Tại
sao chúng ta Lễ lạy?
1.
Sự Tịnh hóa tánh Kiêu mạn
Trước
tiên, chúng ta nên biết tại sao ta lễ lạy. Ta không lễ lạy
để được người khác yêu quý. Ta không lễ lạy vì Đức
Phật. Những ý niệm như thế hoàn toàn sai lầm. Đức Phật
không phải là một thần linh của thế giới này. Chúng ta
lễ lạy để tịnh hóa mọi tình huống trong quá khứ khi ta
không kính trọng người khác, bận tâm với những thỏa mãn
riêng tư và bản thân ta làm nhiều hành vi bất thiện.
Sự
lễ lạy giúp cho ta nhận thức rằng có điều gì đó còn
có ý nghĩa hơn bản thân ta. Theo phương cách này chúng ta tịnh
hóa tánh kiêu mạn mà ta từng tích tập trong vô lượng kiếp
khi suy nghĩ: “Ta đúng,” “Ta tốt hơn những người khác,”
hay “Ta là người quan trọng nhất.” Trải qua vô lượng
kiếp chúng ta đã phát triển sự kiêu mạn là nguyên nhân
của những hành động của ta và đã tích tập nghiệp là
một nguồn mạch của những khổ đau và những vấn đề của
ta. Mục đích của sự lễ lạy là để tịnh hóa nghiệp này
và chuyển hóa tâm ta. Sự lễ lạy giúp ta nương tựa vào
điều gì đó có ý nghĩa hơn sự kiêu mạn và chấp ngã của
ta. Theo cách này, nhờ sự tràn trề lòng xác tín và sùng mộ,
chúng ta thoát khỏi mọi sự ta từng tích tập do tánh kiêu
mạn.
2.
Sự Tịnh hóa Thân, Ngữ, và Tâm
Khi
chúng ta lễ lạy ta tác động lên bình diện thân, ngữ, và
tâm. Kết quả của việc thực hiện những lễ lạy là một
sự tịnh hóa hết sức mạnh mẽ và triệt để. Sự thực
hành này làm tan biến mọi điều bất tịnh, bất luận chúng
thuộc loại nào, bởi chúng hoàn toàn được tích tập qua
thân, khẩu, và tâm của chúng ta. Sự lễ lạy tịnh hóa tất
cả ba bình diện. Qua phương diện vật lý (thân) của việc
lễ lạy chúng ta tịnh hóa thân thể ta. Ta cúng dường thân
ta cho Tam Bảo và tất cả chúng sinh, ước mong tất cả những
nguyện ước của họ được hoàn thành. Nhờ việc lập lại
thần chú quy y và ý nghĩa chúng ta gán cho nó, chúng ta tịnh
hóa ngữ của ta. Nhờ sự xác tín nơi Tam Bảo ta phát triển
thái độ giác ngộ và lòng sùng mộ. Bởi chúng ta tỉnh giác
về những phẩm tính toàn hảo của sự quy y (nương tựa)
và cúng dường mọi sự cho nó, những ngăn che trong tâm ta
biến mất. Khi thân, ngữ, và tâm ta được tịnh hóa ta nhận
thức rằng điều mà lúc đầu ta cho là thân ta thì thực sự
là một hiển lộ của sự Giác ngộ, là lòng bi mẫn tích
cực. Điều mà lúc đầu ta nghĩ là ngữ của ta thì thực
sự là sự biểu lộ của sự Giác ngộ trên bình diện của
sự hỉ lạc; tâm ta là bình diện chân lý của sự Giác ngộ.
Chúng ta có thể nhận ra thực tại giác ngộ của thân, ngữ,
và tâm ta - sự tràn đầy chân lý trí tuệ của chúng mà lúc
ban đầu ta không ý thức được. Chúng ta nhận thức rằng
thực hành này có thể dẫn dắt ta tới mục tiêu của ta là
sự Giác ngộ, bởi ba bình diện biểu lộ trạng thái của
một vị Phật xuất hiện tức thì sau khi ba bình diện
của sự hiện hữu của ta – thân, ngữ, và tâm – được
tịnh hóa. Chúng ta không phải kiếm tìm sự Giác ngộ ở nơi
nào khác. Chúng ta không phải săn đuổi bất kỳ sự chứng
ngộ viên mãn nào. Ba bình diện của sự Giác ngộ là những
phẩm tính bẩm sinh chân thực của thân, ngữ, và tâm của
chính ta. Trước đây ta đã không nhận ra điều đó. Sự lễ
lạy giúp chúng ta khám phá ra nó.
