nó là Ryota .
Cách nó tự xưng
là"Ryokai" thật buồn cười đến nỗi đôi khi tôi cố ý gọi
nó bằng tên cũ để chọc phá nó. Nhưng dần dần khi tôi
đã quen với tên gọi mới của nó, tôi cảm thấy có một
sự thay đổi kỳ diệu, giống như tôi gọi nó là Ryokai thay
vì Ryota, thì trong nó có một người khác hiện ra : Ryokai chẳng
bao giờ nói với em nó những câu như :"Mày muốn gì?" hay "Ðồ
ngu, hãy để tao yên" .
Nó chẳng còn
vứt giày ra nhà, thẩy cặp học lung tung, hay bỏ quần áo
dơ trên sàn. Khi đi học về đến nhà, Ryokai nói :"Thưa, con
đã về đến" .
Lúc dùng bữa,
nó chấp hai tay lại và nói :"Xin cảm tạ vì thức ăn này".
Trước khi đi
ngủ, nó tự giặt đồ lót nó bận trong ngày và phơi khô.
Tuy nhiên nó vẫn còn nằm trước TV, chống cằm lên tay, coi
phim hoạt hình "Doraemon" hay lắng nghe băng cassette của Off Course
và Arabesque. Theo Rie, em gái nó, thì nó còn nhảy theo điệu
nhạc disco khi không có mặt chúng tôi ở đó, khi ngồi học
bài, nó luôn gắn ống nghe của máy Walkman lên cái đầu đã
cạo tóc của nó .
Những lúc nhìn
thấy nó như thế, tôi thường tự hỏi không biết rằng nó
có làm lễ thệ nguyện quá sớm chăng. Nhưng mà rồi, nếu
nó không làm như thế, biết đâu nó đã trở thành tệ hại
hơn cả bây giờ .
Lúc mà tôi cảm
thấy r ràng rằng nó đã "bỏ nhà đi tu" là khi
chúng tôi đi ra
ngoài với nhau, cái đầu cạo tóc của nó nổi bật
-
khắp mọi nơi, nghĩ
rằng nó sẽ không còn ở nhà với chúng tôi bao lâu nữa,
nên thỉnh thoảng chúng tôi lái xe đưa nó đi dạo chơi hay
đi ăn nhà hàng-những thứ nó thích làm. Nhưng thằng bé da
trắng xanh với chiếc đầu cạo luôn làm mọi người chú
ý. Ðôi khi những lời xì xào của bọn trẻ tiểu học đến
tai chúng tôi :"Chắc là anh đó đang tập thi một môn thể
thao nào đó".
Vào những ngày chủ
nhật, khi chúng tôi lên chùa hành Thiền, nó mặc áo tu màu
đen, đội mũ. Còn tôi vận y phục bình thường, nên khi tôi
đi với nó, hình như nhiều người còn trố mắt nhìn hơn.
Tôi có cảm tưởng như tôi thì đi theo con đường dễ dãi,
sung sướng, còn con tôi thì phải chọn sự khổ cực. Tại
sao những bộ đồ màu đen đó lại tạo cho người ta có cảm
giác khổ chứ? Trong những trường hợp như thế, tôi cảm
thấy thương cho nó quá, nhưng lạ thay, nó chẳng để ý gì.
Hãy nhớ rằng trước đây nó thích mặc áo pull hiệu và quần
jean trắng, không biết có phải đây cũng là do sự đổi tên
mà ra?
Những đứa trẻ
con của các gia đình tu sĩ (LND ở Nhật, một số hệ phái
cho phép người tu sĩ được quyền lập gia đình, ăn mặn)
không thích bị cạo tóc, nên chúng đi học để tóc dài. Có
đứa còn không ưa Pháp danh của mình, nên đổi thành các
tên Nhật bình thường. Nghe rằng con tôi đã bỏ trường học
ngoài đời để học trở thành tu sĩ, chúng chọc ghẹo :"Thật
là ngu! Nếu mày muốn có cái chùa đến vậy, mày có thể
lấy chùa của tao" .
Ryokai về nhà,
kể lại với chúng tôi chuyện này với vẻ thú vị .
Một lần tôi
đến dự lễ gì đó ở trường, các học sinh đang diễu hành,
và kìa, giữa một biển đầu đen, có duy nhất một cái đầu
trông giống như một quả trứng trồi lên hụp xuống. Có
cái gì đó thôi thúc tôi kêu lên :"Ryokai!".
Tuy nhiên cũng
có nhiều điều bất tiện. Thí dụ bao vấn đề trong gia đình
bỗng trở thành vấn đề của nhà chùa, chúng tôi quên rằng
Ryokai giờ đã là con của chùa và không có gì mà nó không
nói, đó là một thói quen không thay đổi khác nữa của nó
.
"Kimura, hôm qua
lại đi ăn ở nhà hàng đó nữa à? Gia đình con thích đi ăn
tiệm quá phải không?" Ni sư trụ trì nói lại với nụ cười
cổ hủ trên môi .
