ĐẠO
PHẬT VIỆT THẾ KỶ THỨ NHẤT
VÀ
THỜI KỲ BẮC THUỘC
(111
tr TL - 542 TL)
Do
hoàn cảnh địa lý và lịch sử nên về tôn giáo, chính trị
và văn hóa nước Việt Nam ta đã từ nhiều thế kỷ chịu
ảnh hưởng xa gần của trung Hoa. Tuy nhiên, Đạo Phật và
Dòng Sử Việt, buổi ban đầu, không do Trung Hoa mà lại từ
Ấn Độ du nhập.
Căn
cứ vào lịch sử nước nhà thì, Đạo Phật truyền vào Việt
Nam (khi đất nước ta còn gọi là Văn Lang - Giao chỉ) do hai
ngả đường bộ và thủy, giao liên giữa Ấn độ và Trung
Hoa, phải ngang qua Việt Nam.
Về
Đường Bộ đi qua miền Trung Á (Mông Cổ, Tây Tạng, Trung
Hoa) rồi từ Trung Hoa qua Cao Ly và Nhật bản.
Về
Đường Thủy thì qua ngả Sri-lanka, Java thuộc Indonésia và
Trung Hoa.
Nước
ta ở vào giữa hai con đường ấy, và do sự ghé lại của
những thương nhân và tăng sĩ Ấn Độ đã mang hạt giống
Bồ Đề - Đạo Phật - trồng trên đất Giao Chỉ [1]ngay từ
đầu kỷ nguyên Tây lịch. Rất có thể là trước kỷ nguyên
Tây lịch người Việt đã có biết đến Đạo Phật rồi.
Sau
năm 111 trước Tây lịch, khi nước Việt đã do người Hán
đô hộ, thì sự có mặt của đạo Phật -Tôn giáo của Trí
Tuệ và Tình Thương - là những "liều thuốc an thần" làm
tươi mát những tâm hồn khô héo của người dân mất nước,
nên tổ tiên ta đã tôn thờ Đức Phật, biết thâu thái những
tinh hoa của Đạo làm Lẽ sống để giữ lấy mình mãi còn
là mình.
Khi
người phương Bắc thôn tính nước Nam Việt, chúng liền sáp
nhập nước ta vào lãnh thổ Trung Hoa, lập thành quận huyện
với tên gọi lúc đầu là Giao Chỉ, sau đổi: Giao Châu, đặt
dưới sự cai trị của các triều đại: Hán - Ngô -Tấn -
Tống - Tề - Lương - Tùy - Đường (từ năm 111 tr. TL đến
năm 939 TL) qua 3 thời kỳ, cộng 1031 năm, nền văn hóa Văn
Lang - Âu Lạc có cơ nguy bị Hán tộc đồng hóa.
Cũng
trên một nghìn năm ấy, ông cha ta phải ẩn nhẫn, chịu đựng
gian khổ, đã biết áp dụng giáo lý giác ngộ giải thoát
vaø tự chủ của Đạo Phật trong thực tế cuộc sống hằng
ngày. và lấy đó làm phương châm "cứu nguy" cho đất nước
dân tộc ngày mai.
Vào
thế kỷ thứ 3 trước TL, thánh quân ASOKA (268 - 232 tr TL), nước
Magadha, vì muốn mở mang bờ cõi, vua đã đem quân đánh lấy
xứ Kalinga, gây nên cuộc huyết chiến vô cùng thảm khốc
mà, về sau này, chính vua đã công khai sám hối. Hồi xâm lược
Kalinga vua ASOKA chưa theo giáo pháp của Đức Phật. Nhưng sau
khi quy y Tam bảo rồi vua mới thực tình hối hận và trở
nên thánh thiện. Sự kiện này được ghi rõ trong một tấm
bia:
."Tất
cả nỗi thống khổ về nạn binh đao đã làm cho trẫm phải
nặng lòng lo ngại. Dù cho số người bị sát hại đọa đày
trong việc xâm chiếm xứ Kalinga nhiều đến thế nào cũng
không thể so sánh được với sự đau khổ của trẫm.
Đối
với trẫm, sự thắng trận cao cả hơn hết là sự thắng
trận của chính pháp.
Kim
ngôn này được khắc vào mặt đá để cho ngày sau con cháu
của trẫm sẽ không còn nghĩ đến những cuộc thắng trận
khác nữa, và chúng nó phải làm cách nào để thắng nổi
trận giặc lòng."
Khi
thánh quân ASOKA cho khắc bia này thì xứ Kalinga đã bị tiêu
diệt mất mười vạn và bị lưu đày mười lăm vạn quân,
đấy là chưa kể số thường dân bị sát hại, chết oan,
cửa nhà đổ nát, cháy rụi. Đấy là chỉ mới kể có một
bên nước Kalinga, chứ chưa kể số quân bị chết, bị thương,
bị bắt làm tù binh và thường dân bị chết oan về phía
vua Asoka (Magadha).
Chúng
ta được biết, thuở Phật giáo được 218 năm, thánh quân
Asoka hết lòng hoằng dương chính pháp và đã thực hiện ba
việc lớn:
1.
Triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Kỳ 3.
2.
Dựng tháp thờ Phật và xây tu viện.
3.
Thành lập phái đoàn Tăng sĩ hoằng pháp.
Sau
9 tháng Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Kỳ 3 tại thành Pàtaliputra,
tức Bihar và Patna ngày nay, thánh tăng Moggaliputta Tissa lĩnh
sứ mệnh vua Asoka trực tiếp điều động các đoàn truyền
giáo đi vào các vùng: Kashmir, Gandhàra, Mahisamandala, Vanavàsa,
Aparantaka, xứ Marathe, xứ Hy Lạp, vùng Himalaya, xứ Kim Thổ,
tức Myanmar, cửa ngõ mở ra toàn thể Ấn - Hoa, Indonesia và
Sri Lanka. Thánh tăng Mahinda truyền pháp vào Sri Lanka, hai vị
thánh tăng Sona và Uttara thì truyền vào Myanmanr. [2]
Lịch
Sử Phật Giáo Việt Nam, chương 1: Đạo Phật du nhập Việt
nam - thời điểm và các thuyến du nhập, tác giả Minh Chi viết:
". Một phái đoàn do hai cao tăng Uttara và Sona được phái đến
Suvannabhumi, xứ của vàng. Sử liệu Phật Giáo Miến Điệnchép
rằng hai cao tăng đó đã đến Miến Điện truyền giáo. Nhưng
sử liệu Phật giáo Thái Lan cũng ghi là hai cao tăngSona và
Uttara có đến Thái Lan truyền giáo. Liệu hai cao tăng đó có
tiếp tục hành trình và đến Việt Nam hay không, đó là một
nghi vấn mà các nhà sử học Trung Hoa và Việt nam, cho đến
nay vẫn chưa làm sáng tỏ được. Có học giả dựa vào tài
liệu Trung Hoa nói rằng, ở Giao Chỉ tại thành Nê Lê, có
bảo tháp của vua Asoka. Và học giả đó xác định thành Nê
Lê, mà sử liệu Trung Hoa nói tới, chính là Đồ Sơn ở nước
ta hiện nay" (Sđd, trg 21 - 22), và Đạo Phật Việt Nam, đã
đưa ra những luận chứng: ". Khoảng 300 năm trước tây lịch,
nghĩa là: ngay sau khi Đại Hội Kết Tập Tam Tạng lần thứ
III tại Pataliputra (Hoa Thị Thành), Ấn Độ, do vua Asoka thực
hiện; và cũng sau đại hội này đức vua đã gửi chín giáo
đoàn đi truyền bá chính pháp tại các nước, từ Afghanistan
(A Phú Hãn) tới đông bộ Mediterrenée (Địa Trung Hải), trong
đó có một giáo đoàn do hai ngài Sona và Uttara lãnh đạo,
đã tới Miến Điện và toàn xứ Đông Dương kể cả Việt
Nam. Nói cách khác, hồi đó, ở Giao chỉ tại thành Nê Lê,
tên cũ của vùng Đồ Sơn hiện nay, cách Hải Phòng 12 cây
số có bảo tháp vua a Dục (Asoka), do các Phật tử địa phương
xây nên, để tri ân vua a Dục (Asoka) đã cử giáo đoàn tới
đây để truyền bá Phật pháp".
