GIỚI
THỨ NĂM
Gìn
Giữ Thân Tâm, Lành Mạnh Xã Hội
Ý
thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc
tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng
sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập
chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện
chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm
con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không
uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống
hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có
một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim
ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng
rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha
mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện
chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng
cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho
xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để
chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.
Khi
tắm, ta có thể nhìn vào thân thể để thấy đó là món quà
của cha mẹ, ông bà. Cho dù nhiều người trong chúng ta không
muốn dính dáng gì đến cha mẹ của mình cả -- các người
đã làm khổ mình quá nhiều – nhưng khi nhìn sâu, ta thấy
mình không thể hoàn toàn chối bỏ mối dây liên hệ ấy.
Nhìn vào từng phần nơi thân thể, ta có thể hỏi mình, ‘Thân
này là của ai? Ai đã truyền trao thân thể này cho ta? Cái
gì đã được trao truyền?’ Quán như vậy, ta sẽ khám phá
ra có ba thành phần: người trao truyền, vật được trao truyền,
và người tiếp nhận sự trao truyền. Người trao truyền là
cha mẹ ta. Chúng ta là sự tiếp nối của cha mẹ và tổ tiên
mình. Vật được trao truyền chính là thân thể. Người tiếp
nhận sự trao truyền là chúng ta. Nếu ta tiếp tục quán chiếu
về vấn đề này, ta sẽ thấy rõ rằng người trao truyền,
vật trao truyền, và kẻ tiếp nhận sự trao truyền là một.
Ba thành phần đều có mặt nơi thân ta. Khi ta tiếp xúc sâu
sắc với giây phút hiện tại, ta có thể thấy tất cả tổ
tiên và tất cả các thế hệ tương lai đều có mặt trong
ta. Thấy điều này, ta sẽ biết mình phải làm gì và không
làm gì – cho mình, cho tổ tiên, và cho con cháu.
Ban
đầu, khi nhìn cha, ta có thể không thấy mình và cha mình là
một. Ta có thể giận cha nhiều chuyện. Nhưng giờ phút ta
hiểu và thương được cha mình, ta nhận ra tính trống rỗng
của sự trao truyền. Ta nhận ra rằng thương mình chính là
thương cha mình, và thương cha mình chính là thương mình. Giữ
gìn thân, tâm cho lành mạnh chính là giữ gìn cho tổ tiên,
cha mẹ, và các thế hệ tương lai. Ta làm việc ấy cho xã
hội, và cho tất cả mọi người, không phải chỉ làm cho
riêng mình. Điều ta cần phải nhớ trước tiên là ta không
thực tập như một cá nhân riêng lẻ. Những gì ta hấp thụ
thì ta cũng hấp thụ cho mọi người. Tất cả tổ tiên và
các thế hệ tương lại đều đang hấp thụ vào với ta. Đó
là ý nghĩa đích thực của tính không trong sự truyền trao.
Giới thứ Năm cần phải được thực tập trong tinh thần
này.
Có
những người uống rượu say sưa, họ tàn hoại thân thể,
gia đình, và xã hội của mình. Họ cần phải dừng lại việc
uống rượu đã đành. Nhưng mình trong suốt ba mươi năm qua,
chỉ uống mỗi tuần một ly vang, chẳng hại gì, tại sao lại
cần phải ngừng chuyện đó? Thực tập Giới này làm chi nếu
uống rượu không làm hại gì đến ai cả? Mặc dù ta không
làm hại đến mình trong ba mươi năm qua vì việc uống một
hay hai ly vang mỗi tuần, nhưng điều ấy lại có thể làm
hại đến con, cháu, và xã hội chúng ta. Ta chỉ cần nhìn
sâu để thấy điều này. Ta đang thực tập, không phải chỉ
cho riêng mình, mà cho tất cả. Con ta có thể có thiên hướng
nghiện rượu, và khi thấy ta uống rượu vang mỗi tuần, một
người trong số các con ta có thể trở nên nghiện rượu trong
tương lai. Ta bỏ hai ly rượu ấy là để tỏ cho con cái, bạn
bè, và xã hội thấy rằng cuộc đời mình không phải chỉ
cho riêng mình mà thôi. Cuộc đời ta là để cho tổ tiên,
các thế hệ tương lai, và cả cho xã hội. Dừng việc uống
hai ly rượu mỗi tuần, cho dù việc này chưa mang lại điều
gì tai hại cho ta cả, là một thực tập rất sâu. Đó là
tuệ giác của một vị Bồ Tát, biết rằng những gì mình
làm đều là làm cho tất cả tổ tiên và con cháu của mình.
Tính không của sự truyền trao là nền tảng của Giới thứ
Năm. Việc sử dụng ma túy của nhiều người trẻ cũng phải
được chấm dứt với cùng một thứ tuệ giác ấy.
