LƯỚI
ĐẾ CHÂU CỦA CHÚNG TA
Gary
Snyder
Trong
trang cuối của bài tiểu luận 'Mạng lưới của vua trời
Đế Thích dưới dạng Dây Chuyền Thực Phẩm -- Viễn cảnh
Sinh Thái của Gary Snyder,' David Barnhill nói: 'Theo Snyder, lưới
Đế Châu được áp dụng trong việc săn bắt và ăn thịt,
trong đó loài bị săn bắt/ăn thịt biểu lộ lòng thương,
và kẻ săn bắt/ăn thịt biểu lộ sự trong sạch và tôn trọng.[8]
' Tôi xin nới rộng câu ấy để nói rằng bất cứ hình thức
thu hoạch hay trồng tỉa nào cũng đều cần đến lòng thương,
sự trong sạch, và tôn trọng từ mọi phía: kẻ ăn chay và
người săn bắt đều đòi hỏi phải có bằng đó chánh niệm
như nhau. David Barnhill nói tiếp rằng: 'Đạo Bụt, theo truyền
thống, đương nhiên cấm ăn thịt, nhưng ta có thể thấy vì
sao Snyder lại chọn không theo nguyên tắc đó.' Kỳ thực, tôi
chấp nhận nguyên tắc đó, như một quan niệm, một thách
đố, và một mục đích, tùy thời phải chỗ. Chọn không
ăn thịt là một bước triển khai sơ đẳng của Giới thứ
Nhất, ahimsa, bất hại, không gây 'tổn hại không cần thiết.'
Nhưng đây là thế giới Ta-bà (saba) của khổ đau hệ lụy
(dukkha), con người sống trong sự thiếu nghèo, cỏ cây, cầm
thú sống trên sự sống của nhau. Cõi này được diễn tả
trong Kinh như là cảnh giới của Dục (kama), của ham muốn
và nhu cầu sinh học vốn đang chi phối tất cả. Hễ có thở
tức có đói.
Đến
khi Barnhill dường như đi đến lý luận rằng người ta do
đó nên ăn thịt, thì tôi phải xin phép không đồng ý. Đó
là kết luận của Barnhill, không phải kết luận của tôi,
rằng 'nếu chúng ta gượng ép rút mình ra khỏi thân phận
ăn thịt trong mạng lưới lương thực ... thì chúng ta có vẻ
như đang khẳng định cho mình một vị trí đặc biệt trong
mạng lưới.' Quan điểm của riêng tôi là bất cứ lúc nào,
ở đâu nếu người ta có thể sống được toàn bằng rau
quả và ngũ cốc, thì điều ấy rất đáng hoan nghênh. Song,
với nhiều người, đây không phải là một chọn lựa có
thể đứng vững. Dân miền cực Bắc là trường hợp rõ ràng
nhất, nhưng còn có những người ở vùng thảo nguyên, sa mạc,
những người ở vùng ven biển, vùng núi đã quen sống nhiều
đời với các thực phẩm không đến từ thảo mộc. Hầu
hết mọi người phải thường xuyên sống bằng một nền
kinh tế lương thực hỗn hợp, trong đó có cả sự sống động
vật. Những người đạo Bụt chúng ta có nên gạt họ ra ngoài
rìa chăng? 'Lũ dân biên địa không thể nắm được Chánh
Pháp' (quan niệm xưa của Tây Tạng.) Tinh thần Bồ Tát chắc
chắn không cho phép chúng ta lập tức loại ra ngoài các nền
văn hoá và kinh tế lương thực khác trên thế giới. Theo cách
sản xuất lương thực hiện đại, mặc dù rõ ràng ngành kinh
tế thịt bò của Hoa Kỳ và một số nước khác là một sự
xa xỉ phí phạm, thì cũng không chắc gì Thế Giới Thứ Ba
lại có thể sống sót được nếu không nhờ đến bò, gà,
heo, cừu, và hải sản.
Câu
hỏi sâu hơn là câu hỏi ta trì Giới Thứ Nhất như thế nào.