Đồ
Sơn gồm có mười ngọn núi (1 núi Mẹ; 9 núi con). Núi mẹ
cao chừng 168 mét so với mặt bể; trên đỉnh núi này, có
một bảo tháp Dục Vương được dựng vào khoảng 300 năm
trước Tây lịch; sau khi tháp này tàn phế, tiếp đến tháp
Tường Long do vua Lý Thánh Tông xây trên nền tháp cũ, vào
khoảng giữa thế kỷ XI TL; hiện nay, ngôi chùa Tường Long
mới được tu bổ lại.
Và
tác giả Đạo Phật Việt nam kể: ngày 1.1.19994, trong một
chuyến tham quan, được thượng tọa Thích Quảng Tùng, trụ
trì chùa Dư Hàng, Hải Phòng, hướng dẫn ra Đồ Sơn để
chiêm bái Phật tích tại chỗ, và rất may mắn là được
đọc tám bài thơ tả cảnh vùng này, gọi là ĐỔ SƠN BÁT
VỊNH, còn ghi lại ở cuốn gia phả của họ Hoàng bằng chữ
Nho, trong số tám bào thơ thì có hai bài: bài thứ năm có tên
là "Tháp Sơn Hoài Cổ" nói về tháp Dục Vương (Asoka). Bài
thứ ba, nhan đề: "Cốc Tự Tham Thiền", và đã được dân
địa phương dịch ra chữ Việt như sau:
Phiên
âm:
1.
Cổ tháp di hư loạn thảo đôi
Dục
Vương khứ hậu ủy yên đồi!
Thiên
chung bảo khí minh lưu thủy,
Cửu
cấp phù đồ hóa kiếp hôi.
Tiều
tử ỷ kha miên thạch đắng.
Mục
nhi khu độc há sơn ôi.
Đăng
cao dục hội sơn Tăng giảng,
Hà
xứ chung lâu khấu nhất hồi.
Dịch
nghĩa:
Tháp
xưa lau cỏ tốt bời bời,
Vua
Dục đi [3] vua sau [4] cũng đổ rồi!
Chuông
nặng ngàn cân kêu đáy nước,
Tháp
cao chín bậc hóa thành vôi.
Chú
tiểu dựng củi nằm đo đá,
Trẻ
mục lùa trâu vội xuống đồi.
Lên
núi muốn cùng Sư giảng kệ,
Chuông
đâu mà đánh thử một hồi?
Ở
dưới chân núi Mẫu Sơn, hiện có một ngôi chùa Hang - Cốc
Sơn Tự - tác giả kể tiếp là đã được gặp một ông cụ
coi chùa kể chuyện rằng: "Thuở xưa vào cuối đời vua Hùng
Vương, ở đây có một vị sư tên là Sư Bần (Bần Tăng),
người Ấn Độ, lập bàn thờ Phật và tu ở trong hang núi
này và sau đó, cũng viên tịch tại hang núi này. Bởi vậy,
dân địa phương gọi là chùa Hang, hay Cốc Tự. Biết rằng:
khi còn bình sinh, Sư Bần có giảng Đạo Phật cho Chử Đồng
Tử. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái, thì Chử Đồng Tử có ghé
thuyền vào núi Quỳnh Viên và gặp một tăng sĩ tên là Phật
Quang giảng đạo Phật cho nghe. Vậy, ngày xưa gọi là Quỳnh
Viên Sơn và Sư Phật Quang; thì ngày nay là Mẫu Sơn và Sư
Bần. Vả lại, từ tỉnh Hưng Yên, đầu sông Thái Bình, có
đền thờ Chử Đồng Tử, chảy suốt ra cửa bể Đồ Sơn,
cách đấy chừng năm cây số, hiện nay lại có một đền
thờ Chử Đồng Tử trên bờ sông Thái Bình, vì ở đây, Chử
Đồng Tử có cứu sống được người con trai của một gia
đình, cho nên, theo thuyền thuyết địa phương, người ta đã
lập đền thờ để nhớ ơn Chử Đồng Tử".
Qua
những dữ kiện trên mà ta có thể biết rõ được lộ trình
của Chử Đồng Tử, đi bằng thuyền buôn, dọc theo sông Thái
Bình, từ Hưng Yên ra tới cửa bể Đồ Sơn, rồi ghé thuyền
vào núi Mẫu Sơn (mà ngày xưa gọi là Quỳnh Viên Sơn) để
lấy nước ngọt, và gặp Sư Bần (Sư Phật Quang) ở chùa
Hang Cốc hiện nay, ngay ở sát chân núi, liền với bờ biển.
Dưới đây là bài thơ thứ ba trong tám bài - Đồ Sơn Bát
Vịnh - để tả cảnh chùa hang, Cốc Tự:
Phiên
âm:
2.
Thần san quỷ tạc bất tri niên?
Thử
cốc an bài nhược tự nhiên.
Ốc
tự phong đài giai tự thiết,
Nhamnhư
tường bích thạch như diên.
Dạ
minh hiến quả liên đài hạ,
Phong
tử hàm hoa bảo án tiền
Đảo
ưởng tiêu ca hòa điểu ngữ,
Chung
thanh hoán tỉnh lại Tăng miên.
Dịch
nghĩa xuôi:
Thần
quỷ nào đây đã tạc ra (chùa) tự bao giờ?
Hang
này xếp đặt rất tự nhiên.
Mái
hang như rêu xanh, bậc như đá mài,
Nhũ
đá tựa vách tường, thềm tựa chiếu dải.
Đêm
trăng chim dâng quả dưới đài sen,
Đàn
ong ngậm hoa trước bàn thờ.