Trong
đời sống hiện đại, người ta nghĩ rằng thân thể mình
là của mình, và mình có thể làm gì thì làm với nó. ‘Chúng
ta có quyền sống đời sống của riêng mình.’ Khi ta tuyên
bố như vậy, luật pháp ủng hộ chúng ta. Đây là một trong
những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Nhưng, theo giáo
lý về Không, thân này không phải là của mình. Thân này thuộc
về tổ tiên, cha mẹ, và các thế hệ tương lai. Thân này
cũng thuộc về xã hội, và tất cả mọi loài chúng sinh khác.
Tất cả đã đến với nhau, làm nên sự có mặt của thân
thể này – cây cối, mây, và tất cả. Giữ thân mình cho
lành mạnh là tỏ lòng biết ơn đối với toàn thể vũ trụ,
với tất cả tổ tiên, và cũng là không phản bội các thế
hệ tương lai. Chúng ta thực tập Giới này cho toàn thể vũ
trụ, và cho cả xã hội. Nếu chúng ta lành mạnh, thì ai cũng
lợi lạc cả -- không phải chỉ trong xã hội loài người,
mà cả trong xã hội cỏ cây, cầm thú, và đất đá. Đây
là Giới Bồ Tát. Trong khi thực tập Giới thứ Năm, chúng
ta đã ở trên con đường Bồ Tát Đạo.
Khi
ta có thể ra khỏi cái vỏ bản ngã nhỏ hẹp và thấy rằng
mình có liên hệ với tất cả mọi người và mọi vật, ta
thấy rằng mỗi hành động của mình đều dính liền với
toàn thể nhân loại, toàn thể vũ trụ. Giữ cho mình lành
mạnh tức là tử tế với tổ tiên, cha mẹ, các thế hệ
tương lai, cũng như với xã hội của mình. Sức khoẻ không
phải chỉ là sức khoẻ thân thể, mà còn là sức khoẻ tâm
hồn. Giới thứ Năm chính là về vấn đề sức khoẻ và trị
liệu.
‘Ý
thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc
tố gây ra, con xin học cách chuyển hoá thân tâm, xây
dựng sức khoẻ thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập
chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ
tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con,
và cho thân tâm gia đình và xã hội con.’ Bởi ta không phải
làm việc ấy cho riêng mình, ngưng uống một hay hai ly rượu
vang mỗi tuần đích thực là hành động của một vị Bồ
Tát. Ta làm việc ấy cho tất cả mọi người. Trong bữa tiệc
tiếp tân, khi có người mời ta một ly rượu vang, ta có thể
mỉm cười và từ chối: ‘Cảm ơn. tôi không uống rượu.
Nếu anh cho tôi một ly nước trái cây hay nước lạnh thì
tôi sẽ cảm ơn lắm.’ Ta từ chối nhẹ nhàng, với nụ cười
trên môi. Điều ấy rất ích lợi. Ta làm gương cho bao nhiêu
bạn bè có mặt, trong đó có các trẻ em. Dù việc này có
thể được làm một cách lễ độ, thầm lặng, nó chính là
hành động của một vị Bồ Tát, làm gương bằng chính đời
sống của mình.
Những
gì bà mẹ ăn, uống, lo, hay sợ đều sẽ ảnh hưởng đến
bào thai trong người bà. Cho dù em bé trong bụng bà vẫn còn
rất nhỏ, tất cả đều dồn hết trong em. Nếu bà mẹ không
ý thức về bản chất tương tức này, bà có thể sẽ gây
thương tổn cho cả hai mẹ con đồng một lúc. Nếu bà mẹ
uống rượu, bà sẽ hủy hoại, đến một mức độ nào đó,
những tế bào óc trong thai nhi. Nghiên cứu hiện đại đã
chứng minh điều này.
Tiêu
thụ có chánh niệm là mục tiêu Giới này nhắm đến. Ta là
sản phẩm của những gì ta tiêu thụ. Nếu ta nhìn sâu vào
những thứ ta tiêu thụ hằng ngày, ta sẽ biết được bản
chất của mình rất rõ. Ta phải ăn, uống, tiêu thụ, nhưng
nếu làm việc ấy một cách thiếu chánh niệm, ta có thể
tàn hoại thân tâm mình, vô ơn với tổ tiên, cha mẹ, và các
thế hệ tương lai.
Khi
ăn có chánh niệm, ta tiếp xúc được với thức ăn. Những
thức ta ăn đến từ thiên nhiên, từ các sinh vật, và từ
vũ trụ. Tiếp xúc với thức ăn bằng chánh niệm của mình
tức là bày tỏ sự biết ơn. Ăn trong chánh niệm có thể
là một niềm vui lớn. Ta gắp một miếng thức ăn lên, nhìn
vài giây trước khi bỏ vào miệng, rồi nhai kỹ với chánh
niệm ít nhất năm mươi lần. Nếu ta thực tập như vậy,
ta sẽ có thể tiếp xúc được với toàn thể vũ trụ.
