CÔNG
CUỘC DỰNG NƯỚC
ĐỜI
TIỀN VÀ HẬU LÝ NAM ĐẾ
(TL.
542-603)
Dươi
sự lãnh đạo của LÝ BÔN (cũng gọi là Lý Bí), một cuộc
khởi nghĩa chống ngoại xâm vào mùa xuân năm 542 được toàn
dân hưởng ứng, tham gia, đứng chung trên một trận tuyến
để đánh đuổi tên thái thú tàn bạo là Tiêu Tư và bè lũ
về Tàu, rồi chiếm giữ lấy thành Long Biên. Đầu năm 543,
triều đình nhà Lương tổ chức cuộc phản công nhưng bị
nhà Lý dẹp tan.
Sau
cuộc khởi nghĩa thành công, mùa xuân tháng giêng năm giáp
tý (544), Lý Bôn tuyên cáo dựng nước, xưng là Nam Đế (vua
Nước Nam), đặt quốc hiệu Vạn Xuân, xây điện Vạn Thọ,
tổ chức thành một triều đình của một quốc gia độc lập.
Nam
Đế bỏ niên hiệu của nhà Lương, đặt niên hiệu mới là
Thiên Đức (VNSL) hay Đại Đức (theo LSVN, T1), và dựng một
ngôi chùa mới lấy tên là Khai Quốc (Mở Nuớc).
Sử
thần triều Lê viết:
"Tiền
Lý Nam Đế, tính rất thông minh, phía Bắc đánh đuổi Tiêu
Tư, phía Nam dẹp yên Lâm ấp, lập quốc hiệu, chính ngôi
tôn, dặt trăm quan, định miếu hiệu, có đại lược quyhoạch
của Đế Vương".
(Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư - Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận,
tập 1, trang 101).
Qua
năm ất sửu (545), vua Lương sai Dương Phiêu làm thứ sử Giao
Châu, và Trần Bá Tiên làm tư mã đem đại quân sang đánh
Chu Diên. Trận thứ hai đánh ở Gia Ninh. Vua Nam Đế thấy thế
địch mạnh đành rút quân lên đóng ở động Khuất Liêu
(thuộc đất Hưng Hóa), gần một năm trời chuẩn bị quân
cơ, Lý Nam Đế đem ba vạn quân đánh nhau với Trần Bá Tiên
ở hồ Điển Triệt (Vĩnh Yên) lại bị thất bại, vua bèn
giao quyền cho tả tướng quân Triệu Quang Phục cầm đầu
một cánh quân lui về lập căn cứ ở Dạ Trạch (Hưng Yên).
Còn anh ruột Lý Nam Đế là Lý Thiên Bảo cùng với Lý Phật
Tử đem hai vạn quân vào Cửu Chân (Thanh Hoá), bị quân nhà
Lương đuổi đánh phải chạy vào đất Lạo, đóng binh ở
động Dạ Năng (biên giới Việt-Lào).
Cuộc
kháng chiến kéo dài bốn năm thì Lý Nam Đế bị bệnh chết
(4-546). Triệu Quang Phục khi hay tin Lý Nam Đế băng hà, ông
tự xưng là Triệu Việt Vương. Nhân gặp lúc bên Tàu có lọan,
vua nhà Lương phải triệu Trần Bá Tiên về chỉ để một
tỳ tướng là Dương Sàn ở lại nước ta, Triệu Quang Phục
đem quân giết chết Dương Sàn, chiếm lấy thành Long Biên.
Đến
năm 555, Lý Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay. Rồi năm
557, Lý Phật Tử1 cất quân đánh Triệu Việt Vương. Về sau,
hai bên chia đôi đất nước, lấy bãi Quân Thần (thuộc làng
Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Hà Nội) làm ranh giới.
Năm
571, Lý Phật Tử lấy danh nghĩa là chính thống nhà lý, đem
quân đánh úp Triệu Quang Phục, thống nhất đất nước.
Nối
nghiệp nhà Tiền Lý, cũng trong năm 571, Lý Phật Tử lên làm
vua, đóng đô ở Phong Châu (thuộc huyện Bạch Hạc, tỉnh
Vĩnh Yên) mà lịch sử sau này gọi là Hậu Lý Nam Đế.
Lý
Phật Tử làm vua 32 năm (571 - 603). Sách Việt Điện U Linh,
tác giả Lý Tế Xuyên (đời Trần) viết:
".