Tiếng
sóng, tiều ca, hoà chim hót,
Chuông
ngân gọi tỉnh Sư lúc ngủ say1
Sách
Lĩnh Nam Chích Quái của Vũ Quỳnh chép: Truyện Đầm Nhất
Dạ: Tiên Dung Mị Nương và Chử Đồng Tử chứng minh sự
có mặt của Đạo Phật vào đời Hùng Vương TK thứ III. (Triều
đại 18 vua Hùng kể từ 2879 - 257 tr TL Thục An Dương Vương).
Ở đây chỉ xin nhắc lại chỗ cần thiết trong truyện: Hai
vợ chồng Tiên Dung Mî Nương và Chử Đồng Tử. sau khi vua
cha đuổi ra khỏi nước, bèn lập ra cái chợ để buôn bán.
Ngôi chợ này vẫn thường có các thương nhân ngoại quốc
lui tới. Người ngoại quốc ở đây chỉ có thể là người
Ấn Độ đã vượt biên giới phía bắc Ấn Độ sang vùng
trù phú Myanmar (Miến Điện) rồi vào vùng Founan (Phù Nam).
Trong truyện có nói rõ là hai vợ chồng gặp một đại thương
gia dùng thuyền để đi buôn và nói với Tiên Dung: "Quý nhân
xuất ra một thoi vàng, năm nay cùng với người nhà buôn ra
ngoài biển mua vật quí, sang năm sẽ lời được một thoi".
Hai vợ chồng bàn với nhau rồi đồng ý. Người chồng đã
cùng với đại thương gia đi buôn ở biển. Ngoài biển có
hòn đảo tên là Quỳnh Viên (sách Đạo Giáo nguyên Lưu ghi
là Quỳnh Vi). Nơi đây có một am và có một vị tăng sĩ tên
là Phật Quang. Người đại thương gia và Chử Đồng Tử đã
ghé thuyền vào đảo để lấy nước ngọt. Dịp này Đồng
Tử được vị Tăng sĩ Phật Quang thuyết pháp cho nghe nên
giác ngộ và được truyền pháp khí là chiếc gậy vaø cái
nón lá và bảo rằng: "những cái ấy làm chìa khóa cho mọi
năng lực thần bí"; Đồng Tử có pháp khí thần thông nên
bỏ nghề buôn, rồi đưa thoi vàng cho người đại thương
gia đi buôn và dặn, khi nào trở về ghé vào am để chở Đồng
Tử cùng về với. Khi về gặp lại nhau, Đồng Tử đem Đạo
Phật nói với Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ và hai vợ chồng
cùng nhất trí đi tìm thầy học đạo. Sau hai vợ chồng đều
đắc đạo. Truyện còn nữa, nhưng đến đây có thể tạm
kết thúc.
(Chuyện
Chử Đồng Tử và Tiên Dung):
"Bổ
Di còn chuyện trích tiên
Có
người họ Chử ở miền Khoái Châu
Ra
vào nương náu hà châu
Phong
trần đã trải mấy thâu cùng người
Tiên
Dung gặp buổi đi chơi.
Gió
đưa Đằng các, buồm xuôi Nhị Hà
Chử
Đồng ẩn trốn bình sa
Biết
đâu gặp gỡ lại là túc duyên.
Thừa
lương nàng mới dừng thuyền,
Vây
màn tắm mát kề liền bên sông.
Người
thục nữ, kẻ tiên đồng,
Tình
cờ ai biết vợ chồng duyên ưa.
Giận
con ra thói mây mưa,
Hùng
Vương truyền lệnh thuyền đưa bắt về.
Non
sông đã trót lời thề,
Hai
người một phút hóa về bồng châu.
Đông
An, Dạ Trạch đâu đâu.
Khói
hương nghi ngút truyền sau muôn đời".
(Đại
Nam Quốc Sử Diễn Ca, trang 22).
Theo
JATAKA (Ấn Độ) kể truyện tiền thân của Đức Phật và
ta cũng thường gặp cảnh hoàng tử ra khơi tìm trân châu,
lương dược để cứu độ chúng sinh. Như vậy, truyện kể
trên chắc chắn là người Ấn Độ chứ không ai khác.
Vào
buổi ấy (thế kỷ thứ ba tr TL), một phong trào di dân rất
rộng từ xứ Kalinga sang phía đông và xuống phía nam nhưng
chỉ lẻ tẻ và nhiều đợt; phong trào trở nên rầm rộ vào
khoảng đầu kỷ nguyên Tây
lịch.
(Có lẽ) Đạo Phật du nhập nước ta cũng vào thời điểm
này.
Sự
truyền bá Đạo Phật ở nước ta buổi sơ khai, tuy mới chỉ
mở mang và khai đạo ở trị sở Luy Lâu nhưng cũng đã gây
được sự chú ý của người dân bản địa, cũng như đã
có xây chùa, dựng tháp.
Một
sự trùng hợp lịch sử kỳ diệu là, trong sách Lý hoặc Luận,
Mâu Tử tự xác định "ông học và theo Đạo Phật ở Luy
Lâu". Bài tựa của sách Lý Hoặc Luận đã cho chúng ta những
dữ kiện quý báu:
".
Sau khi vua Hán Linh Đế băng hà, thiên hạ nhiễu loạn, chỉ
có Giao Chỉ là yên ổn. Các bậc dị nhân phương Bắc đều
tới đây, phần lớn đều tin theo thuật thần tiên tịch cốc
trường sinh. Hồi ấy có nhiều học giả, Mâu Tử thường
lấy ngũ kinh ra vấn nạn, các đạo gia và thuật sĩ không
ai đối đáp cho xuôi được, cũng tỷ như Mạnh Kha cự lại
Dương Chu -Mặc Dịch.." (Nguyễn lang, VNPGSL Tì ni đa lưu chi,
trang 54).
(Cũng
trong bài Tựa ấy)". Bèn mài chí theo Đạo Phật, cùng nghiên
cứu Lão Tử, lấy huyền diệu làm rượu ngon, lấy ngũ kinh
làm đàn sáo. Ngườithế tục đa số không biết, cho rằng
Mâu Tử đã phản lại ngũ kinh mà theo dị giáo. Thực ra, nếu
mở miệng ra tranh luận với họ thì cũng là phi đạo, mà
im lặng thì coi như bất lực, bèn dùng bút mực, lược dẫn
lời thánh hiền mà chứng giải điều mình nghĩ. Do đó gọi
là Mâu Tử Lý Hoặc Luận" (Sđd, trg 55, 56).
Nguyên
bản văn chữ Hán mà Nguyễn Lang trích dịch trong sách Lý Hoặc
Luận:
".