Khi Lão Sư (Roshi) Oda Sesso, vị thầy ở Daitokuji sodo của tôi,
dạy đến công án 14 trong Vô Môn Quan (Mumonkan), 'Nam Tuyền
trảm miêu,'[9] ông đã không ngồi trên toà cao, mà chọn
ngồi dưới chiếu Tatami, ngang hàng với người cầu đạo
(unsui)[10] . Lão sư nói: 'Đây là trường hợp dễ bị hiểu
lầm. Ở Nhật, chúng ta đôi lúc có lẽ đã lạm dụng nó.'
Lúc ấy, tôi nghĩ ông đang nói đến tình trạng thiếu phản
kháng rõ rệt của giới Thiền Môn trước sự trỗi dậy của
chủ nghĩa quân phiệt Nhật vào những năm ba mươi, dẫn đến
Thế Chiến thứ hai. Bây giờ tôi lại nghĩ ông ngụ ý rằng:
trong cuộc thảo luận, bất cứ ai nêu lên câu hỏi về việc
cố tình đoạt đi mạng sống đều đáng phải ngồi dưới
đất. Với vấn đề này, người ta không thể không khiêm
nhượng. Khi lắng nghe lời khai thị (teisho) của Lão Sư vào
năm 1961, tôi phải thú nhận tôi đã cảm thấy mình khá chân
chính, tôi là người cả đời theo chủ nghĩa hoà bình (và
là người ăn chay từng giai đoạn), và tôi nghĩ mình đã biết
cách hiểu giới. Đâu dễ vậy.
Tôi
cũng để ý thấy có một số roshis (chưa kể các thầy tu)
đã ăn cá khi ra ngoài tu viện. Có lần tôi đang viếng chùa
của một roshi gần núi Fuji, tôi đã hỏi ông: tại sao có
một số thầy tế và thầy tu ăn cá thịt? Ông đã trả lời
rất ngon lành: ‘Một thiền giả phải có khả năng ăn được
cứt chó và uống được dầu hôi.’ Thầy tôi, Oda Roshi, là
một người ăn chay nghiêm túc. Nhưng có lần ông nói với
tôi: ‘Chẳng phải vì tôi ăn chay tịnh, còn các thầy khác
không ăn, mà có nghĩa là tôi hơn họ. Đây là cách tu của
tôi. Những vị khác có cách của họ. Mỗi người đều phải
lấy Giới Thứ Nhất làm thử thách lớn của mình, và tìm
ra con đường riêng qua sự sống của mình với nó.’
Tôi
không phải và cũng chưa bao giờ là người đi săn theo nghĩa
người ta thường gọi. Tôi vẫn đang là một học trò săn
bắt và thu thập các nền văn hoá, và vẫn cố tìm hiểu vai
trò cơ bản của con người trong khi quán chiếu kinh nghiệm
đánh phá hàng nghìn năm của nhân loại. Tôi đã từng giết
vài con vật trong sự quá khích để được bảo đảm. Trong
hai lần, tôi đã hạ những con hươu bị những kẻ đi săn
giải trí làm bị thương, và lang thang quanh quãng rừng của
chúng tôi trong tình trạng đó. Khi nuôi gà, chúng tôi bảo
quản bầy đàn, sinh thái, và kinh tế, bằng cách ăn những
chú trống choi nhiều quá lượng và, ở chiều bên kia của
chu kỳ sự sống, hầm một con gà mái già lỡ cỡ lứa. Làm
như vậy tôi mới biết được nỗi buồn và cái thế chẳng
đặng đừng đang vây ép người nông dân ngoài đời. Họ
(và tôi) không thể làm sao hơn là cai quản đàn gia súc theo
cách ấy, vì làm khác hơn là xa xỉ, hay còn gọi là phi kinh
tế.
Còn
nữa, đàn gà mái của tôi (không giống những con gà công
nghiệp nhốt trong chuồng chật ních) được chạy nhảy tự
do và bươi đất suốt ngày, chúng có anh trống cồ làm bạn,
và sống một cuộc sống sinh động, thoải mái của những
con chim rừng. Thỉnh thoảng chúng bị mèo rừng, gấu trúc,
chó rừng, và chó sói bắt đi. Vậy tôi có ghét mèo rừng
và chó sói không? Đôi lúc, về phe mấy con gà, tôi cũng hơi
ghét chúng. Chúng ta phải chịu khó gác lại ý riêng của mình,
và khiêm tốn đứng sang một bên khi Guồng Máy Lớn đi băng
qua những bước đường của nó. Tôi bỏ nuôi gà vì tôi thấy
việc ấy không mang lại lợi gì. Những đàn gà sung sướng
được thả lỏng không sao cạnh tranh nổi với ngành sản
xuất trứng công nghiệp, nơi những con gà bị biến thành
những cái máy đẻ (nhưng được bảo vệ khỏi hoạ mèo rừng.)