Nam Đế đã chiếm được nước của Triệu Việt Vương rồi,
thiên đô qua xứ Lộc Loa và Vũ Ninh, phong cho anh là Xương
Ngập làm thái bình hầu, giữ Long Biên, phong đại tướng
quân là Lý Tấn Đỉnh làm an ninh vương giữ thành Ô Diên,
ở ngôi ba mươi năm (30), khởi từ năm tân mão niên hiệu
Đại Kiến thứ ba nhà Trần đến năm nhâm Tuất niên hiệu
Nhân Thọ thứ hai vua Văn Đế nhà Tuỳ thì mất: con là Sư
Lợi lên nối ngôi, được vài năm thì bị tướng nhà Tuỳ
là Lưu Phương đánh chiếm mất nước.
"Sau
khi Nam Đế đã băng hà, người trong nước chỗ nào cũng có
lập đền thờ, có miếu ở tại cửa Tiểu Nha, phường An
Khang, rất linh dị. Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong
Anh Liệt Uy Hoàng Đế. Năm thứ bốn mươi, gia thêm hai chữ
Nhân Hậu. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia tặng bốn chữ
"Khâm Minh Thánh Vũ" (bản dịch chữ Hán ra Việt văn của Lê
Hữu Mục - Sđd, trang 55).
Lịch
sử Việt Nam, tập 1, ghi: "Năm 589 nhà Tuỳ diệt nhà Trần,
thống nhất Trung Quốc. Nhà Tuỳ âm mưu đặt lại ách đô
hộ trên miền đất nước ta, Lý Phật Tử về danh nghĩa phải
chịu thần phục nhà Tuỳ nhưng thực chất vẫn giữ quyền
cai trị nước ta.
"Năm
602, nhà Tuỳ gọi Lý Phật Tử về kinh đô chầu hoàng đế.
Về chầu có nghĩa là đầu hàng, mất nước. Lý Phật Tử
đã CHỐNG lại lệnh đó. Phật Tử sai cháu là Lý Đại Quyền
đem quân giữ thành Long Biên (Bắc Ninh), sai tướng Lý Phổ
Đỉnh đem quân giữ thành Ô Diên (Từ Liêm, Hà Nội), còn
tự mình tổ chức phòng ngự tại "thành cũ của Việt Vương"
(tức thành Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội).
"Đầu
năm 603, nhà Tuỳ cử Lưu Phương đem quân theo đường tây
bắc xuống xâm lược nước ta. Lý Phật tử chặn đánh quân
Tuỳ ở núi Đô Long, (vùng Tụ Long, xưa thuộc Tuyên Quang,
nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc). Quân ta bị thua. Giặc tiến
vây thành Cổ Loa, bắt Lý Phật Tử đầu hàng và bắt giải
về Tuỳ. Nhiều tướng lĩnh của Lý Phật Tử tiếp tục cùng
nhân dân đánh giặc nhưng sau cùng bị tàn sát. Đất nước
ta rơi vào ách thống trị của nhà Tuỳ" (Sđđ trg 116).
Chỉ
cách sau ba năm, tức năm 571, Lý Phật Tử lên ngôi vua, năm
574 ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (Vinitaruci), người nam Thiên Trúc
(Ấn Độ) qua Trung Hoa cầu pháp với Đệ tam tổ Tăng Xán,
và sau khiđắc pháp, được Tổ ấn ký và khuyên nên qua phương
Nam truyền đạo. Năm 580, ngài từ Trung Hoa sang Việt Nam, trụ
trì chùa Pháp Vân, thuộc làng Cổ Châu, Long Biên, dịch bộ
kinh Tổng trì và lập ra phái THIỀN TÔNG THỨ NHẤT Ở NƯỚC
TA. Đến năm 594 trước khi viên tịch, ngài truyền tâm ấn
cho đệ tử là tôn giả PHÁP HIỂN, người Việt Nam đầu
tiên được vinh dự lĩnh pháp ấn để kế truyền Chính Pháp.
Triều
đại nhà Lý, vua Lý thái Tông (1028 - 1054) vì cảm mến đức
hóa của ngài, đã làm bài kệ truy tán:
Sáng
tự lai Nam quốc
Văn
quân cửu tập Thiền
Ứùng
khai chư Phật tích
Viễn
hợp nhất tâm nguyên
Hạo
hạo lăng già nguyệt
Phân
phân bát nhã liên
Hà
thời hạnh tương kiến
Tương
dữ thoại trùng huyền
Mở
lối qua Nam Việt
Nghe
ngài hiểu đạo Thiền
Nguồn
tâm thông một mạch
Cõi
Phật rộng quanh miền
Lăng
già ngời bóng nguyệt
Bát
nhã nức mùi sen
Biết
được bao giờ gặp
Cùng
nhau kể đạo huyền
Bản
dịch Thích Mật Thể
·Hệ
phái Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi, truyền được 19 đời (580-1216), gồm
28 vị tổ kế thừa.