3.
Những Lợi ích Vật lý của việc Lễ lạy
Việc
lễ lạy ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự quân bình và hài hòa
trong thân thể ta. Những sự tắc nghẽn trong các kinh mạch
năng lực của thân thể từ từ tan biến. Điều này giúp
cho ta tránh được các bệnh tật, sự thiếu hụt năng lực,
và những vấn đề khác. Tâm ta trở nên trong trẻo hơn, khả
năng hiểu biết của ta tăng trưởng.
Trạng
thái của Tâm trong khi Lễ lạy
Chúng
ta nên lễ lạy với sự tràn trề lòng xác tín, hoan hỉ và
động lực để làm lợi lạc cho người khác.
1.
Sự xác tín
Chúng
ta nên có sự xác tín nơi những phẩm tính toàn hảo của
Tam Bảo và tin chắc rằng sự ban phước của Tam Bảo có thể
giải trừ những ngăn che của tâm ta. Sự ban phước có thể
xuất hiện và sự tịnh hóa có hiệu quả khi lòng xác tín
của ta nơi thân, ngữ, và tâm gặp gỡ những phẩm tính chuyển
hóa của thân giác ngộ, ngữ giác ngộ và tâm giác ngộ –
những nguồn mạch của sự quy y. Nếu chúng ta không có sự
xác tín và không thể mở lòng ra đối với Tam Bảo thì những
sự lễ lạy sẽ chỉ là một trò phô diễn.
2.
Động lực làm Lợi lạc Người khác
Khi
chúng ta lễ lạy ta nên thấu hiểu rằng những thiện hạnh
là suối nguồn hạnh phúc của tất cả chúng sinh. Lễ lạy
là một điển hình tốt đẹp của sự thật này. Khi ta thực
hành với thân, ngữ và tâm ta, ta cúng dường năng lực của
ta cho người khác khi ước muốn nó mang lại cho họ hạnh
phúc. Ta nên hoan hỉ về sự thật này và thực hành lễ lạy
với sự hỉ lạc.
Ba ni
cô trên Quốc lộ Thanh Hải-Tây Tạng. Các cô đã lạy 600km
và còn lạy150 km nữa thì tới Thánh Địa Lhasa (Tây Tạng)
Thực
hành Đúng đắn
1.
Quán tưởng Cây Quy y
Ta
quán tưởng toàn thể cây quy y trong không gian trước mặt
chúng ta. Trước tiên ta quán tưởng Đức Dorje Chang (Kim Cương
Trì) – vị Lạt Ma tượng trưng cho mọi suối nguồn của
sự quy y. Ta quán tưởng Lạt Ma là trung tâm của cây quy y.
Ta nên hoàn toàn tỉnh giác rằng Dorje Chang là vị Thầy của
ta và Ngài là tâm của Lạt Ma của ta. Ta nghĩ tưởng về Dorje
Chang để quả quyết rằng sự hiển lộ của bản tánh của
tâm không bị ô nhiễm bởi những tư tưởng quen thuộc của
ta. Để giúp ta duy trì cái thấy thanh tịnh, cái thấy của
trí tuệ, chúng ta quán tưởng thân tướng thanh tịnh
toàn hảo này. Cùng lúc đó ta duy trì sự tỉnh giác rằng
Dorje Chang là tâm của Lạt Ma của ta. Mọi sự xuất hiện
trong không gian trước mặt ta thì giống như một cầu vồng
hay một sự phản chiếu của một tấm gương; nó không phải
là một sự vật. Nếu ta gặp khó khăn trong việc quán tưởng
toàn thể cây quy y thì ta nên có sự xác tín rằng tất cả
các đối tượng quy y thực sự ở trước mặt ta cho dù ta
không thể lưu giữ các đối tượng ấy trong tâm ta.
2.
Sự Tỉnh giác về Bản thân ta và Những Người khác
Chúng
ta không đơn độc trong khi thực hành. Ta được vây quanh bởi
toàn thể chúng sinh đầy khắp toàn thể vũ trụ. Ta quán tưởng
cha ta ở bên phải và mẹ ta ở bên trái ta. Khi ta đứng giữa
cha mẹ ta trong đời này ta nhận thức rằng mỗi một và mọi
chúng sinh không loại trừ ai từng là cha mẹ của ta trong đời
trước nào đó. Điều này giúp ta nhớ lại thiện tâm của
tất cả cha mẹ của ta, tất cả chúng sinh, là những người
đã giúp đỡ ta suốt trong vô lượng kiếp.