Trong thâm sâu, tôi thấy mình khó mà chấp nhận việc thuần
hoá chim, thú: bản chất hoang dã, độc lập của chúng bị
tước đoạt quá nhiều.
Còn
với thịt hươu nai: bao nhiêu năm nay vài gia đình trong vùng
này đã tận dụng kỹ lưỡng xác hươu nai vừa bị xe cộ
cán chết dọc đường thay vì để thịt phí bỏ. (Thế nhưng,
để xác ấy cho kên-kên hay dòi bọ ăn thì đâu phải là phí
bỏ.) Chỗ chúng tôi ở, nghề vườn tược không được tốt
mấy, nhưng rừng rậm lại mênh mông.
Sự
phân biệt đơn giản giữa ‘ăn chay hay ăn mặn’ quả là
quá đơn giản. Dân cư một số vùng, đặc biệt ở Ấn Độ
và Đông Nam Á, là những người ăn chay tự nguyện. Hầu hết
phần còn lại của dân chúng các nước Thế Giới Thứ
Ba là những người ăn chay bán phần, do không đủ cá thịt.
Người Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, và một số người châu Âu là
giới đại tiêu thụ thịt của thế giới hiện đại.
Ở các nước đã phát triển, giới ăn chay thường là những
thành phần có học thuộc giai cấp được ưu đãi. Phần lớn
Phật tử Bắc Mỹ không có nhu cầu ăn thịt, và tôi cũng
không khuyên họ nên ăn thịt bao giờ. Thay vào đó, có lẽ
họ nên tìm hiểu thêm nền kinh tế lệ thuộc vào nhiên liệu
và nền nông nghiệp sản xuất rau quả và ngũ cốc bằng cách
làm suy thoái đất, nước, không khí, và gây nguy hiểm cho
sức khoẻ những người di dân làm công với đồng lương
rẻ mạt. Thực vậy, chúng ta đều nên tìm những phương cách
sản xuất lương thực khác để thay thế.
Cách
đến với thực phẩm của riêng tôi là tò mò và biết ơn.
Tôi muốn biết thức ăn của mình đến từ đâu, và là gì,
thảo mộc hay động vật. (Đậu Bắp thuộc họ Cẩn (Hibiscus)[11]
, xuất xứ từ Phi Châu! Cà Chua, Thuốc Lá, Khoai Tây, Cà Tím
-- giống Nhật (Nasubi), Ấn Độ (Brinjal), hay Pháp (Aubergine)
--, và Cà Độc Dược đều cùng là họ nhà Cà (Solanaceae[12]
), với những bông hoa hình phểu. Những sự thật này làm
tôi thấy biết ơn hơn.) Cả nhà tôi đều nói lời tạ ơn
và thực tập quán nguyện về thức ăn trước bữa, như được
thực hiện trong các kỳ đả thất (sesshin[13] .) Trong phần
kết của quyển ‘Sự Hành Trì của Hoang Dã[14] ,’ với tiêu
đề ‘Ân Điển,’ tôi có viết một đoạn về ‘nói lời
tạ ơn.’
Vậy
thì tại sao, với tư cách một hành giả trong đạo Bụt, tôi
lại làm thơ, viết văn về những người đi săn, những người
cắt cỏ nuôi gia súc, và về dây chuyền thực phẩm. Là vì:
trên bình diện vật lý Giới thứ nhất là căn bản, và sự
sống của chúng ta, theo góc độ thực phẩm, là câu hỏi hàng
đầu của ngành kinh tế và sinh thái. Thực phẩm là lĩnh
vực trong đó ta mỗi ngày khám phá ‘việc gây tổn hại’
của mình đối với thế giới, cũng như cách ta đối phó
với việc này. Hẳn nhiên, đơn giản dừng lại đó và bảo
rằng đời là bể khổ còn chúng ta đều vô minh sẽ không
phải là cách giải quyết. Thay vào đó, chúng ta đòi hỏi
phải tu tập. Trong quá trình tu tập, chúng ta sẽ không thay
đổi thực tại, nhưng chúng ta có thể chuyển hoá chính mình.