Thị thời Linh Đế băng hậu, thiên hạ nhiễu loạn độc
Giao Châu sai an, Bắc phương dị nhân hàm lai tại yên, đa vi
thần tiên tịch cốc trường sinh chi thuật. Thời nhân đa
hữu học giả, Mâu Tử thường dĩ Ngũ kinh nạn chi. Đạo
gia, thuật sĩ mạc cảm đối yên, tỷ chi ư Mạnh Kha cự Dương
Chu Mặc Địch".
".
Ư thị duệ chí ư Phật đạo, kiêm nghiên cứu Lão Tử. hàm
huyền diệu vi tửu tương, ngoạn Ngũ kinh vi cầm hoàng. Thế
tục chi đồ đa phi chi giả, dĩ vi bội Ngũ kinh nhi hướng
dị đạo. Dục tranh tắc phi đạo, dục mặc tắc bất năng.
Toại dĩ bút mặc chi gian lược dẫn Thánh Hiền chi ngôn chứng
giải chi, danh viết MÂU TỬ LÝ HOẶC LUẬN vân".
(Đại
tạng Kinh đệ ngũ thập nhị chi sách - Sử Truyện bộ IV)
Tác
giả sách Nghiên Cứu Về Mâu tử viết: "Nếu Phật giáo không
truyền vào nước ta từ thời vua A Dục (thế kỷ thứ 3 tr
TL) để đến năm 43 khi hai Bà Trưng thất trận, một trong
các nữ tướng của hai bà là Bát Nàn phu nhân đi xuất gia,
như truyền thuyết dân gian đã có, thì ít nhất vào năm 100
sau Tây lịch Phật giáo đã hiện diện với tư cách một bộ
phận tín ngưỡng đầy quyền uy đến nỗi dân ta đã trồng
một thứ hoa để cúng Phật gọi là uất kim hương. Sự hiện
diện được xác lập này đưa tới một số hệ luận đáng
quan tâm, không những đối với lịch sử Phật giáo Việt
Nam, mà còn đối với tư tưởng và văn học Việt Nam, trong
đó nổi bật nhất là việc ra đời tác phẩm văn học tư
tưởng Phật giáo xưa nhất do Mâu Tử viết hiện biết của
không những Việt nam, mà cả Trung Hoa và Viễn Đông nữa,
đó là Lý Hoặc Luận.
"Kể
từ Trần Văn Giáp công bố quan điểm cho rằng Mâu Tử là
một trong những người truyền giáo đầu tiên của Phật giáo
nước ta trong Le Boudhisme en Annam des origines jusqu'au XIII è Siècle
(1932) ". Ngược lại, chính bản Tự Truyện do tay ông (Mâu
Tử) viết trong Lý Hoặc Luận đã xác định ông học và theo
Đạo Phật tại nước ta. Nói cách khác, ông là sản phẩm
của Phật giáo Việt nam, và tác phẩm Lý Hoặc Luận có thể
nói là kết tinh đầu tiên của nền Phật giáo đó".1
Trong
Đạo Giáo Nguyên Lưu, gồm 3 quyển thượng, trung, và hạ của
thiền sư An Thiền, viết bằng Hán Tự, thế kỷ XIX, trong
đó tác giả ghi lại Đạo Phật ở Việt Nam, mở đầu với
đoạn dẫn nhập tổng quát: Đại Nam Thiền Học Sơ Khởi
(bước đầu Thiền học ở Đại Nam). Đoạn này gồm phần
Hùng Vương Phạm Tăng (Các nhà sư Ấn Độ dưới đời Hùng
Vương), tác giả kể ở đây KHÂU ĐÀ LA (Ksudra), cư sĩ TU
ĐỊNH và con gái làA MAN; Đại Nam Phật Tháp (các tháp thờ
Phật ở Đại Nam). Tiếp sau là các vị sư tổ truyền giáo
trong các triều đại nước Đại Nam cho đến đời Thiệu
Trị (1845); các truyện thần thoại liên quan đến Đạo Phật
ở Trung Hoa và ở Đại Nam. Hai quyển còn lại đặc biệt
nói về Nho giáo và Lão giáo.
Trong
Kho Tàng Cổ Tích Việt Nam kể truyện Tấm Cám được Bụt
hiện xuống cứu người lành: "Tấm, Cám là hai chị em cùng
cha khác mẹ. Tấm là con bà vợ cả; còn Cám, con bà vợ lẽ.
Bố của chúng không may mất sớm. Sau đó mẹ Tấm cũng mất.
Nó ở với Cám và dì ghẻ là mẹ của Cám. Bà dì ghẻ ác
độc hành hạ Tấm đủ điều oan khuất. Tấm đã bao phen
chìm nổi luân hồi, khi là hình thái trái thị, khi là hình
thái chim vàng anh. Bụt thấy thương tâm hiện ra cứu độ
cho Tấm bé bỏng hiền lành. Ở hiền gặp lành, sau Tấm hưởng
phúc báo được hoàng tử cưới làm vợ".
Hẳn
ta chưa quên tích Truyện Mai an Tiêm buôn bán với người ngoại
quốc. Truyện Cây Nêu và tấm Áo Cà Sa, Truyện Trầu Cau với
sự luân hồi thác sinh thành cây, đá vv. Tất cả đều nói
lên sự liên lạc văn hóa Ấn - Việt. Được biết: dưới
thời Sĩ Nhiếp cai trị nước ta từ năm 187 đến năm 226,
thì văn hóa Trung Hoa, hay nói khác là Nho giáo và Lão giáo,
lúc ấy đã chính thức công khai truyền bá ở Giao Châu; hệ
thống giáo lý của hai đạo này, không có các tích kể trên,
qua các truyền thuyết đời Hùng Vương. Với những mẫu truyện
trên, ta thấy: người Việt đã tiếp nhận giáo lý Nhân Quả,
Luân Hồi và Nghiệp Báo của Đạo Phật một cách hết sức
tự nhiên, không do dự, như tiếp nhận sự phát minh của chính
mình vậy.
. Kể
từ đời Hùng Vương mở nước, đóng đô ở đất Phong Châu,
người Việt đã sớm ý thức: chỉ có sự thuần nhất mới
có thể tồn tại để phát triển và tiến hoá. Dù rằng buổi
ban đầu sự sinh hoạt của xã hội Văn Lang hãy còn theo lề
lối bộ lạc, nhưng sự thuần nhất trong ý chí đoàn kết
đã được thể hiện một cách trọn vẹn để vượt thắng
các trở ngại và duy trì cho sự tồn tục của giống nòi.
Thật
vậy, vì ý thức Tự Chủ của dân tộc Việt trải qua hơn
một ngàn năm bị người Hán thốùng trị đất nước, từng
làm đau khổ giống nòi ta, nên người Việt đã sớm thức
tỉnh nhận rõ dã tâm thôn tính của họ nên đã cương quyết
tử thủ, ôm chặt lấy những gì thuộc truyền thống của
tổ tiên, để bảo trì nếp sống, phong hóa, ngôn ngữ sáng,
bén, lối y phục, cách ăn ở, xử thế; tâm hồn thì bao dung
rộng mở. điển hình như việc sử dụng chữ Nho mà người
Việt đọc khác người Hoa, và đã sáng chế ra một thứ chữ
riêng, thứ chữ Nôm. Chữ Nôm là một lối chữ mượn ở
chữ Nho rồi ghép thêm một chữ làm thanh phù mà tạo thành,
đọc theo tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt). Đó là óc sáng tạo
đặc thù của người Việt đối kháng lại với mọi áp lực
nguy hiểm của người phương Bắc, chỉ muốn đồng hóa dân
tộc ta.