"Con mới mua xe
à? Sắm áo quần mới cho thích hợp với công việc đó phải
không? lại mượn tiền ngân hàng nữa à? Các ngân hàng càng
ngày càng cho vay nợ nhiều hơn và thiên hạ đua nhau mượn
tiền để mua sắm cả những thứ họ không cần đến. Người
có lợi nhất vẫn là mấy ông ngân hàng!
"Lương tháng con
bao nhiêu? Ba trăm ngàn, hay bốn trăm ngàn yên? Con có tiền
để dành trong ngân hàng không? Không ? Mỗi tháng kiếm vô
bốn trăm ngàn yên, mà không để dành được đồng nào? đang
khó khắn lắm mới trả nổi tiền nhà hàng tháng, vậy mà
đi mua xe mới, con thật chẳng biết giữ tiền, con sẽ không
bao giờ sống nổi như người tu, còn làm ảnh hưởng xấu
đến Ryokai nữa .
"Con biết ở chùa
mỗi tháng chúng tôi được bao nhiêu không? Hai trăm ngàn yên
một tháng, con có thể không tin nhưng đó là sự thật, đôi
khi có thể hơn tùy tháng. Với số tiền đó chúng tôi phải
chi phí cho chùa và hơn mười ngàn mét vuông đất đai, không
có đông người, nhưng nhiều chó mèo, chim chóc. Thầy phải
mướn thợ làm vườn, mua hoa, nhang đèn, quần áo và các thứ
vật dụng khác. các tu sĩ cũng cần tiền vậy, nhưng ở đây
thầy không mua thực phẩm, các thầy chỉ ăn những gì bá
tánh cúng dường, có nhiều tháng thầy đã nghĩ là giá mà
nhà chùa có được ba trăm ngàn yên, sẽ đỡ hơn nhiều ".
Vì thế khi Ryota
trở thành Ryokai việc đầu tiên nó phải học không phải
là kinh kệ, hay các nghi thức ma chay, mà là cân bằng số tiền
của mình. Nó phải ghi xuống từng đồng yên nó đã nhận
được và chi tiêu, rồi Ni sư trụ trì sẽ xét lại. Khi nó
dọn đến ở chùa, Ni sư trụ trì sẽ bắt nó làm như thế
mỗi đêm, và chỉ khi nào cuốn sổ cân bằng, nó mới được
đi ngủ, nó se 4không thể mua nước ngọt ở trường một
cac1h bừa bãi .
Thú thật khi nói
về sự tiết kiệm tôi cũng tự hỏi không biết tiền sắm
sửa cho chùa, bảo quản chùa ở đâu mà ra. Các công ty thuộc
các tôn giáo như nhà chùa, tôi nghĩ, cũng được hưởng các
đặc quyền về thuế má, và Ni sư rất kỹ lưỡng về tiền
đóng góp của các Phật tử, cũng như lệ phí cho việc giữ
gìn mộ chí. (Sự tương phản r rệt giữa sự sung túc dần
tăng lên của chùa và lối sống khổ hạnh của Ni sư là điều
khó ai có thể lý giải. Một vài Phật tử bảo là khi Ni sư
còn trẻ, trên đường đi tìm đạo, người đã dùng năng
lực tâm linh để giúp đỡ một phú nông đang sống trong đau
khổ, và giờ ông chu cấp cho chùa. Nhưng đó chỉ là tin đồn.
Dầu gì, trong khoảng 15 năm tôi theo học Thiền tại đây,
tôi đã chứng kiến một sự biến dạng thay hình. Ngôi chùa
không còn là một chỗ xác xơ, u tối để cho loài chồn lảng
vảng đến nữa. Không những trong chánh điện được tô điểm
bằng các tầng hoa rực rỡ, ma Ni sư còn cho cất những khu
nhà ở khang trang trên đồi chỗ ngày xưa những bức tượng
Jizo từng bị cỏ dại chôn lấp. Chỗ mà trước đây trẻ
con thường chạy xe đạp lấn vào đất chùa, giờ là một
con đường điểm dọc hai bên bằng nhiều tượng mới, vào
mùa xuân hoa đào tươi bông xuống đó, và mùa hè tắm đẫm
những màu xanh. Cổng chính vào chùa, với tấm bảng gỗ đề
:"Núi Komyo : Thiền viện Zenkaiji" bằng mực xanh, giờ được
cắm vào chỗ ngày xưa người ta có thể nếu muốn, đi xuyên
tắt qua. Chỗ cỏ dại rậm rạp đã biến thành vườn "thực
vật" của Ni sư Gukai : một rừng các loại cây và hoa không
tên mà Ni sư đã thu nhặt được những ngày khai hoang trên
các đồi lân cận, giờ rộ hoa, ra trái và dâu) .
Xem
Tiếp
x
|