Mặc cảm tội lỗi và trách móc bản thân không phải là hoa
trái của sự thực tập, nhưng ta có thể trông chờ một cái
nhìn thoáng rộng hơn. Cái nhìn thoáng rộng là cái nhìn có
thể công nhận niềm đau đang có mặt cũng như cái đẹp
của thực tại tương quan chằng chịt này. Chính sự nhận
thức này, phần nào, là những gì mà hình ảnh lưới Đế
Châu cố gắng biểu thị. Cho đến nay, chính những nền văn
minh sơ khai còn tồn tại trên thế giới, đặc biệt nơi những
người thợ săn và hái lượm, thật nghịch lý, lại là nơi
người ta biểu hiện lòng biết ơn của mình đối với trái
đất và muôn loài một cách thâm thúy nhất. Phật tử chúng
ta cần phải học nhiều vì lẽ đó.
Những
điều tôi vừa nói trên, không một điều nào nên bị xem
là sự hợp thức hoá, hay bào chữa cho việc ‘phá’ giới.
Như Ryo Imamura[15] gần đây có viết: ‘Trong đạo Bụt,
không có cái gọi là cuộc chiến tranh ‘có chính nghĩa.’’
Nếu thấy mình đang đi ngược giới bất hại trong một tình
huống quyết liệt, giết hoặc gây thương tích cho ai, để
tự vệ chẳng hạn, chúng ta cũng chớ tìm cách biện minh cho
hành vi ấy. Chúng ta chỉ có thể nói: Đây là quyết định
của tôi, tôi rất tiếc sự việc đã xảy ra như vậy, và
tôi chấp nhận mọi hậu quả có thể xảy ra.
Giới
là Giới, đóng vai trò của kim chỉ nam, thước đo, lý tưởng,
và công án. Giới không phải là một lề luật hiểu theo nghĩa
đen như một trong Mười Điều Răn của Chúa. ‘Không tước
đoạt sự sống’ hay ‘không làm hại’ là điều không thể
nào giữ được một cách tuyệt đối. Những người Kỳ Na
giáo (Jains) ở Ấn Độ đã cố giữ giới bất hại (ahimsa)
theo nghĩa đen (bất kể logic), và những kẻ trong sạch nhất
trong họ đã mở đầu một tông phái lấy việc nhịn đói
cho đến chết làm một hành động đạo đức. Nhưng đây
là sự bạo hành đối với thân thể của chính mình.
Mỗi
sinh vật đều tác động đến từng sinh vật khác. Thuyết
Darwin phổ cập, với sự nhấn mạnh vào quá trình chọn lọc
tự nhiên (loài nào thích nghi thì sống sót), đã hiểu câu
trên theo nghĩa thiên nhiên là một bãi chiến trường cạnh
tranh đẫm máu. ‘Thiên nhiên đỏ ngầu nanh vuốt’ như người
châu Âu ưa trích dẫn. Quan niệm này ngầm nâng con người
lên vị thế đứng cao hơn những thành phần khác của thiên
nhiên về mặt đạo đức. Gần đây khoa học sinh thái, với
những luận chứng về sự cùng-tiến-hoá, sự cộng sinh, sự
giúp đỡ hỗ tương, tính tương liên, tương đới suốt mọi
hệ thống tự nhiên, đã dạy chúng ta thái độ khiêm tốn
trong vấn đề tính đặc biệt của loài người. Khoa học
sinh thái cũng dạy chúng ta rằng sự hiểu biết của chúng
ta về những gì có hại và không có hại trong lĩnh vực thiên
nhiên hoang dã còn quá thô thiển, do vậy chúng ta chớ vội
theo phe kẻ săn mồi hay vật bị săn, các loài cây xanh tự
dưỡng hay các loài bọ, nấm ký sinh, sự sống hay cái chết.