Với
lối sống đặc thù của người Việt khác với lối sống
của người Hán. người Việt suy nghĩ, nói năng và hành động
nhất nhất đều y cứ vào đại tiền đề: lấy "Tổ ấm"
làm căn bản chung, nên không bao giờ người Việt chấp nhận
có sự tương tranh vì ý hệ hoặc mưu cầu danh lợi cho riêng
cá nhân hay một tập thể nào, rồi gây bè kết đảng hòng
tiêu diệt lẫn nhau. Những ai đi ngược lại truyền thống
ấy đều coi là nghịch lý, nhất định bị đồng bào chối
bỏ, coi họ như những người dị chủng.
Chính
quan niệm "Tổ ấm" được coi như linh hồn của Tổ quốc
mà người Việt còn tồn tại đến ngày nay, không bị đồng
hóa. Cá nhân làm việc để phục vụ Tổ ấm vì quan niệm
quốc gia là đại Tổ ấm. Người Việt biết trọng phép nước,
nhưng không bao giờ chấp bất cứ nhân vật hay một tập thể
nào coi đó là "khuôn vàng thước ngọc" lúc nào cũng đúng,
cũng hay, cũng giải quyết được hết mọi vấn đề rắc
rối qua mọi không - thời gian và mọi hoàn cảnh khác nhau.
Vì vậy, hễ chỗ nào, nơi nào có người Việt - chúng tôi
muốn nói những người Việt chân chính - sinh tụ thì chỗ
ấy, nơi ấy, không có vấn đề nhân danh, hoặc nịnh trên
nạt dưới, bất hiếu, bất trung, bất nhân, bất nghĩa. Dòng
bách Việt sống êm đềm, thương yêu nhau, không gây thù, trả
oán, tranh dành xâu xé, chà đạp lẫn nhau. nhằm đạt cho được
cái danh cái lợi hão huyền, đến nỗi hãm hại nhau; nhưng
đôi khi cần chống kẻ ngoại xâm để bảo toàn cương giới
quốc gia thì dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ nan,
một ý chí kiêu hùng của nòi giống Việt.
Với
những tấm gương sáng mà muôn đời con cháu vua Hùng vẫn
tự hào:
Năm
542; vị khai quốc LÝ NAM ĐẾ (LÝ BÍ) đánh đuổi tên Thái
thú Tiêu
Tư
(nhà Lương) và bè lũ phải bỏ trị sở chạy về nước;
lập nên nước Vạn Xuân, mở đầu nền Tự Chủ ở nước
ta.
·Năm
938, NGÔ VƯƠNG QUYỀN đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch
Đằng,
giết thái tử Hoàng Thao tại trận, khiến Hán chủ đành nuốt
hận thu quân về Tàu.
·Năm
1077, vị anh hùng dân tộc LÝ THƯỜNG KIỆT đại thắng quân
nhà
Tống
trên sông Như Nguyệt, khiến lão tướng Quách Quỳ phải phủ
phục đầu hàng.
·Năm
1258, vua TRẦN THÁI TÔNG và Hưng Đại Vương TRẦN QUỐC TUẤN
chiến thắng quân Mông Cổ ở mặt trận Đông Bộ Đầu, giải
phóng thủ đô Thăng Long.
·Năm
1285 vua TRẦN NHÂN TÔNG và quốc công tiết chế thống lĩnh
quân đội kháng chiến chống quân Nguyên TRẦN QUỐC TUẤN,
đã đánh tan giặc Mông Cổ, chém đầu Toa Đô ở Vạn Kiếp.
·Năm
1288, vua TRẦN NHÂN TÔNG và thượng phụ TRẦN QUỐC TUẤN đại
phá quân Nguyên trên sông Bạch Đằng, bắt sống các tướng
Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích lệ Cơ. khiến tên tổng chỉ huy
Thoát Hoan khiếp đảm phải vội vã rút quân về nước.
·Năm
1427, Bình Định Vương LÊ LỢI và mưu sĩ NGUYỄN TRẢI, sau
mười năm kháng chiến chống giặc Minh và đã toàn thắng,
nối lại nền tự chủ của nước nhà.
·Năm
1789, Bắc Bình Vương NGUYỄN HUỆ chiến thắng quân Thanh ở
trận Đống Đa (gần hà Nội ngày nay) khiến cho bại tướng
Tôn Sĩ Nghị phải "vứt bỏ tất cả sắc thư, ấn tín để
lo thoát thân", sau bảy ngày đêm mới đến được trại Nam
Quan.
. Vì
danh dự của Tổ ấm mà người Việt không bao giờ hành động
một cách cẩu thả. Và quan niệm hạnh phúc là do Tổ ấm
để lại cho con cháu muôn đời về sau:
'Người
trồng cây bách người chơi
Ta
trồng cây đức để đời mai sau".
Do
đó mà trong nhiều đời con cháu phải hương đăng thờ tự
trân trọng giữ gìn cái "Chí lớn" của tổ tiên:
"Cây
xanh thì lá cũng xanh
Cha
mẹ hiền lành để đức cho con".
Vì
quan niệm Tổ ấm mà người Việt lúc nào cũng tỉnh táo,
bình tĩnh, và cương quyết trong mọi hành động trong ý niệm
"âm phù dương trợ", lúc nào cũng coi như có ông bà, tổ tiên
theo dõi, chỉ dẫn, vì nghĩ rằng: "Sự tử như sự sinh" coi
khi chết cũng như lúc còn sống, không khác.
Đạo
đức cương yếu của người Việt chính là quan niệm 'phúc
đức Tổ ấm" vậy1.
Thuyết
"Tam cương Ngũ thường" của Nho giáo chỉ chiếm một chỗ
rất nhỏ trong diệu lý "phúc đức Tổ ấm" mà thôi. Thật
vậy, người Việt trước khi hành động bất cứ một việc
gì, còn phải đắn đo xem có đụng chạm đến Tổ ấm và
hại đến ai không đã. Quan niệm đạo đức này đã liên
kết được toàn dân trong một sự thuần nhất, không cần
phải "dân tứ tước ngũ"2 gây bè kết đảng rồi khinh khi
nhau, làm suy yếu tiềm năng quốc gia. Đấy là ta chưa nói
đến hậu quả thảm khốc chạy theo hình thức chủ nghĩa,
duy lạc hưởng thụ, kỳ thị đẳng cấp. thiếu hẳn căn
bản để sống một cuộc sống cho ra sống, nghĩa là sống
tốt đẹp hơn.3
Nói
tóm lại, các cá nhân đều coi mình như là một thành phần
cộng đồng của Tổ ấm. Phúc đức xuất phát tự Tổ ấm
rồi lại về Tổ ấm. Tổ ấm (nhỏ) là gia đình và (lớn)
là quốc gia, đều được tôn trọng. Cảnh thái bình, hạnh
phúc, giải thoát là những mục tiêu thiết thực đã được
người Việt xưa cũng như nay chấp nhận và thực hiện. Sự
lao tâm khổ tứ của người Việt cốt để củng cố cho thân
mệnh, tuệ mệnh của cá nhân cũng như của Tổ ấm, là nhằm
đạt tới Giác ngộ Giải thoát, chứ không mang tâm ích kỷ
để thôn tính, tiêu diệt nhau.