Ta
quán tưởng những người ta coi là những kẻ thù của ta ở
trước mặt ta, giữa cây quy y và chúng ta. Ta nghĩ về những
người gây ra cho ta những vấn đề và làm trở ngại việc
thực hiện những chương trình của ta. Tất cả những người
này rất quan trọng bởi họ giúp ta phát triển những phẩm
tính như sự nhẫn nhục và lòng bi mẫn. Chúng ta thường muốn
tránh những người như thế. Ta cố giữ một khoảng cách
với họ. Ta không muốn nghĩ về họ. Việc đặt họ ở trước
mặt ta giúp cho ta không quên họ. Việc đối xử với những
kẻ thù theo cách như thế bảo vệ cho ta không bất kính đối
với họ.
Chúng
ta tập trung sự chú tâm vào cây quy y. Ta tin tưởng rằng sự
quy y có thể giải thoát tất cả chúng sinh khỏi nỗi đau
khổ của sinh tử và có thể che chở ta khỏi bị phiền não
mà nỗi khổ này gây ra. Trong một tâm thức như thế, được
vây quanh bởi tất cả chúng sinh, chúng ta bắt đầu lập lại
thần chú quy y. Mọi sự quanh ta bắt đầu rung động. Ta kinh
nghiệm ánh sáng mạnh mẽ phát ra từ cây quy y. Ánh sáng chiếu
sáng chúng ta do bởi lòng sùng mộ của riêng ta. Điều này
làm tâm thức chúng ta rộng mở hơn nữa. Sau đó ta bắt đầu
lễ lạy. Chúng ta là những Đạo sư của buổi lễ và hướng
dẫn toàn bộ sự thực hành. Việc lễ lạy của ta lập tức
gây cảm hứng khiến tất cả chúng sinh bắt đầu thực hành
tương tự. Ta nghe tất cả chúng sinh lập lại thần chú và
thực hành lễ lạy. Những sự rung động này đầy ngập toàn
thể vũ trụ.
Việc
duy trì một thị kiến như thế thay vì chỉ tập trung vào
bản thân ta mở rộng hoạt động của ta. Ở một mặt nó
mang lại cho ta sức mạnh, ở mặt khác nó cho ta động lực
để thực hành. Tất cả chúng sinh cùng lễ lạy với chúng
ta mang lại cho ta sự khích lệ. Khi kinh nghiệm lượng năng
lực khổng lồ từ tất cả chúng sinh đang lễ lạy, chúng
ta cảm thấy tin tưởng và sùng mộ Tam Bảo hơn nữa. Cảm
giác “cưỡi ngựa cùng đám đông” giúp chúng ta nhanh chóng
hoàn thành việc lễ lạy và trải nghiệm hạnh phúc lớn lao
trong thời gian thực hành.
3.
Ý nghĩa Tượng trưng của Mỗi Yếu tố trong Hành vi Lễ lạy
Để
mang lại cho việc thực hành của ta một tầm kích tối thượng
chúng ta nên chú ý tới ý nghĩa tượng trưng của một lễ
lạy. Khi đôi bàn tay chắp lại của ta chạm vào trán, ta khẩn
cầu các đối tượng quy y ban phước của thân các ngài. Đồng
thời ta quán tưởng rằng sự ban phước của thân giác ngộ
của các ngài chiếu tỏa vào ta, xuyên qua thân ta và làm tan
biến những che chướng của nó. Sau đó đôi bàn tay chắp
lại của ta chạm vào cổ họng. Chúng ta khẩn cầu sự ban
phước của ngữ. Đồng thời ta nghĩ tưởng rằng sự ban
phước của ngữ giác ngộ của các ngài phát ra từ những
đối tượng quy y và tịnh hóa mọi che chướng mà ta từng
tích tập qua ngữ của ta. Trong phương cách như thế ta thoát
khỏi những che chướng này. Khi đôi bàn tay ta chạm vào tim
ta khẩn cầu các đối tượng quy y ban phước của tâm giác
ngộ của các ngài. Nó giúp ta thoát khỏi mọi ngăn che và
những tà kiến trong tâm ta. Ta tin tưởng rằng mọi ước muốn
xấu xa ta chất đầy tâm thức ta từ vô thủy hoàn toàn được
tịnh hóa. Ta nên nghĩ rằng ta đang nhận sự ban phước trọn
vẹn của thân, ngữ, và tâm giác ngộ từ Tam Bảo. Nhờ năng
lực của sự ban phước này, mọi ngăn che, nghiệp xấu, và
những khuynh hướng tiêu cực trong thân, ngữ, và tâm ta được
tịnh hóa. Chúng ta hoàn toàn thanh tịnh và bất khả phân với
thân, ngữ, và tâm của Lạt Ma và Tam Bảo.