Tiếp
xúc cũng có nghĩa là biết được trong thức ăn có độc tố
hay không. Ta có thể nhận biết thức ăn có lành mạnh hay
không nhờ chánh niệm. Trước khi ăn, những người trong gia
đình có thể thực tập thở vào, thở ra, và nhìn các thức
ăn trên bàn. Một người có thể gọi tên các món ăn, ‘khoai
tây,’ ‘xà lách,’ v.v... Gọi tên một vật giúp ta tiếp
xúc được một cách sâu sắc với vật ấy, và thấy được
bản chất đích thực của nó. Trong lúc đó, chánh niệm cho
ta biết sự hiện diện hay vắng bóng của các độc tố trong
mỗi món ăn. Trẻ em thích làm việc này nếu ta bày cho các
em. Ăn có chánh niệm là một phép giáo dục tốt. Nếu ta thực
tập cách này một thời gian, ta sẽ thấy mình ăn có chánh
niệm hơn, và sự thực tập ăn có chánh niệm của ta sẽ
làm gương cho kẻ khác. Ăn như thế nào để mang chánh niệm
vào đời sống của mình là một nghệ thuật.
Ta
có thể có một chế độ kiêng cữ cho thân thể, và cũng
có thể có một chế độ kiêng cữ cho tâm thức, sức khoẻ
tâm hồn của mình. Ta cần tránh hấp thụ các ‘món ăn’
tinh thần đưa độc tố vào tâm thức. Một số chương trình
truyền hình giáo dục và giúp ta có một nếp sống lành mạnh,
và ta cần phải dành thời gian để xem các chương trình như
vậy. Nhưng một số chương trình khác mang lại độc tố cho
ta, và ta cần phải tránh không xem chúng. Đây có thể là một
thực tập cho tất cả mọi người trong gia đình.
Chúng
ta biết rằng hút thuốc không tốt cho sức khoẻ. Chúng ta
đã nỗ lực vất vả để khiến các nhà sản xuất phải
in một dòng trên bao thuốc lá: ‘CẢNH CÁO: HÚT THUỐC CÓ
THỂ NGUY HẠI ĐẾN SỨC KHOẺ.’ Đó là một tuyên bố mạnh,
nhưng cần thiết vì các quảng cáo khuyến khích việc hút
thuốc rất thuyết phục. Những quảng cáo này mớm cho người
trẻ ý niệm rằng nếu không hút thuốc thì không thực sự
sống. Những quảng cáo này dính đến hình ảnh thiên nhiên,
mùa xuân, xe cộ đắt tiền, những người đẹp trai, đẹp
gái, và những mức sống cao. Người ta có thể cho rằng nếu
không hút thuốc hay uống rượu, thì mình sẽ không có hạnh
phúc gì trên đời cả. Thứ quảng cáo này rất nguy hại;
nó thấm vào tâm thức mình. Có bao nhiêu thứ mầu nhiệm và
lành mạnh để ăn và để uống. Chúng ta phải trỏ cho người
ta thấy thứ tuyên truyền này phờ phỉnh con người ra sao.
Cảnh
báo trên bao thuốc lá chưa đủ. Chúng ta phải đứng lên,
viết bài, hay làm bất cứ gì ta có thể làm để đẩy mạnh
các cuộc vận động chống hút thuốc và uống rượu. Chúng
ta đang đi đúng hướng. Cuối cùng chúng ta đã có thể đi
may bay mà không phải chịu đựng khói thuốc lá. Chúng ta cần
phải cố gắng thêm nữa theo hướng ấy.
Tôi
biết việc uống rượu vang đã ăn sâu vào văn hoá phương
Tây. Trong Lễ Rước Thánh Thể của Đạo Ki-tô và Lễ Quá
Hải của đạo Do Thái, rượu vang là một yếu tố quan trọng.
Nhưng tôi đã nói chuyện với các linh mục và giáo sĩ Do Thái
về vấn đề này, và họ nói với tôi rằng có thể thay thế
rượu vang bằng nước nho ép. Cho dù ta không uống, ta vẫn
có thể bị người say đụng chết ngoài đường. Thuyết phục
một người không uống rượu tức là làm cho thế giới an
toàn hơn cho tất cả chúng ta.
Đôi
lúc ta không cần phải ăn hay uống nhiều như vậy, nhưng ăn,
uống đã trở nên một thứ nghiện ngập. Ta cảm thấy quá
cô đơn. Cô đơn là một trong những nỗi khổ của cuộc sống
hiện đại. Cũng giống như trường hợp của Giới thứ Ba
– ta cảm thấy cô đơn cho nên ta gia nhập vào một câu chuyện,
hay thậm chí vào một quan hệ tình dục, hy vọng rằng cảm
giác cô đơn sẽ biến đi. Ăn uống cũng có thể là hậu quả
của cô đơn. Ta muốn uống, hay ăn cho nhiều để quên đi
sự cô đơn trống trải, nhưng những gì ta ăn có thể mang
độc tố đi vào thân thể ta. Khi cô đơn, ta mở tủ lạnh,
xem tivi, đọc báo hay tiểu thuyết, hoặc nhắc điện thoại
lên nói chuyện. Nhưng tiêu thụ không có chánh niệm bao giờ
cũng làm cho tình trạng xấu thêm hơn.