Bây
giờ ta thử xét qua một vài đặc tính văn hóa dân tộc và
văn hóa Phật giáo, có thể nói: hai nền văn hóa tuy hai mà
một - tự bản thân của nó đã có những nét hòa đồng mầu
nhiệm một cách kỳ diệu:
- Về
thực tại cuộc sống:
Người
Việt rất tôn sùng thờ cúng Tổ tiên, mà Phật giáo cũng
triệt để kính trọng, và còn đặt ra những nghi lễ thích
hợp với nhu cầu dân tộc, như lễ "Nhập Liệm, Qui Lăng",
hay lễ Vu Lan Báo Hiếu v.v.. Tục ngữ Việt Nam có câu: "tháng
bảy ngày rằm xá tội vong nhân".
·Dân
tộc Việt nam thường ưa chuộng "nâu, lam" thì hiện nay các
tăng sĩ Phật giáo đều giữ được sắc thái riêng biệt
ấy hơn ai hết. Trong bài Trường Ca mẹ Việt Nam, phần mở
đầu, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết:
Mẹ
Việt Nam
không
son không phấn
Mẹ
Việt Nam
chân
lấm tay bùn
Mẹ
Việt Nam
không
mang nhung lụa
Mẹ
Việt nam mang tấm nâu sồng.
·Dân
tộc ta giàu đức tính tiết kiệm, ít có ham muốn quá đáng,
nên hay "hưởng thụ bình quân", như đời Lê phân điền chẳng
hạn. Thì trong Phật giáo dạy thực hành "bình đẳng, thiểu
dục, vị tha". ·Tinh thần "tự lực cánh sinh" của dân tộc
ta thật phong phú, về ý hệ, ngườiViệt tự hào đã có bốn
ngàn năm văn hiến; và về võ công thì qua các đời: Ngô,
Lý, Trần, Lê, nguyễn ông cha ta đã từng chiến thắng oanh
liệt các kẻ thù xâm lăng dưới các thời: Hán, Tống, nguyên,
Minh, Thanh, và như lịch sử đã chứng minh: dân tộc Việt
sống hiên ngang kiêu hùng bất khuất. Xét trong Đạo Phật
có thuyết "Đại hùng, đại lực".
- Về
phương tiện sáng tác:
Trong
suốt dọc dài lịch sử (có thể nói) hầu hết những sáng
tác phẩm văn học nghệ thuật do người Việt viết, hoặc
phóng tác, không nhiều thì ít, đều đã chịu ảnh hưởng
của thuyết nhân quả, luân hồi, nghiệp báo của Đạo Phật.
Thật
vậy, người Việt Nam, từ lúc nằm nôi từng đã được các
bà mẹ kể cho nghe những câu ca dao, tục ngữ:
"ở
hiền thì lại gặp lành
ở
ác gặp dữ tan tành ra tro
(hay
tội dành vào thân)
"Sống
đục sao bằng thác trong.
"Ba
vuông sánh với bảy tròn,
Đời
cha nhân đức đời con sang giàu".
"Làm
việc phi pháp sự ác đến ngay".
v.v..
Cùng
trong những mẩu chuyện mang một nội dung tương tự, như:
Tấm Cám, Truyền kỳ Mạn Lục, Quan Âm Thị Kính, Nhị Độ
Mai, Phan Trần, Đoạn Trường Tân Thanh, v.v..
Chẳng
hạn, Truyện Tấm Cám, Bụt hiện ra để cứu giúp người
lành, Truyền Kỳ Mạn Lục, với lý nhân quả nghiệp báo được
tác giả viện dẫn bàng bạc trong khắp các truyện - dĩ nhiên
trong đó tác giả có đề cập luân lý Khồng Mạnh - nhằm
giải thích những tình huống éo le, như người có hạnh mà
nghèo, kẻ bất nhân lại khá, bằng lối sống, "đầu thai
chuyển kiếp", như truyện Nghiệp Oán Của Đào Thị, truyện
Gã Trà Đồng Giáng Sinh.
Ta
hãy nghe Nguyễn Dữ kể về câu chuyện Gã Trà Đồng:
."Có
hạnh mà nghèo, hoặc bởi tội khiên kiếp trước; bất nhân
mà khá, hẳn là phúc thiện đời xưa. Tuy rằng khó biết sâu
xa, nhưng thực không sai tơ tóc. Cho nên không nên lập luận
một bề và xem trời một mặt (xem Truyền Kỳ Mạn Lục của
nguyễn Dữ, bản dịch Trúc Khê).
Dưới
đây là những câu trích trong các truyện Quan âm Thị Kính,
Nhị Độ Mai, Phan Trần, Đoạn Trường Tân Thanh:
"Đoái
trông thế sự nực cười
Như
đem trò rối mà chơi khác gì".
(QATK,
câu 335 - 336).
."Cho
nên mến cửa Từ Bi
Dám
xin nhờ đức Tăng, Ni mở lòng".
(QATK,
câu 343 - 344)
Truyện
Nhị Độ Mai:
"Trời
nào phụ kẻ trung trinh
dầu
vương nạn ấy, ắt dành phúc kia
danh
thơm muôn kiếp còn ghi
Để
gương trong sạch, tạc bia dưới đời".
(Nh.
Đ.M, câu 7 - 10)
Truyện
Phan Trần:
"Xa
xa phảng phất hành lang
Đức
Quan Âm đã giáng sinh bao giờ".
(Ph.
T, câu 391 - 392).
"Sư
còn lân mẫn chúng sinh
Xin
thương đến tấm lòng thành mấy nao'.
(Ph.
T, câu 401 - 402)
Đoạn
Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều với những triết lý về
nghiệp báo:
"Kiếp
này nợ trả chưa xong
Làm
chi thêm một nợ chồng kiếp sau"
(ĐTTT,
câu 1019 - 1020)
"Đã
mang lấy nghiệp vào thân
Cũng
đừng trách lẫn trời gần trời xa
Thiện
căn ở tại lòng ta
Chữ
tâm kia với bằng ba chữ tài."