Khi
năm điểm (hai đầu gối, hai bàn tay, và trán) của thân ta
chạm mặt đất ta nên nhận thức rằng năm cảm xúc phiền
não – tham, sân, si, kiêu ngạo và ganh tị – ra khỏi thân
ta và biến mất trong trái đất. Theo phương cách như
thế chúng ta kinh nghiệm sự tịnh hóa trọn vẹn.
Hai
phương diện của sự lễ lạy, việc làm tan biến những độc
chất của tâm và nhận sự ban phước của Tam Bảo, tạo nên
sự chuyển hóa tham, sân, si, kiêu ngạo và ganh tị thành năm
trí tuệ tương ứng. Ta nên xác tín rằng sự chuyển hóa thực
sự xảy ra, tin rằng ta có khả năng bẩm sinh, tự nhiên để
phát triển những trí tuệ này.
Phương
diện tượng trưng này của sự lễ lạy sẽ chỉ làm việc
nếu ta có sự xác tín. Sự xác tín của ta có thể mang lại
cho ta sự tịnh hóa vĩ đại này. Việc thực hành mà không
có sự xác tín thì giống như bài tập thể dục nhịp điệu.
4.
Sự quan trọng của Lòng Sùng mộ
Càng
lễ lạy thì lòng sùng mộ của ta sẽ càng tăng trưởng. Cuối
cùng ta sẽ đạt tới chỗ không còn nghĩ rằng thân, ngữ,
và tâm ta khác biệt với thân, ngữ, và tâm của Tam Bảo.
Những sự lễ lạy mang lại một kết quả kỳ diệu; chúng
là suối nguồn của một sự ban phước hết sức mạnh mẽ
và một sự tịnh hóa lớn lao. Ta không nên nghĩ rằng việc
lễ lạy chỉ bao gồm một hoạt động của thân thể ta. Sự
ban phước và tịnh hóa xuất hiện chủ yếu là bởi lòng
sùng mộ.
5.
Sự Tăng trưởng Sức mạnh của việc Thực hành
Ta
thực hành với một tâm thức mở trống. Ta không nên nghĩ
rằng ta là người duy nhất lễ lạy. Tất cả chúng sinh đang
thực hành lễ lạy cùng chúng ta. Ta không phải giới hạn
tư tưởng khi chỉ nghĩ tới bản thân ta. Ta không nên tự
khẳng định bằng cách nghĩ: “Tôi đang lễ lạy.”
Nếu nghĩ như thế ta tích tập tiềm năng tốt lành tương
ứng với hành động đang lễ lạy. Nếu ta nghĩ rằng tất
cả chúng sinh đang thực hành lễ lạy cùng ta, tiềm năng tốt
lành mà ta tích tập sẽ còn to lớn hơn nữa. Khi đang thực
hành lễ lạy ta nên nghĩ rằng một trăm hóa thân của ta đang
lễ lạy cùng với ta. Nếu ta có thể quán tưởng thì thực
hành của ta sẽ mạnh mẽ hơn. Ta không nên tính thêm các lễ
lạy nếu ta quán tưởng có thêm chúng sinh đang lễ lạy cùng
ta. Đây chỉ là một trong những phương pháp đặc biệt của
Kim Cương thừa trợ giúp thực hành của ta được mạnh mẽ.
6.