Vào
khoảng cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII, Việt Nam có thêm
ba đoàn truyền giáo:
-Đoàn
thứ Nhất, ba vị: MINH VIỄN, TUỆ MỆNH, VÔ HÀNH.
-Đoàn
thứ hai, ba vị: ĐÀM NHUẬN, TRÍ HOẰNG, TĂNG GIÀ BẠT MA.
-
Đoàn thứ ba, sáu vị: VẬN KỲ, MỘC XOA ĐỀ BÀ (Moksadeva),
KHUYXUNG, TUỆ DIỆM, TRÍ HÀNH, ĐẠI THẶNG ĐĂNG.
Trong
ba đoàn truyền giáo, hai đoàn là người Trung Hoa, trong đó
duy có ngài Tăng-Già-bạt-Ma (Samygavarma) là người Trung Á.
Đoàn thứ ba, đáng chú ý hơn, vì toàn người Việt Nam cả
(bốn người ở Giao Châu - Hà Nội, Nam Định - và hai người
ở Ái Châu - Thanh Hoá -) Cả sáu ngài đã qua Trung Hoa, Ấn
Độ, và đã cầu pháp, dịch kinh.
*
Sau
thời đại Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đế), nước ta bị nhà
Tùy (602 - 617) đô hộ, rồi tiếp đến nhà Đường (617 - 907)
cai trị, gồm 305 năm.
Trong
thời thuộc Đường, năm Nhâm Tuất (722) nhà ái quốc Mai Thúc
Loan, quê ở Hà Tĩnh, nổi lên giải phóng ách cai trị nhà
Đường đang đè nặng trên thân phận người dân Giao Châu
bị trị, đã chiêu tập ba mươi ngàn nghĩa quân chống cự
với quân nhà Đường, chiếm giữ lấy đất Hoan Chân (tỉnh
Nghệ an), xây thành đắp lũy chung quanh núi sông Lam dài đến
hàng dặm, tự xưng hoàng đế, đóng đô ở Vạn An, tục gọi
là Mai Hắc Đế (Vua Đen). Nhà Đường phải vận dụng đến
mười vạn quân để chống cự với ba mươi ngàn quân. Cuộc
kháng chiến đang hồi quyết liệt thì ông bị bệnh chết,
giữa lúc sự nghiệp quốc gia cần có người như ông.
Rồi
nửa sau thế kỷ VIII (766 - 791), có vị anh hùng tên là Phùng
Hưng, quê ở Đường Lâm (tỉnh Sơn Tây) nổi dậy, đem quân
về chiếm giữ phủ thành được mấy tháng, công việc đang
dở dang, không may cho vận nước: ông mất! Quân sĩ lập con
là Phùng An lên nối nghiệp. Dân ái mộ Phùng Hưng tôn vinh
là Bố Cái Đại Vương, bậc cha mẹ của dân.
Tháng
bảy năm Tân Tî (791), vua Đường sai Triệu Xương sang làm
đô hộ sứ, Phùng An thấy thế chống không nổi, xin hàng.
Đến
năm 907 TL, thì nhà Đường đổ, nước Trung Hoa rất rối loạn,
anh hùng hào kiệt nổi loạn khắp nơi. Ngai vàng là mục tiêu
chính mà con cháu các dòng vua chúa thuở trước có cơ dấy
binh. Các cuộc huyết chiến xảy ra liên miên. Hẳn ta chưa
quên thời Đông Hán tan rã, Trung Hoa liền xảy ra cảnh sứ
quân cát cứ tương tranh giữa ba nhà Ngụy - Thục - Ngô (220
- 280). Nay nhà Đường bị chấm dứt thì cảnh loạn lạc tranh
ngôi cửu ngũ lại xảy ra. Thời này, sử Trung Hoa gọi là
Ngũ Quý, hay là Ngũ Đại, gồm có Hậu Lương, Hậu đường,
Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Chu. Trong năm nhà Hậu này, chẳng
có "nhà Hậu" nào có thực lực cả, nên chỉ được một
thời gian ngắn độ dăm năm là bị khai trừ. Toàn lãnh thổ
Trung Hoa bị bão tố, loạn lạc và lụn bại. Lúc này đúng
là lúc "trời không có mắt" nên lãnh thổ của "thiên triều"
như vô cương trên nửa thế kỷ.