Có
thể có rất nhiều bạo động, căm thù, và sợ hãi trong một
cuốn phim. Nếu ta bỏ ra một giờ xem cuốn phim đó, ta sẽ
tưới tẩm những hạt giống bạo động, căm thù, và sợ
hãi trong ta. Chúng ta làm như vậy, và cũng để cho con mình
làm như vậy. Vì vậy ta cần phải có một cuộc họp gia đình
để bàn thảo một chính sách thông minh liên quan đến việc
xem tivi. Chúng ta có thể cũng cần phải dán lên máy truyền
hình của mình một hàng chữ giống như ta đã dán trên các
bao thuốc lá: ‘CẢNH CÁO: XEM TRUYỀN HÌNH CÓ THỂ NGUY HẠI
ĐẾN SỨC KHOẺ.’ Đó là sự thật. Có những thiếu niên
đã vào băng đảng, và nhiều em khác rất bạo động, một
phần vì các em đã thấy nhiều cảnh bạo động trên tivi.
Chúng ta phải có những chính sách thông minh liên hệ đến
việc sử dụng truyền hình trong gia đình.
Chúng
ta nên thu xếp thời khoá biểu của mình như thế nào để
cả nhà có thời giờ hưởng lợi ích từ các chương trình
lành mạnh và tốt đẹp trên tivi. Chúng ta không cần phải
đập bể máy truyền hình; chúng ta chỉ cần sử dụng nó
với trí tuệ và chánh niệm. Điều này có thể được bàn
bạc trong gia đình và cộng đồng. Có một số việc ta có
thể làm, như yêu cầu đài truyền hình lập chương trình
lành mạnh hơn, hay đề nghị các nhà sản xuất chế ra những
máy truyền hình chỉ nhận sóng của các đài phát ra những
chương trình giáo dục, lành mạnh, chẳng hạn như đài PBS.
Trong cuộc chiến Việt Nam, quân đội Mỹ đã thả hàng trăm
ngàn chiếc radio vào rừng, những chiếc máy này chỉ có thể
tiếp nhận sóng từ một đài phát thanh mà thôi, đó là đài
tuyên truyền cho phía chống cộng. Đây không phải là chiến
tranh tâm lý, nhưng tôi nghĩ nhiều gia đình sẽ hoan nghênh
chiếc máy truyền hình chỉ cho phép ta xem những chương trình
lành mạnh. Tôi hy vọng các bạn sẽ viết cho các hãng sản
xuất Tivi và các đài truyền hình để bày tỏ ý kiến của
mình về vấn đề này.
Chúng
ta cần được bảo vệ vì các độc đố quá ngập tràn. Chúng
đang hủy hoại xã hội, gia đình, và cá nhân ta. Chúng ta phải
dùng mọi cách có thể để bảo vệ chính mình. Thảo luận
về đề tài này sẽ mang lại những ý kiến quan trọng, như
làm sao để bảo vệ mình khỏi các chương trình truyền hình
độc hại. Chúng ta cũng cần phải thảo luận với gia đình
và cộng đồng mình về những tạp chí mà mình và con em mình
thích đọc, đồng thời ta nên tẩy chay các tạp chí tuông
nhả độc tố vào xã hội chúng ta. Không phải chỉ không
đọc các tạp chí này, ta còn cần phải nỗ lực cảnh báo
cho mọi người tác hại của việc đọc và tiêu thụ các
sản phẩm này. Với các sách báo và chuyện trò khác cũng
vậy.
Vì
cô đơn, ta muốn nói chuyện, nhưng câu chuyện của ta lại
có thể mang lại nhiều độc tố. Thỉnh thoảng, sau khi nói
chuyện với một người xong, ta cảm thấy tê liệt vì những
gì mình vừa nghe. Chánh niệm sẽ cho phép ta ngưng loại chuyện
trò thêm vào cho ta nhiều độc tố.
Các
nhà tâm lý trị liệu là những người lắng nghe nỗi khổ
niềm đau của thân chủ của họ. Nếu họ không biết thực
tập trung hoà và chuyển hoá những nỗi khổ niềm đau trong
họ, thì họ sẽ không thể giữ sự tươi mát và lành mạnh
để chịu đựng lâu dài.
Bài
tập tôi đề nghị có ba điểm: Trước hết, nhìn sâu vào
thân tâm mình và nhận diện các loại độc tố đã có sẵn
trong ta. Mỗi người phải là vị lương y của chính mình,
không phải chỉ cho thân mà còn cho tâm nữa. Sau khi đã nhận
diện những độc tố ấy, ta có thể tìm cách trục chúng
ra ngoài. Một trong những cách đó là uống cho nhiều nước.
Cách khác là thực tập xoa bóp, kích thích máu đến chỗ có
độc tố để máu có thể tẩy sạch chúng. Cách thứ ba là
thở sâu vào không khí trong lành. Cách này sẽ mang nhiều khí
oxy vào máu, giúp máu tống các chất độc ra khỏi thân thể.
