CUỘC
CHỐNG QUÂN XÂM LĂNG
NHÀ
NAM HÁN CỦA NGÔ QUYỀN
(939
- 967)
Ngô
Quyền1 người ở Đường Lâm (cùng quê với Phùng Hưng), một
dòng dõi quý tộc, cha là Mân làm quan Bản Châu, ông có chí
lớn, mưu cao, tài kiêm văn võ, khi quân Nam Hán còn ngấp nghé
bên ngoài bờ cõi, ông đã sửa soạn công cuộc ứng chiến,
và việc trước hết là chiếm lấy thành Đại La, giết tên
phản chủ bán nước Kiều Công Tiễn để trừ nội họa;
ổn định tình hình trong nước.
Cuối
năm 938, vua Nam Hán ra lệnh cho hàng trăm vạn quân, do thái
tử Lưu Hoằng Thao chỉ huy, ồ ạt kéo sang xâm chiếm nước
ta. Trận chiến oanh liệt diễn ra trên sông Bạch Đằng, Hoằng
Thao bị chết, còn quân giặc phần bị giết, phần bị chết
chìm hoặc bị bắt, thiệt hại quá nửa. Hán chủ đành phải
nuốt hận thu tàn quân về Tàu, chấm dứt thời kỳ mất nước
kéo dài 1031 năm (một nghìn không trăm ba mươi mốt năm).
Năm
939, Ngô Quyền xưng vương, thành lập một quốc gia độc lập,
đóng đô ở Cổ Loa (tỉnh Phú Yên) ở ngôi mới được sáu
năm thì mất. Đáng lẽ ngôi cửu ngũ phải về tay Ngô Xương
Ngập, con trưởng Ngô Quyền, nhưng Dương Tam Kha (em vợ Ngô
Quyền và là con trai Dương Đình Nghệ) lại đoạt mất và
xưng vương. Năm 950, Ngô Xương Văn là em Ngô Xương Ngập,
nhờ có Dương Cát LơÏi và Đỗ Cảnh Thạc giúp sức, liền
từ Sơn Tây kéo quân về vây thành và bắt được Tam Kha,
nhưng vì nể tình cậu cháu tha cho Tam Kha tội chết. Khi đã
chiếm được chính quyền, Ngô Xương Văn tự xưng Nam Tấn
Vương và cho người đi triệu anh là Ngô Xương Ngập, tức
Thiên sách Vương về kinh để cùng coi việc nước. Nhưng tình
hình lúc ấy rối loạn, cuối đời nhà Ngô, anh em Ngô xương
Văn và con cháu bất lực nên mới có cảnh Thập nhị sứ
quân2.
Mỗi
sứ quân chiếm giữ một vùng đất, xây thành đắp lũy, nhằm
thôn tính lẩn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hai mươi hai năm
(945-767), gây ra không biết bao là tổn thất về nhân mạng
và tài sản; dân tình phải chịu cực khổ lầm than. Sự sống
còn của một dân tộc không thể để tình trạng ấy kéo
dài thêm nữa; hoàn cảnh và lịch sử đòi hỏi phải chấm
dứt cuộc nội loạn, thống nhất đất nước về một mối.
(Đạo
Phật Việt Nam từ thời Bắc thuộc thứ II qua thời Lý Nam
Đế và suốt thời Bắc thuộc thứ III tuy có phát triển nhưng
chưa được hưng thịnh như các triều đại ĐINH - LÊ - LÝ
- TRẦN sau này).