Trước
bối cảnh đen tối ấy, các viên chức cai trị Trung Hoa nơi
viễn xứ đang phân vân, bối rối, không biết dòng họ nào
sẽ cầm chính quyền điều khiển quốc gia? Còn người Việt,
sau bao nhiêu năm trời đằng đẳng buộc phải sống bên cạnh
người Trung Hoa, đã nhận ra cái nhược điểm ấy của nước
thống trị, nên cũng như bao lần trước, cuộc biến loạn
tại chính quốc (Trung Hoa) là một dịp tốt cho người dân
bị trị Giao Châu vùng đứng dậy giành lại quyền tự chủ
của quốc gia mình. Khúc Thừa Dụ, quê ở Hải Dương "được
nhân dân khâm phục, ông nhân danh là hào trưởng một xứ
mà tự xưng là tiết độ sứ".
Ngày
7 tháng 2 năm 906, vua Đường (bất đắc dĩ) phải chấp nhận
cho Khúc Thừa Dụ giữ chức tiết độ sứ, một chức quan
của nhà Đường, nhưng ông đã xây dựng một chính quyền
tự trị của người bản địa. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất,
con là khúc Hạo, nối nghiệp cha giữ chức tiết độ sứ,
chỉ sau đó mấy tháng, ông đã cải cách lại tất cả cơ
cấu hành chính quốc gia, thay đổi các viên chức Trung Hoa,
định lại thuế khóa cho công bằng và hợp lý. Tiết độ
sứ Khúc Hạo mất năm 917 TL. Con là Khúc Thừa Mỹ lên thay,
vẫn tự xưng là tiết độ sứ.
Năm
923, nhà Hán xua quân sang đánh nước Việt, bắt được Khúc
Thừa Mỹ nhưng sau thả ra cho phục chức như cũ. Năm 931, Dương
Đình nghệ (KĐVSTGCM viết là Dương Diên Nghệ), một tỳ tướng
của tiết độ sứ Khúc Hạo, đã có công nổi dậy đuổi
được bọn Lý Khắc Chính (LSVN, T1 ghi là Dương Khắc Trinh)
của quân Nam Hán về nước sau 8 năm bị đô hộ. Rồi, sau
6 năm hưng quốc, Dương Đình Nghệ bị viên nha tướng của
mình, là Kiều Công Tiễn, phản loạn giết và soán đoạt
ngôi báu. Ngô Quyền, một tướng tài và là rể của Dương
Đình Nghệ. Sau khi nghe tin chúa mình bị giết chết, liền
cử binh từ Ái Châu (Thanh Hoá) kéo ra đánh Kiều Công Tiễn,
tên tay sai của Hán chủ, để báo thù cho chúa và trừ hậu
họa.
Tuy
không có tài liệu chính truyền xác định Đạo Phật truyền
vào Việt Nam trước thế kỷ thứ nhất dương lịch, nhưng
bằng phương pháp thuần lý, do sự quy nạp các tài liệu có
tính cách phong tục học và xã hội học thuộc các triều
đại xa xưa của nước ta nhận thấy có nhiều bằng chứng
(gián tiếp) cho phép ta tin tưởng rằng" Đạo Phật du nhập
Việt Nam trước Trung Hoa, và đã hưng thịnh rất xán lạn
rồi.
Riêng
có điều này là nên chú ý: Thời Tuỳ - Đường bên Trung
Hoa, Phật giáo rất thịnh (mà) duy chỉ có một ngài Huyền
Trang sang Ấn Độ học đạo và thỉnh kinh; mà ở Việt Nam
đã có (cả thảy) sáu vị thiền sư qua Ấn Độ tu học. Rất
tiếc là các vị ấy đều đã tịch ở xứ người (Sáu vị
thiền sư Việt Nam đó là các ngài: Vân Kỳ, Mộc Xoa Đề
Bà, Tuệ Diệm, Trí Hành, Khuy Xung và Đại Thặng Đăng). Ta
cũng không quên được là lúc bấy giờ nhà Đường không
thiếu gì các bậc tài đức, thế mà các thiền sư, như: Phụng
Đình và Duy Giám. của nước Việt Nam đã đượcc vua nhà
Đường thỉnh vào cung thuyết pháp cho vua nghe. Các nhà trí
thức Trung Hoa (đời Đường) rất kính mộ các thiền sư Việt
Nam và đã làm thơ tán dương các ngài. Trong Kiến Văn Tiểu
Lục của Lê Quí Đôn có ghi laị những bài thơ ấy. Nguyên
bản bài thơ chữ Nho của thi sĩ Dương Cự Nguyên viết để
tặng thiền sư Phụng Đình:
"Cố
hương Nam Việt ngoại
Vạn
lý bạch vân phong
Kinh
luân từ thiên khứ
Hương
hoa nhập hải phùng
Lộ
đào thanh phạm triệt
Thần
các hóa thành tùng
Tâm
đáo Trường an mạch
Giao
Châu hậu dạ chung."