Sự Nối kết Lễ lạy với việc Làm An định Tâm
Sau
một lát thân thể ta sẽ mỏi mệt. Đây là giây phút ích
lợi để thực hành an định tâm. Khi thân và tâm mệt mỏi,
sự tham luyến tăng trưởng. Nếu ta ngưng lễ lạy một lát
thì tâm ta tự nó sẽ an tĩnh một cách tự nhiên mà không
cần phải dụng công. Sau một lát thân và tâm ta lại cảm
thấy muốn nghỉ ngơi, tâm ta trở nên xao động. Đây là dấu
hiệu bắt đầu lại việc lễ lạy. Khi chúng ta luân phiên
thay đổi sự lễ lạy và an định tâm thì ta có thể thực
hành không ngừng nghỉ.
Tiếp
cận nỗi Khổ đau
Đôi
khi ta có thể kinh nghiệm những khó khăn trong việc thực hành
lễ lạy. Sự đau đớn và mệt nhọc sẽ xuất hiện trên
đường đi của ta. Luôn luôn có một vài mối quan tâm: đau
đớn ở đầu gối, khuỷu tay, lưng dưới, mọi nơi. Không
có lý do gì phải nhụt chí bởi điều đó hay mất sự xác
tín ở việc thực hành. Ta cũng không nên làm mạnh mẽ thêm
cảm xúc bằng cách tự nói: “Tôi đau đớn quá, tôi cảm
thấy rất yếu.” Nếu làm thế chúng ta hoàn toàn tự làm
ngăn trở mình. Ta mất đi khả năng hành động. Khi sự đau
đớn được cho phép “có quyền,” nó có thể trở thành
một chướng ngại thực sự trên con đường thực hành xa
rộng hơn nữa của ta. Ta nên sử dụng mọi kinh nghiệm khó
chịu, dù là thuộc tinh thần hay thể xác, như một phương
tiện để giác ngộ. Những kinh nghiệm như thế nên khích
lệ chúng ta hướng tới nỗ lực to lớn hơn trên con đường
của ta.
Mọi
sự ta kinh nghiệm phụ thuộc vào trạng thái tâm của ta. Nếu
ta muốn kinh nghiệm những sự việc một cách khác biệt thì
ta phải thay đổi trạng thái tâm. Nếu ta sắp xếp để chuyển
hóa một cách hiệu quả nỗi đau khổ của ta thành một kinh
nghiệm tích cực và lợi lạc thì nỗi khổ sẽ hoàn toàn
biến mất không để lại dấu vết nào. Điều này sẽ cho
ta thêm hạnh phúc và hỉ lạc.
Việc
lễ lạy là một phương cách tích tập tiềm năng thực sự
tốt lành. Đó là một phương pháp dễ dàng và hiệu quả
để tịnh hóa những hành vi tiêu cực của chúng ta trong quá
khứ. Ngược lại, nếu vì đau đớn và mệt nhọc mà chúng
ta tiếp tục lễ lạy trong sự chán nản thì sự tịnh hóa
đích thực không xảy ra.
Những
Kỹ thuật để Làm việc với những Kinh nghiệm Khó chịu
1.
Sự giảm bớt nghiệp
Chúng
ta không nên nghĩ rằng đau khổ là một điều hết sức trầm
trọng. Ta nên nhớ rằng đau khổ chỉ là nghiệp, nó vô thường
như mọi sự khác. Đau khổ có lúc chấm dứt. Khi nghiệp của
ta chín mùi ta nên an trụ thư thản và chú ý tới dòng chảy
tự nhiên này của những sự việc. Nếu chúng ta sắp xếp
để làm đầy thực hành của ta với sự hiểu biết về lẽ
vô thường của nghiệp thì tự nó sẽ tan biến. Nghiệp không
phải là cái gì chúng ta phải chấp nhận hay từ bỏ. Nó giống
như việc ta bắt buộc phải thanh toán hóa đơn là điều tự
động xuất hiện. Khi ta đã trang trải những món nợ của
ta, nghiệp tự nó biến mất và không có gì phải từ bỏ.
2.