(ĐTTT,
câu 3249 -3252)
Những
truyện ngụ ngôn, có tính cách luân lý và nhân qua thường
quấn quýt lấy nhau, Kéo Cày Trả Nợ, Aâm Đức, Hai Vợ Chồng
Con Chiền Chiện, Ông Sư, Chẽo Cờ và Vẹt, Phù Du và Đom
Đóm, v.v..
Và
còn biết bao nhiêu đặc tính khác của Phật giáo rất phù
hợp với dân tộc tính, dân tộc tính, dân tộc trí, đã làm
nảy nở trong những nếp sống hằng hữu để vươn lên cuộc
sống trong sáng, cao cả, toàn mỹ. Đó là những nét điển
hình để chứng minh rằng văn hóa Phật giáo và văn hóa dân
tộc có những mối duyên gặp gỡ rất đồng nhất tế nhị.
Có thể nói hai nền văn hóa tuy hai mà một.
. Không
chỉ riêng nước Việt nam mà đối với bất cứ một nước
nào khi Đạo Phật truyền tới cũng đều được các nhóm
dân tộc hoan hỷ long trọng tiếp nhận, không nơi nào và chẳng
lúc nào bị ruồng bỏ, bởi vì Đạo Phật là đạo Từ Bi,
lấy tình thương làm động lực phát triển lòng Từ, lấy
trí tuệ làm mục tiêu nhắm tới Giác Ngộ Giải Thoát Con
Người.
Một
triết lý cao đẹp như thế ở xã hội nào, thời gian hay hoàn
cảnh nào mà không thích hợp, vĩnh viễn.
Được
như vậy là vì Đạo Phật có một tôn chỉ rất rộng rãi:
tôn trọng những đặc tính của mỗi dân tộc, mà chỉ cần
khai thác phần NHÂN TÍNH để hỗ tương, với mục đích dìu
dắt con người đạt tới đích Chân Thiện Mỹ; và khi Đạo
Phật đến dân tộc nào cũng vẫn kính trọng nếp sống cổ
truyền, những phong tục saün có. Chỉ vì tinh thần giáo lý
Giác ngộ Giải Thoát Tự Chủ của Đạo Phật không bao giờ
trái với sự việc nào, bất cứ ở đâu, hạng người nào,
khi họ biết hướng đến chân lý.
ĐẠO
PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT vẫn mãi mãi sống đẹp và tươi sáng!
Nước
Việt Nam dù trải trên mười thế kỷ chung đụng với văn
hóa Trung Hoa nhưng khi nguồn văn hóa GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT và
TỰ CHỦ của Đạo Phật truyền vào Việt Nam thì người Việt
đã hân hoan lấy đó làm ngọn đuốc thắp sáng cho cuộc cách
mạng giải phóng giống nòi khỏi ách thống trị của người
phương Bắc, giành lại quyền tự chủ, độc lập cho Tổ
quốc mến yêu.
Vào
thời đại Hai Bà Trưng, dòng dõi Hùng Vương, hồi đầu kỷ
nguyên Tây lịch, (40 - 43) 1, dân số Giao chỉ không nhiều,
chỉ có 32.000 ngàn nóc nhà, nhưng về luật pháp của nước
ta thời đó hơn luật pháp nhà Hán những mười (10) điều2.
Do đó có thể khẳng định rằng: Cách đây 2000 năm, Việt
Nam đã có pháp luật thành văn rồi, không còn ở chế độ
tục lệ pháp nữa; toàn dân thuần nhất nên với 32 ngàn nhà
thì dân số hữu dụng trai tráng rất ít, thế mà với một
lệnh Khởi Nghĩa ban ra, toàn dân nhất tề đứng dậy, ắt
phải có một nền văn minh đặc thù và một tình nghĩa máu
mủ đùm bọc keo sơn, một sự cương quyết mãnh liệt và
không khéo lắm mới dám đôí địch với quân thù nhà Hán.
Năm
Quý Mão (203) tức là năm thứ ba đời Hán Hiến Đế, Sĩ Nhiếp
dâng sớ xin đổi Giao Chỉ thành Giao Châu, thì đạo Phật
đã xuất hiện rồi và rất hưng thịnh, Giao Châu trực nhận
Đạo Phật do các Tăng sĩ Ấn Độ truyền vào từ trước
kỷ nguyên Tây lịch chứ không phải là sau này.
Trong
tờ chiếu của vua Hán Hiến Đế có đoạn đáng chú ý:"Đất
Giao Châu là nơi văn hiến, sông núi phong phú, của báu, vật
lạ, văn vật khá đẹp, nhân tài lỗi lạc. Thường năm thường
có tai họa chiến tranh, lâu nay ít có quan đầu mục, thái
thú xứng đáng có tài, cho nên đất hẻo lánh chưa được
thấm nhuần giáo hóa. Nay đặc ủy cho khanh trọng nhiệm, nên
tuân theo phong tục họ Triệu, họ Đô, lấy ơn nhân đức
mà chăn giắt dân, không phụ cái tài lương đống triều đình.
Trẫm đề cử khanh làm An viễn tướng quân, phong tước Long
độ đình hầu" - dẫn sách Việt Điện U Linh, mục chuyện
Sĩ Nhiếp -
Truyện
Cao Tăng Trung Hoa có nhận định là, lúc Phật giáo ở Trung
Hoa chưa được thịnh thì ở Luy Lâu, các tăng sĩ người Aán
Độ đã hiện diện ở đây truyền bá giáo lý Đức Phật
rất náo nhiệt, như xây chùa, dựng tháp, mở trường và dịch
kinh.
Để
chứng minh cho sự kiện trên, ta hãy đọc một đoạn văn mà
Thiền Uyển Tập Anh đã ghi tại cuộc đối thoại do quốc
sư Thông Biện trả lời hoàng thái hậu Phù Thánh Cảm Linh
Nhân Ỷ LAN - mẹ vua Lý Nhân Tông (1027 -1127) - nhân dịp bà
hội tụ các bậc cao tăng trong nước về chùa Phổ Ninh, thiết
trai nghi cúng dường và vấn đạo. Hôm ấy là ngày rằm tháng
hai, mùa xuân, niên hiệu Hội Phong thứ V (1096), Hoàng Thái
hậu hỏi về NGUỔN GỐC ĐẠO PHẬT VIỆT.