Có những vận hành trong thân thể để trung hoà và trục xuất
các chất này, nhưng thân thể ta có thể quá yếu để có
thể tự làm việc ấy. Trong khi làm những việc này, ta phải
ngừng hấp thụ thêm vào các chất độc.
Đồng
thời, ta nhìn vào tâm thức để thấy các loại độc tố
nằm sẵn trong đó. Chúng ta có nhiều giận hờn, tuyệt vọng,
sợ hãi, căm thù, tham lam, và ganh tị -- tất cả những thứ
này, Bụt gọi là chất độc. Bụt nói đến ba chất độc
căn bản là tham, sân, và si. Còn nhiều nữa, ta phải nhận
diện sự có mặt của chúng trong ta. Hạnh phúc của chúng
ta tùy thuộc vào khả năng chuyển hoá các chất độc này.
Chúng ta chưa từng tu tập, do đó bị cuốn theo nếp sống
thiếu chánh niệm của mình. Phẩm chất của đời sống chúng
ta tùy thuộc rất nhiều vào vốn liếng bình an và niềm vui
có mặt trong thân tâm chúng ta. Nếu có quá nhiều chất độc
trong thân thể và tâm thức mình, thì niềm vui và sự bình
an trong ta sẽ không đủ mạnh để làm cho ta hạnh phúc. Vì
vậy bước đầu tiên là nhận diện cho ra những chất độc
đang có mặt trong mình.
Bước
thứ hai của sự thực tập là ý thức về những gì mình
đang đưa vào trong thân thể và tâm thức mình. Tôi đang đưa
loại độc tố nào vào thân thể ngày hôm nay? Tôi đang xem
cuốn phim nào hôm nay? Tôi đang đọc cuốn sách nào? Tôi đang
coi tờ báo nào? Tôi đang có loại chuyện trò nào? Hãy tìm
cách nhận diện cho ra các độc tố.
Phần
thứ ba của sự thực tập là tự kê cho mình một chế độ
kiêng cữ. Ý thức về sự kiện có quá nhiều độc tố như
vậy trong thân tâm mình, ý thức về sự kiện mình đang đưa
hết độc tố này đến độc tố khác vào thân tâm mình mỗi
ngày, khiến cho mình bị bệnh và gây đau khổ cho những người
thương của mình, mình nguyện không đưa thêm độc tố vào
thân thể và tâm thức nữa.
Do
đó, mình nguyện tránh không đưa vào thân tâm những thứ
này nữa, và mình liệt kê ra những thứ đó. Chúng ta biết
có bao nhiêu thứ bổ dưỡng, lành mạnh, và thú vị ta có
thể tiêu thụ hằng ngày. Khi ta không uống rượu, có bao nhiêu
chọn lựa khác ngon và lành mạnh: nước trái cây, trà, nước
khoáng. Ta không cần phải lấy đi của mình niềm vui sống,
hoàn toàn không. Có bao nhiêu chương trình đẹp đẽ, súc tích,
và thú vị trên truyền hình. Có bao nhiêu sách báo rất hay
để đọc. Có bao nhiêu con người tuyệt diệu và bao nhiêu
đề tài lành mạnh để cùng nhau đàm luận. Khi phát nguyện
chỉ tiêu thụ những gì nuôi dưỡng sức khoẻ và an lạc
cho mình, cho gia đình và xã hội, ta không cần phải tước
đi của mình niềm vui sống. Thực tập bài tập thứ ba này
mang cho ta niềm an lạc sâu xa.
Thực
tập kiêng cữ là thực chất của Giới này. Chiến tranh, bom
đạn là những sản phẩm của tâm thức cá nhân và cộng
đồng. Tâm thức cộng đồng của chúng ta có quá nhiều bạo
động, sợ hãi, thèm khát, và căm thù, được biểu hiện
bằng chiến tranh và bom đạn. Bom là sản phẩm của sợ hãi.
Vì kẻ khác có những trái bom có sức công phá lớn, cho nên
ta phải làm sao để chế tạo ra những trái bom còn hữu hiệu
hơn. Và khi các nước kia nghe ta có những trái bom thượng
thặng này, họ lại tìm cách chế tạo ra những trái bom còn
mạnh hơn thế nữa. Dẹp bỏ những trái bom không đủ. Cho
dù ta có thể chở bom đến một hành tinh xa xôi khác, ta vẫn
không có an ninh, vì gốc rễ của chiến tranh và bom đạn vẫn
còn nguyên vẹn trong tâm thức cộng đồng của chúng ta. Chuyển
hoá các chất độc trong tâm thức cộng đồng mới là cách
đích thực để nhổ tận gốc chiến tranh.