Sự Tịnh hóa Nghiệp bằng Sự Khó chịu Thể xác
Sự
thực hành Pháp tiệt trừ những ngăn che và ô nhiễm là kết
quả của những hành vi trước đây của ta. Ta nên nhận thức
sự khó chịu thể xác mà ta kinh nghiệm trong khi thực hành
là kết quả của lòng bi mẫn của Tam Bảo. Nỗi đau khổ
nhỏ bé tương đối này giải tan nghiệp tương lai khiến nó
không chín mùi. Vì lý do này ta nên kinh nghiệm nỗi đau khổ
này với sự hỉ lạc và xác tín. Những kinh nghiệm khó chịu
như thế cho thấy sự thực hành đang vận hành. Việc sử
dụng những phương pháp tịnh hóa có thể dẫn tới nhiều
kinh nghiệm khó chịu trên bình diện thân, ngữ và tâm. Đồng
thời ta đang thoát khỏi những khó khăn và ngăn che trong tâm
thức ta. Khi ta kinh nghiệm sự tịnh hóa như một kết quả
của việc thực hành của ta, sự xác tín của ta nơi Tam Bảo
tăng trưởng. Ta cảm thấy một sự biết ơn sâu xa bởi những
điều bực bội nhỏ bé tương đối này giúp giải thoát ta
khỏi những điều kiện mà nếu để chúng chín mùi thì nỗi
đau khổ còn to lớn hơn thế.
3.
Ý thức về Sự Chấp Ngã nhờ Đau khổ
Ta
nên coi mỗi đau khổ là một pháp đối trị cho sự chấp
ngã. Việc kinh nghiệm nỗi khổ của riêng ta tự nó là một
bằng chứng của thái độ quy ngã của ta đối với mọi hiện
tượng. Đồng thời, những tình huống như thế (nơi ta kinh
nghiệm đau khổ) mang lại cho ta khả năng thoát khỏi sự chấp
ngã. Nếu ta không có ảo tưởng-bản ngã thì ta có thể kinh
nghiệm không đau khổ (không trải nghiệm đau khổ.) Ta cũng
nên thấu suốt nguyên nhân nỗi khổ của ta: ta kinh nghiệm
nó do bởi những hành vi trước đây của ta là là kết quả
của sự chấp ngã. Bởi quá chú trọng vào bản thân, ta gieo
trồng nhiều chủng tử nghiệp mà giờ đây chín mùi thành
sự đau khổ. Ta có thể coi đau khổ như một giáo lý chỉ
rõ cho ta kết quả của những hành vi là hậu quả của việc
chú trọng vào bản thân. Từ vô thủy sự chấp ngã này đã
là nguyên nhân khiến chúng ta bị vướng kẹt trong vòng luân
hồi sinh tử.
4.
Quan sát Bản ngã của ta
Bản
ngã muốn được thỏa mãn trong mọi lúc. Chừng nào mà mọi
sự tốt đẹp thì bản ngã của ta hài lòng và cố gắng duy
trì trạng thái này. “Bản ngã” của ta bám dính vào sự
hài lòng này và tâm ta bị đau khổ với sự ham muốn – tham
độc. Khi những hoàn cảnh tốt đẹp ra đi, bản ngã vẫn
bám dính vào chúng bởi nó muốn được hài lòng và càng có
thêm sự tham luyến và ham muốn xuất hiện trong tâm ta. Nếu
xảy ra những tình huống khó chịu thì bản ngã phản ứng
bằng sự giận dữ và thù ghét. Nó cố gắng né tránh những
tình huống khó chịu ấy và thay thế chúng bằng những kinh
nghiệm dễ chịu. Theo cách này tâm ta phiền muộn và không
vui. Chúng ta có thể nhận ra tác động liên tiếp của bản
ngã trong mọi tình huống. Nó không ngừng phân loại những
kinh nghiệm là dễ chịu hay khó chịu. Nếu chúng ta tuân theo
bản ngã thì ta tích tập nghiệp mà không sớm thì muộn sẽ
chín mùi như những loại đau khổ khác nhau.
5.
Những Kinh nghiệm Khó chịu như một sự Kiểm tra tánh Kiên
trì của ta
Ta
nên nhớ tới hứa nguyện của ta là sử dụng thân, ngữ,
và tâm ta để làm lợi lạc người khác. Khi biết rằng ta
làm việc vì sự lợi lạc của tất cả chúng sinh ta nên giữ
gìn hứa nguyện ấy, điều phục những khó khăn nội tại
của ta, và tiếp tục việc thực hành./.
Nguyên
tác: “Lama Gendyn Rinpoche on PROSTRATIONS”
Peter
Piasecki và Susan Bixby dịch từ tạp chí Ba Lan Diamentowa Droga
(Con đưởng Kim Cương).
http://www.diamondway-buddhism.org/teachings/english/bt5gendyn.html
Bản
dịch Việt ngữ của Liên Hoa