Quê
nhà trong cõi Việt
Mây
bạc tít mù xa
Cửa
trời vắng kinh kệ
Mặt
biển nổi hương hoa
Sóng
gợn cò in bóng
Thành
xây hến mấy tòa
Trường
An lòng quấn quít
Giao
Châu chuông đêm tà.
Thích
Mật thể dịch
Và
dưới đây là bài thơ của thi hào Giả Đảo1 viết để tiễn
thiền sư Duy Giám:
"Giảng
kinh luân điện lý
Hoa
nhiễu ngự sàng phi
Nam
hải kỷ hồi quá
Cựu
sơn lâm lão qui
Xúc
phong hương tổn ấn
Lộ
vũ khánh sinh y
Không
thủy ký như bỉ
Vãng
lai tiêu tức hy."
Giảng
kinh nơi cung điện
Vườn
ngự hoa xuân bay
Xa
quê từ mấy độ
Núi
cũ về từ nay
Mưa
sa dầm áo bạc
Gió
táp ấn hương phai 2
Biển
vắng như thế đó
Tin
tức làm sao hay3
Nguyễn
Lang dịch
Cũng
như Thẩm Thuyên Kỳ, tự Vân Khanh, đổ tiến sĩ, làm quan
đời Vũ hậu, bị biếm xuống Hoan Châu, là một thi sĩ nổi
tiếng đầu thế kỷ VIII, có lần đến yết kiến vị thiền
sư, trụ trì chùa Sơn Tĩnh, quận Cửu Chân, đã viết bài
thơ truy tặng VÔ NGẠI Thượng Sĩ tỏ ý tôn xưng ngài (Vô
Ngại) là vị hóa Phật và tự nhận mình là đệ tử may mắn
được diện kiến tham tu chính pháp:
"Đại
sĩ sinh Thiên Trúc
Phân
thân hóa Nhật Nam
Nhân
trung xuất phiền naõ
Sơn
hạ tức già lam
Tiểu
giản hương vi sát
Nguy
phong thạch tác am
Hầu
thiền thanh cốc nhũ
Khuy
giảng bạch viên tham
Đằng
ái vân gian bích
Hoa
thê thạch hạ đàm
Tuyền
hành u cung hảo
Lâm
quải dục y kham
Đệ
tử ai vô thức
Y
vương tích vị đàm
Siêu
nhiên hổ khê tịch
Chính
thụ hạ hư lam"
(Phật
xưa sinh Thiên Trúc
Nay
hoá thân Nhật Nam
Vòng
não phiền ra khỏi
Dưới
núi dựng già lam
Khe
suối thơm là cảnh
Đá
non cao là am
Chim
xanh tập thiền định
Vượn
trắng nghe giảng đàm
Vách
đá dây mây cuốn
Mặt
đầm hoa leo thang
Theo
suối vào bóng mát
Giặt
áo phơi rừng hương
Đệ
tử hận mình dở
Phật
pháp chưa am tường1
Qua
khe Hổ nhìn lại2
Dưới
cây sương khói lam)
NGUYỄN
LANG dịch
Cách
hơn 300 năm sau, khoảng thế kỷ thứ IX, Việt Nam lại xuất
hiện một phái Thiền Tông nữa, do ngài VÔ NGÔN THÔNG từ
Trung Hoa truyền vào. Ngài đắc pháp với Sư tổ Đại Trí
Bách Trượng HOÀI HẢI, và năm 820 thì qua Việt Nam, trụ trì
chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh,
sau truyền pháp lại cho tôn giả CẢM THÀNH. Dòng Thiền này
truyền được 15 đời, gồm 40 vị Tổ kế thừa (mà) tôn
giả Cảm Thành là Sơ tổ của Việt Nam, thuộc phái THIỀN
TÔNG THỨ HAI, DÒNG VÔ NGÔN THÔNG.