Quốc
sư Thông Biện đã trình bày những dữ kiện lịch sử Đạo
Phật truyền vào Việt Nam ra sao? (Sđd):
"Theo
sự tích của đại sư Đàm Thiên, Chính Pháp luôn luôn được
vua Cao Tổ nhà Tuỳ ngưỡng mộ, và phán rằng: "Ta nghĩ đến
đạo từ bi của đức Phật mà không biết làm thế nào để
báo đáp ân đức của Ngài. Ta đã lạm ở ngôi cao. Ta chỉ
muốn đem tất cả tài sức của ta hộ trì Tam bảo (Phật-
Pháp- Tăng). Ta đã thu thập di hài của chư Tăng và đã kiến
lập bốn mươi chín cây tháp thờ ở khắp nước, để làm
qui củ cho nhân gian, như là bến đò và chiếc cầu cần thiết
cho khách qua sông. Ngoài một trăm năm mươi ngôi chùa, ta còn
muốn xây thêm nhiều chùa nữa ở khắp xứ Giao Châu, vì ta
muốn rằng hạnh phúc ngự trị khắp cả thê gian. Giao Châu
tuy nội thuộc Trung Hoa lại ở quá xa. Vậy phải chọn những
sa môn đức hạnh và tài ba đến đó để giáo hóa chúng dân
bằng pháp Bồ Đề (Bodhi)"
Đại
sư Đàm Thiên2 tâu:
"Xư
Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc, khi Phật pháp truyền
vào Trung Hoa chưa đến Giang Đông, mà tại Luy Lâu đã sáng
lập trên hai mươi chế da (Caitya: tháp thờ xá lợi), đã độ
hơn năm trăm tăng sĩ và dịch được mười lăm bộ kinh. Do
đó, người ta nói rằng giáo pháp truyền đến Giao Châu trước
Giang Đông (Trung Hoa) vậy".
"Theo
đó, người ta thấy rằng Đạo Phật ở Giang Châu không khác
gì ở Trung Hoa. Bệ hạ có tấm lòng thương yêu khắp nhân
gian, và muốn truyền bá giáo pháp ở khắp nơi một cách bình
đẳng, thì những người truyền giáo không cần thiết, mà
thần nghĩ rằng, phải gửi những quan viên đến đó chăm
sóc các chùa chiền nơi đó mà thôi1
Sang
thế kỷ thứ II Tây lịch (168 - 189), Đạo Phật và Dòng Sử
Việt đã phát triển vững mạnh náo nhiệt do bốn vị phạm
tăng:
1.MA
HA KỲ VỰC (Marajivaka)
2.KHANG
TĂNG HỘI (K'ang seng Houei)
3.CHI
CƯƠNG LƯƠNG (Tchi kiang liang)
4.MÂU
BÁC (Mécu - Fo)
Ba
vị trên là người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác (cũng gọi là Mâu
Tử) thuộc người Trung Hoa. Bốn nhân vật trên đều đã lưu
trú tại Bắc Kỳ, các ngài đã cùng với người bản địa
dựng chùa Pháp Vân và nhiều chùa khác để tu niệm và truyền
bá Đạo Phật ở khắp nơi trong nước.
Năm
255 - 256 cũng có một vị tăng tên KALYÀNARÙCI (Chi Cương Lương
Tiếp) người bắc Ấn Độ (Indoscythe) tới Giao Châu dịch
kinh Pháp Hoa Tam Muội (Saddharmassamadhi suttra), có tỳ khưu Đạo
Thanh, người Giao Châu phụ dịch. Đạo Phật Việt thuở ấy
đã tạo được Niềm Tin của người dân bản địa và đã
có ảnh hưởng tốt trong nếp sống nhân gian.
Vào
thế kỷ thứ IV, hai vị thiền sư Đạt Ma Đề Ba (Dharmadeva)
và Huệ Thắng cũng đã xuất hiện trên đất Giao Châu. Thiền
sư Đạt Ma Đề Bà, người Ấn Độ, tới Giao Châu truyền
bá Thiền học tại đây. Thiền sư HUỆ THẮNG, người Giao
Chỉ, là một trong những đệ tử xuất sắc của Đạt Ma
Đề Bà, đã chứng ngộ thiền tâm. Sau, thiền sư (Huệ Thắng)
qua Trung Hoa hoằng pháp và tịch tại chùa U Thê ở Bành Thành.
Sách
Phật Giáo Việt Nam, giáo sư Nguyễn Đăng Thục đưa ra nhận
định về địa thế nước ta và ảnh hưởng của nguồn văn
hóa tự chủ của Đạo Phật đối với dân tộc Việt Nam:
"Điều
kiện địa lý thuận lợi của đất Giao Chỉ là có đường
thông với Tây Trúc tức khu vực văn hóa Ấn mà đại diện
bấy giờ ở phía nam Giao Chỉ là Chiêm Thành và Chân Lạp.
Do đấy mà Phật Giáo trước khi ảnh hưởng vào Trung Hoa phải
từng phát triển ở Giao Chỉ trước đã. Và điều kiện Lĩnh
Nam đã mở cửa xuống Đông Nam Á để tiếp đón và giao dịch
với lục địa Á Châu là hải đảo Thái Bình Dương và Ấn
Độ Dương để sớm trở nên đất "ngã ba ngã tư giao lưu
của các chủng tộc và văn hóa". Phật giáo là một tôn giáo
mở cửa độc nhất trong các tôn giáo thế giới đã cống
hiến cho dân tộc Việt Nam đất Giao Chỉ cái nhựa sống thiết
yếu để hợp nhất các khuynh hướng tư tưởng tín ngưỡng
giao lưu xung khắc, thành cái ý thức hệ khai phóng của địa
lý đòi hỏi. Cũng vì thế mà nhân dân tự động suy tôn người
con Phật họ Lý là Lý Phật Tử lãnh đạo cuộc giải phóng
và xây dựng một nước Việt Nam độc lập đầu tiên. Tuy
triều Tiền Lý ngắn ngủi có nửa thế kỷ, nhưng cái ý thức
hệ "Tam giáo" do Thiền tông hợp sáng trên căn bản thực nghiệm
tâm linh Phật giáo, đến thời Hậu Lý đã giải phóng hẳn
Việt Nam, trở nên một nước Đại Việt vững bền và cường
thịnh tại khu vực "Đông Nam Á" (Sđd, trang.)
Việt
Nam là nơi hội tụ các tăng tài khắp bốn phương, nền tinh
hoa Đạo Phật Việt luôn luôn đượm sắc thái đặc biệt,
trong những thời gian hoàn cảnh đặc biệt. Đạo Phật đối
với dân tộc Việt Nam được coi như thứ vũ khí tinh thần
hiệu nghiệm, để vừa đối kháng với nền văn hóa Trung
Hoa, vừa thâu thái những tinh hoa của nền văn hóa đó rồi
dung hòa cả hai nền văn hóa Ấn - Hòa hợp với tinh thần
"Lối sống" của người Việt hình thành một nền văn hóa
Việt Nam sống động trong tâm tư mỗi người và trong cuộc
sống dân tộc. Phật giáo đã kích động tinh thần tự chủ
của người Việt. Và, từ đó đưa đến đòi hỏi một nền
tự chủ dân tộc. Khi một nền văn hóa dân tộc đã có cá
tính khác biệt với nền văn hóa của đế quốc thì công
việc đấu tranh giành độc lập chỉ còn là công việc thời
gian mà thôi. Chính vì vậy mà trước kia, trong lịch sử Đạo
Phật Việt, các vị thiền sư đã cùng với dân tộc Việt
Nam phấn đấu cho một nền Tự Chủ vẻ vang của dân tộc.