Khi
chúng ta xem cuộn băng Rodney King bị đánh trên đường phố
Los Angeles, chúng ta không hiểu tại sao năm cảnh sát lại phải
đánh đi đánh lại một người hoàn toàn không tự vệ như
vậy. Chúng ta thấy sự bạo động, căm thù, và sợ hãi trong
những người cảnh sát. Nhưng đây không phải chỉ là vấn
đề của năm người cảnh sát ấy. Hành động của họ là
biệu hiện của tâm thức cộng đồng chúng ta. Họ không phải
là những người duy nhất bạo động và đầy dẫy sợ hãi,
căm thù. Hầu hết tất cả chúng ta đều như vậy. Có quá
nhiều bạo động trong tất cả các thành phố lớn, không
phải chỉ ở Los Angeles, mà còn ở San Francisco, New York, Washington
D.C., Chicago, Tokyo, Paris, và nhiều nhiều nữa. Mỗi sáng, khi
đi làm, những người cảnh sát nhủ thầm: ‘Mình phải cẩn
thận nếu không thì có thể bị giết. Mình sẽ không thể
trở về với gia đình được.’ Một người cảnh sát huân
tập sợ hãi mỗi ngày, và vì vậy, anh ta có thể làm những
việc hoàn toàn thiếu khôn ngoan. Nhiều khi không thực sự
có đe doạ, nhưng vì nghi mình có thể bị bắn, anh ta cầm
súng và bắn trước. Một tuần trước khi Rodney King bị đánh,
một nữ cảnh sát đã bị bắn vào mặt và chết. Lẽ đương
nhiên các cảnh sát trong vùng phẫn nộ khi nghe tin, và đồng
tới đám tang để biểu dương sự tức giận và căm hờn
của họ đối với xã hội và chính quyền vì đã không phòng
bị cho họ đầy đủ an toàn. Chính phủ cũng không an toàn
– các tổng thống và thủ tướng bị ám sát. Vì xã hội
như vầy, cho nên cảnh sát như kia. ‘Cái này có, vì cái kia
có. Cái này như thế này, vì cái kia như thế kia.’ Một xã
hội bạo động tạo ra các cảnh sát bạo động. Một xã
hội đầy sợ hãi tạo ra các cảnh sát đầy sợ hãi. Bỏ
tù cảnh sát không giải quyết vấn đề. Chúng ta phải thay
đổi xã hội từ tận gốc rễ, đó là tâm thức cộng đồng
của chúng ta, nơi tiềm ẩn các năng lượng sợ hãi, tham,
giận, và ghét bỏ.
Chúng
ta không thể bãi bỏ chiến tranh bằng các cuộc biểu tình
đầy phẫn nộ. Chúng ta phải thực tập một chế độ kiêng
cữ cho mình, cho gia đình, và xã hội mình. Chúng ta phải làm
việc ấy với những người khác. Để có những chương trình
truyền hình lành mạnh, ta phải làm việc với các nghệ sĩ,
nhà văn, nhà làm phim, luật sư, và các nhà làm luật. Chúng
ta phải đẩy mạnh cuộc tranh đấu này. Thiền tập không
nên là một thứ thuốc phiện làm cho ta quên đi những vấn
đề thực sự. Thiền tập phải mang lại sự tỉnh giác trong
ta, cũng như trong gia đình, và xã hội ta. Giác ngộ phải có
tính tập thể thì chúng ta mới đạt tới các kết quả. Chúng
ta phải ngừng các loại tiêu thụ đầu độc tâm thức cộng
đồng của chúng ta.
Tôi
không thấy cách nào khác hơn là thực tập những Giới Bồ
Tát này. Chúng ta cần phải thực tập như một xã hội để
có thể tạo ra những thay đổi mạnh mẽ cần thiết. Thực
tập như một xã hội chỉ có thể có được khi mỗi người
trong chúng ta phát nguyện thực tập như một vị Bồ Tát.
Vấn đề rất lớn. Nó liên hệ đến sự sống còn của chúng
ta cũng như sự sống còn của nhân loại và trái đất. Đây
không phải là vấn đề thưởng thức một ly rượu. Nếu
ta ngưng việc uống ly rượu của mình, ta làm điều ấy cho
cả xã hội. Chúng ta biết rằng Giới thứ Năm cũng y hệt
như Giới thứ Nhất. Khi ta thực tập không sát hại và biết
bảo vệ sinh mạng của cả những loài vật nhỏ, ta nhận
ra rằng ăn ít thịt có liên quan đến việc thực tập Giới
thứ Nhất. Nếu ta không thể chấm dứt hoàn toàn việc ăn
thịt, thì ít nhất hãy cố giảm ăn thịt. Nếu giảm được
năm mươi phần trăm việc ăn thịt và uống rượu, thì ta
đã tạo ra được một phép lạ; chỉ tự nó thôi đã có
thể giải quyết nạn đói ở thế giới thứ ba. Đó là vì
sao trong suốt buổi lễ tụng Giới, chúng ta luôn đáp lại
câu hỏi ta có cố gắng học hỏi và hành trì Giới hay không
bằng hơi thở sâu. Đó là câu trả lời hay nhất. Thở sâu
có nghĩa là tôi đã có cố gắng, nhưng tôi có thể làm hay
hơn.
Giới
thứ Năm có thể cũng giống như vậy. Nếu ta không thể ngưng
uống hoàn toàn, thì hãy bớt bốn phần năm, hay ba phần tư.