Thầy
Nhất Hạnh đã có lần nói tại một buổi họp mặt các nhà
lãnh đạo Hội Ái Hữu Phật tử cho Hoà Bình (Buddhist Peace
Fellowship) ở Tassajara Zen Mountain Center rằng chúng ta nên biết
ơn từng biểu hiện bé nhỏ của bất hại (ahimsa) dù bắt
gặp nơi đâu trong cuộc đời. Tôi tin Thầy nói rằng nếu
một vị sĩ quan trong cuộc chiến cầm quân với ít nhiều
tinh thần bất hại, thì điều ấy đáng được tán thán.
Đó là cách hiểu của tôi, rằng mỗi người chúng ta phải
tự tìm cách riêng của mình để thực tập giới bất hại,
trong phạm vi rộng rãi của những điều ta có thể làm, biết
rằng sẽ không có gì hoàn toàn trắng trẻo cả, và cho dù
bất cứ chuyện gì xảy ra, cũng không theo đuổi mục đích
rằng mình phải đúng. Đây thật sự là ‘công án sống còn’
của ta. Đó là vì sao tôi đã chú giải giới này, trong tinh
thần Đại Thừa, như ‘Không gây tổn hại không cần thiết.’
Người
ta có thể tự hỏi không biết đối với loài mèo rừng thì
sự trì giới bất hại (ahimsa), trong Phật cảnh của chúng,
sẽ ra sao? Như lời thiền sư Đạo Nguyên (Dogen) nói: ‘Loài
rồng xem nước là lâu đài,’ thì với loài mèo rừng, rừng
có lẽ là một jikido (thực đường) sang trọng trong đó chúng
thì thầm các bài kệ (gathas) lặng lẽ biết ơn loài chim cút,
chia xẻ (trong tâm tưởng) phần ăn với dạ xoa và quỷ đói.
‘Người học Bụt không nên giới hạn vào những quan điểm
của con người khi học về nước.’ Và thế giới đối với
loài chim cút sẽ như thế nào? Tôi chỉ biết điều này: khi
chết, nỗi khổ và cái chết ấy là của riêng tôi, và tôi
hy vọng mình sẽ không đổ lỗi cho con cọp (hay ung thư, hay
gì gì đi nữa) đã làm tôi ngã xuống. Với con cọp, tôi sẽ
chỉ yêu cầu: ‘Làm ơn đừng phí phạm.’ Và có thể cùng
gầm gừ chung với nó.
Khi
bắt gặp một chiếc đũa bị vất bỏ trong cống rãnh, vị
thầy sẽ quở đệ tử rằng: ‘Chú đã làm rồi đời chiếc
đũa,’ chúng ta có thể nhìn vào chiếc đũa bị phí phạm,
và biết nó đã bị xử tệ như thế nào. Và câu này cũng
đáng được thêm vào: ‘Chú đang giết rừng già,’ bởi
vì việc sử dụng một cách đại trà loại đũa dùng một
lần rồi bỏ ở Nhật và Mỹ đã cho thấy điều ấy.
Vị
Thầy có biết bước kế theo? Không hẳn. Áp dụng tình thương
tích cực đối với muôn loại ở nước Trung Hoa Phật giáo
thường có nghĩa là làm lễ phóng sanh cho cá, chim bị bẫy
bắt. Lòng từ bi đối với những mảnh đời riêng chỉ là
một phần của câu chuyện. Nước Trung Hoa Phật giáo đã buộc
phải chứng kiến sự tuyệt chủng đáng kể của các loài,
và sự mất rừng hàng loạt trong khoảng thời gian giữa thế
kỷ thứ năm và thứ mười lăm. Ấn Độ thì đã mất đi
phần lớn rừng từ trước thời cận đại. Lòng từ bi đối
với những mảnh đời khốn khổ phải được nới rộng đến
phạm vi của toàn bộ lưu vực một con sông, hệ thống tự
nhiên, môi trường sống của sinh vật. Cứu mạng một con
vẹt hay một con khỉ là điều đáng quí. Nhưng chúng sẽ chết,
nếu rừng không được cứu. Cả hành tinh rên siết dưới
sự bất chấp thô bạo giới bất hại của những xã hội
tổ chức cao và các nền kinh tế tập đoàn trên thế giới.