Sự khác biệt giữa Giới thứ Nhất và Giới thứ Năm là
rượu không giống như thịt. Rượu gây nghiện. Một giọt
này kéo theo nhiều giọt khác. Đó là vì sao chúng ta được
khuyến khích bỏ luôn dù là một ly vang. Một ly có thể dẫn
theo ly thứ hai. Mặc dù trong cùng một tinh thần như Giới
thứ Nhất, ta lại được khuyên một cách mạnh mẽ bỏ luôn
ly rượu đầu tiên. Khi ta thấy mình ở trong hiểm hoạ lớn,
tránh từ ly đầu tiên là một biểu hiện của sự thức tỉnh
của mình. Ta làm cho tất cả. Ta phải làm gương cho con em
và bè bạn của mình. Trên truyền hình Pháp người ta nói:
‘Một ly thì không sao, nhưng ba ly thì sẽ dẫn tới nguy cơ
hủy diệt.’ (Un verre ca va; trois verres bonjour les dégâts.) Họ
không nói ly thứ nhất đưa đến ly thứ hai, và ly thứ hai
đưa đến ly thứ ba. Họ không nói, vì họ thuộc vào nền
văn minh rượu vang. Ở Làng Mai, thuộc vùng Bordeaux của nước
Pháp, chúng tôi được bao quanh bởi rượu vang. Nhiều láng
giềng của chúng tôi ngạc nhiên vì chúng tôi không những
không hưởng lợi lạc gì khi ở vùng này, mà còn là một
ổ đề kháng. Tội nghiệp chúng tôi quá.
Khi
còn là chú điệu, tôi được biết rằng đôi khi chúng ta
phải dùng rượu làm thuốc. Có nhiều loại rễ, và dược
thảo cần phải ngâm trong rượu thì mới có hiệu nghiệm.
Những lúc ấy, rượu được cho phép. Khi các dược thảo
đã được điều chế xong, chúng ta bỏ tất cả hỗn hợp
vào nồi và nấu lên. Chúng sẽ không còn tác dụng độc hại
nữa. Dùng rượu trong khi nấu nướng cũng vậy. Khi thức ăn
đã nấu chín, rượu trong món ăn sẽ không còn tính độc
hại nữa. Chúng ta không nên hẹp hòi quá về chuyện này.
Không
ai có thể trì Giới một cách hoàn hảo, kể cả Bụt. Các
món chay cúng dường lên Ngài không hoàn toàn chay lắm. Trong
rau luộc có vi khuẩn chết. Ta không thể thực tập Giới thứ
Nhất hay bất cứ Giới nào hoàn toàn. Nhưng vì hiểm hoạ
đích thực trong xã hội chúng ta -- nạn nghiện rượu đã
phá hoại không biết bao nhiêu là gia đình và đã gây ra không
biết bao nhiêu là đau khổ -- cho nên chúng ta phải làm một
cái gì đó. Chúng ta phải sống như thế nào để bứng tận
gốc mối nguy hại này. Đó là vì sao dù bạn có thể rất
lành mạnh với một ly rượu mỗi tuần, tôi vẫn tha thiết
khuyên bạn hãy bỏ ly rượu ấy đi.
Tôi
cũng xin được nói về việc không sử dụng ma túy. Cũng như
rượu từng là tai hoạ của một thế hệ, ma túy là tai hoạ
của một thế hệ khác. Một thiếu nữ ở Úc nói với tôi
cô chưa gặp ai đồng trang lứa mà không dùng ma túy loại
này hay loại khác. Thường những người trẻ hút xách đến
các trung tâm thiền tập để xử lý vấn đề đối diện
với cuộc sống như tự thân của nó. Họ thường là những
người rất có tài và nhạy cảm -- hoạ sĩ, thi sĩ, và nhà
văn – và trong khi trở nên nghiện ngập, họ đã ít nhiều
làm hư hoại một số tế bào óc. Điều này có nghĩa là bây
giờ có có ít khả năng hay tự chủ, có khuynh hướng mất
ngủ và gặp ác mộng. Chúng tôi đã làm những gì có thể
để khuyến khích họ ở trọn khoá tu trong thiền viện, nhưng
vì họ rất dễ vỡ mộng, cho nên hay rời khi sự việc trở
nên khó. Những người từng nghiện ma túy cần có kỷ luật.
Tôi không chắc rằng trung tâm thiền tập như Làng Mai là nơi
tốt nhất để chữa các nạn nhân nghiện ma túy. Tôi nghĩ
rằng những nhà chuyên môn và chuyên khoa trong lĩnh vực này
được trang bị đầy đủ hơn chúng tôi. Một trung tâm thiền
tập nên có khả năng đón tiếp các nhà giáo dục và chuyên
môn trong lĩnh vực cai nghiện, cũng như tiếp nhận các nạn
nhân nghiện ma túy trong các khoá thiền ngắn hạn để người
ta biết những chỗ phải tìm khi thật sự cần đến.
Thực
tập mà chúng tôi cống hiến là Giới thứ Năm, ngăn người
ta dính dấp đến ma túy ngay từ đầu. Phụ huynh đặc biệt
cần phải biết nên cho con loại thức ăn tinh thần nào. Rất
thường khi, con cái cảm thấy đói khát về tinh thần bởi
cách nhìn hoàn toàn thiên về vật chất của cha mẹ. Phụ
huynh không có khả năng trao truyền lại cho con cái những giá
trị của di sản tinh thần của họ, và vì vậy con cái đi
tìm sự thoả mãn trong ma túy. Ma túy có vẻ như là giải pháp
duy nhất, khi phụ huynh và thầy giáo nghèo nàn trơ trọi về
tâm linh. Tuổi trẻ cần được tiếp xúc với cảm giác an
ổn nằm sâu trong họ mà không phải đi qua con đường ma túy,
và công việc của các nhà giáo dục là giúp cho tuổi trẻ
tìm được thức ăn tâm linh và sự an lạc. Nhưng nếu các
nhà giáo dục cũng chưa tìm ra được cho mình nguồn nuôi dưỡng
của tâm linh, thì làm sao họ chỉ được cho người trẻ làm
sao để có thể tìm ra được nguồn nuôi dưỡng ấy?
Giới
thứ Năm khuyên ta tìm những thức ăn tinh thần lành mạnh,
không phải chỉ cho riêng mình mà còn cho con cháu và các thế
hệ tương lại nữa. Những chất liệu nuôi dưỡng lành mạnh,
tâm linh có thể được tìm nơi đoá hoa mùa xuân, ánh mắt
em thơ, hay vầng trăng sáng. Những bài thực tập căn bản
nhất, ý thức về thân, tâm, và ngoại cảnh có thể đưa
ta tới một trạng thái đầy đủ, giàu có mà ma túy không
thể nào đem tới được. Chúng ta có thể vui được cái vui
sẵn có, trong những hạnh phúc đơn sơ nhất.
Việc
sử dụng rượu và ma túy gây ra không biết bao nhiêu là tai
hại cho gia đình và xã hội. Các chính phủ đã làm việc
rất nhiều để ngăn chặn sự buôn bán ma túy. Họ đã dùng
máy bay, súng ống, và quân đội để làm việc này. Hầu hết
đều biết ma túy tàn hoại đến đâu, nhưng người ta không
thể cưỡng lại được vì nỗi đau và sự cô đơn trong họ
quá lớn, việc sử dụng rượu và ma túy giúp họ quên đi
trong chốc lát nỗi muộn phiền sâu xa đó. Một khi đã nghiện
rượu và ma túy, người ta có thể làm bất cứ chuyện gì
miễn là có thuốc mà thôi – nói dối, ăn trộm, ăn cướp,
cho đến giết người. Ngăn chặn sự buôn bán ma túy chưa
phải là cách hay nhất để ngăn ngừa việc sử dụng ma túy.
Cách hay hơn cả là thực tập Giới thứ Năm và giúp mọi
người thực tập.
Tiêu
thụ có chánh niệm là cách thông minh để thôi đưa vào thân
thể và tâm hồn mình những độc tố, và cũng để ngăn không
cho sự muộn phiền đi đến chỗ tràn ngập, lấn áp. Học
nghệ thuật tiếp xúc và tiếp thu những yếu tố tươi mát,
nuôi dưỡng, trị liệu là cách để khôi phục lại sự quân
bình, và chuyển hoá những nỗi đau và niềm cô đơn sẵn
có. Muốn làm như vậy, ta phải thực tập chung với nhau. Việc
thực tập tiêu thụ có chánh niệm nên trở thành một chính
sách quốc gia. Việc này cần được xem như giáo dục hoà
bình đích thực. Phụ huynh, giáo viên, nhà giáo dục, y sĩ,
nhà trị liệu, luật sư, tiểu thuyết gia, phóng viên, nhà
làm phim, nhà kinh tế, và các nhà làm luật phải thực tập
với nhau. Nhất định phải có những cách để tổ chức hình
thức thực tập này.
Việc
thực tập chánh niệm giúp ta có ý thức về những gì đang
xảy ra. Một khi chúng ta thấy được một cách sâu sắc khổ
đau, và những gốc rễ khổ đau, ta sẽ được thúc đẩy
để hành động, để tu tập. Năng lượng chúng ta cần không
phải là sợ hãi hay tức giận; năng lượng chúng ta cần là
năng lượng của hiểu biết và thương yêu. Trách móc và buộc
tội không có ích lợi gì. Những kẻ tự hủy hoại mình không
làm việc ấy một cách cố ý. Nỗi khổ và niềm cô
đơn của họ quá ngập tràn, và họ muốn thoát ra. Họ cần
sự giúp đỡ, không phải sự trừng phạt. Chỉ có tình thương
và sự hiểu biết ở mức độ tập thể mới có thể giải
phóng chúng ta. Sự thực tập Giới thứ Năm chính là sự thực
tập chánh niệm và từ bi. Để cho tương lại còn có mặt
cho con cháu chúng ta, chúng ta cần phải tu tập.