Hàng ngàn loài động vật, và hàng vạn loài thực vật có
thể đi đến tuyệt chủng trong thế kỷ tới. Tôi mong rằng
các bạn đọc của cuốn sách này sẽ hiểu phong trào bảo
vệ hoà bình, phong trào bảo vệ môi sinh, và Hội Ái
Hữu Phật tử vì Hoà Bình của chính chúng ta dưới ánh
sáng này, và sẽ đặt nỗ lực CỨU VÃN MÔI TRƯỜNG SINH SỐNG
CỦA MỌI LOÀI vào một vị trí ưu tiên hàng đầu.
[8]
Xuất bản trong tạp chí Thập Phương (The Ten Directions), của
Zen Center of Los Angeles, số Spring/Summer 1990. Barnhill mô tả lưới
Đế Châu như sau: ‘Để nêu lên bản chất của mạng lưới
tương liên tương đới, Hua Yen đã khai triển hình tượng
mạng lưới của Đế Thiên (Indra.) Trong hình tượng này, vũ
trụ được xem như một màng lưới rộng lớn làm bằng những
hạt châu đa diện, sáng loáng, mỗi hạt châu là một tấm
gương nhiều mặt. Theo một nghĩa, mỗi hạt châu là một thực
thể đơn độc. Nhưng khi nhìn vào một hạt châu, ta chẳng
thấy gì hơn ngoài sự phản chiếu của những hạt châu khác,
mà những hạt châu khác lại chính là sự phản chiếu của
những hạt châu kia, cứ như vậy trong một hệ thống phản
chiếu bất tận. Và như vậy, trong mỗi hạt châu chứa đựng
hình ảnh của toàn bộ tấm lưới. Theo Hua Yen, mục đích
của tôn giáo là đạt đến một trạng thái tâm, thấy thế
giới là sự soi bóng lẫn nhau, và khiến ta sống đời sống
của mình theo ý nghĩa của sự tương quan từ căn bản ấy.’
Xin cũng xem bài trả lời của David Barnhill trong tờ Tam Luân
(Tricycle), số Summer 1993. [chú thích của tác giả.]
[9]
Các nhà sư ở hai viện Đông và Tây tranh giành một con mèo.
Hoà thượng Nam Tuyền nhấc con mèo lên, bảo rằng: ‘Các
ông nói được chuyển ngữ thì tha mèo, còn không thì mèo
phải chém.’ Đại chúng không ứng đối được. Nam Tuyền
bèn chém con mèo. Đến tối Triệu Châu về, Nam Tuyền kể
lại chuyện. Châu bèn cởi dép, đội lên đầu mình mà bước
ra ngoài. Nam Tuyền nói: ‘Nếu có ông lúc ấy, mèo đã được
cứu rồi.’ [chú thích nguời nhuận]
[10]
Unsui: Vân Thủy, là ‘hành vân lưu thủy’, chỉ người học
trò đi đây đi đó để cầu Đạo. [chú thích người nhuận
bản dịch.]
[11]
Còn gọi là cây Dâm Bụt, cây Bông Bụt. [chú thích của người
nhuận]
[12]
Solanaceae đến từ tiếng Latin là solanum, có nghĩa là ‘bóng
mát của đêm’, nhưng nghĩa của từ này không rõ. Người
ta cho rằng từ Solanaceae đến từ động từ ‘solari’ trong
tiếng Latin, có nghĩa là ‘làm dịu’ vì dược tính an thần
của một số cây trong họ. Tuy nhiên, tên này phần lớn đến
từ hình dáng của hoa, xoè ra như những chiếc dù dưới ánh
mặt trời. [chú thích của người nhuận]
[13]
Sesshin (‘tiếp tâm’), chúng ta quen gọi là ‘đả thất’
là thời gian thực tập nghiêm ngặt, bảy hay nhiều ngày, trong
Thiền Tông. Hầu hết thời gian là im lặng, và thực tập
thiền toạ, thiền hành. Kỳ đả thất được kết thúc bằng
buổi tham vấn với Thiền Sư (chủ trì kỳ đả thất.) [chú
thích của người nhuận]
[14]
‘The Practice of the Wild’, Berkeley: North Point Press 1992.
[15]
Ryo Imamura: tân tăng Nhật thuộc Tịnh Độ Tông (Jodo), giáo
sư đại học Evergreen State College ở Olympia, Washington State,
USA. [chú thích của người nhuận]