ĐẠO
PHẬT THỜI KỲ
TỰ
CHỦ NHÀ ĐINH (968-980)
VÀ
TIỀN LÊ (981-1009)
Vạn
thắng vương Đinh Bộ Lĩnh sau khi đã dẹp xong loạn thập
nhị sứ quân. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, tức
là Đinh Tiên Hoàng, lập nên nhà Đinh, đặt quốc hiệu là
Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư, lấy niên hiệu là Thái
Bình Nguyên Niên, nhằm xóa hẳn vết tích thống trị của
hoàng đế phong kiến Trung Hoa, nêu cao ngọn cờ thống nhất
độc lập quốc gia, lập triều chính, vua liền nghĩ đến
việc chỉnh đốn hàng ngũ Giáo Hội Tăng Già và định phẩm
trật cho các tăng sĩ lỗi lạc hữu côngtham dự quốc chính,
nên đã tặng chức Khuông Việt Thái sư cho ngài tăng thống
Ngô Chân Lưu, ban chức Tăng Lục Đạo sĩ cho Pháp sư Trương
Ma Ly, và thiền sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Chấn Uy nghi.
Về
sinh hoạt chính trị, văn học trong nước lúc bấy giờ đều
do các bậc tăng già hữu học nhận lĩnh trông coi. Đạo Phật
Việt được vương triều công nhận là quốc giáo kể từ
nhà Đinh.
Lịch
Sử Việt Nam, tập 1, viết về Phật giáo thời nhà Đinh:
"Trong
buổi đầu thời kỳ độc lập, Phật giáo là tôn giáo chiếm
ưu thế trong xã hội. Trong nước nhiều chùa tháp được xây
dựng. Riêng ở Hoa Lư, năm 973, Nam Việt vương Đinh Liễn là
con trai trưởng của Đinh Tiên Hoàng, cho dựng 100 cột đá
khắc kinh Phật (gọi là kinh tràng). Các nhà sư là tầng lớp
có học thức, có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội. Ngoài
văn học dân gian, lực lượng sáng tác văn học lúc đó chủ
yếu cũng là các nhà sư. Những tác phẩm văn học thành văn
của giai đoạn này còn lại đến nay là một số bài thơ
chữ Hán của các nhà sư như Đỗ Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn
Hạnh, v.v. (Sđd, trang 150).
Sau
nhà Đinh1là nhà Tiền Lê, các tăng sĩ vẫn được trọng dụng.
Vua Lê Đại Hành đã triệu thỉnh Khuông Việt Thái sư làm
cố vấn và thiền sư Pháp Thuận lo việc ngoại giao; đồng
thời triều đình cũng cho thiết lập các tự viện, và năm
1008 vua sai sứ là các ông Minh Xưởng, Hoàng Thành Nhã qua Trung
Hoa thỉnh Đại tạng kinh. Đây là lần đầu tiên nước ta
sai sứ đi thỉnh kinh.
Năm
Thiên Phúc thứ VII (986), sứ nhà Tống là Lý Giác sang nước
ta1 vua nhờ ngài Khuông Việt Thái sư giữ việc ngoại giao
để ứng tiếp với sứ giả. Còn thiền sư Pháp Thuận cải
trang làm chú lái đò cho sứ giả. Tình cờ có đôi ngỗng
bơi trên mặt nước, Lý Giác vốn có tài văn thơ, liền tức
cảnh:
Nga
nga lưỡng nga nga
Ngưỡng
diện hướng thiên nha.
Song
song ngỗng một đôi
Ngửa
mặt ngó ven trời
Chú
lái đó - tức thiền sư Pháp Thuận - đã ứng đối:
Bạch
mao phô lục thủy
Hồng
trạo bãi thanh ba.
Lông
trắng phơi giòng biếc
Sóng
xanh chân hồng bơi
Bản
dịch của THÍCH MẬT THỂ
Sư
giả nghe xong lấy làm ngạc nhiên và kính phục, không ngờ
nước Việt lại có lắm nhân tài. Qua những lần tiếp đãi
lịch sự của một thiền sư (Khuông Việt Thái sư đại diện
cho triều đình) đối với sứ giả một nước lớn là Trung
Hoa, Lý Giác càng lúc càng tỏ ra kính trọng vua nước ta, nên
ông đã viết tặng bài thơ:
Hạnh
ngộ minh thời tân thịnh du
Nhất
thân lưỡng độ xứ Giao Châu
Đông
đô tái biệt tâm lưu luyến
Nam
Việt thiên trùng vọng vị hưu
Mã
đạp yên vân xuyên lãng thạch
Xa
từ thanh chướng phiếm trường lưu
Thiên
ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu
Khê
đàm ba tịnh kiến thiềm thu.
Thiền
sư Mật Thể đã dịch bài thơ ấy ra tiếng Việt:
May
gặp minh quân giúp việc làm
Một
mình hai lượt sứ miền Nam
Mấy
phen qua lại lòng thêm nhớ
Muôn
dặm non sông mắt chửa nhàm
Ngựa
đạp mây bay qua suối đá
Xe
vòng núi chạy tới giòng lam
Ngoài
trời lại có trời soi sáng,
Vầng
nguyệt trong in ngọn sóng đầm.
Câu
thứ bảy của bài thơ tác giả có ý xưng tụng vua nước
Việt cũng như vua của họ. Thật là thần tình, chỉ do khẩu
khí thơ văn xướng họa mà đã làm chuyển đổi được vận
mệnh của cả nước đang từ thế yếu sang hẳn một thế
mạnh. Và, vì cảm mến đức hóa của người xưa, Lê Quí
Đôn, nhà bác học thế kỷ XVIII, đã hết lời ca tụng hai
vị thiền sư Ngô Chân Lưu, Đỗ Pháp Thuận:
"Câu
thơ của thiền sư Pháp Thuận, làm cho sứ giả nhà Tống phải
kinh dị; điện từ của đại sư Ngô Chân Lưu đã nổi danh
một thuở (Sư Thuận thi ca, Tống sứ kinh dị, Chân Lưu từ
điệu, danh chấn nhất thời) - Thiền Dật -
Thiền
sư Pháp Thuận được vua Lê tôn trọng như bậc quốc sư,
vua thường hỏi ngài về những việc bình trị quốc gia và
ngôi cửu ngũ dài vắn ra sao? - Thiền sư trả lời bằng một
bài thơ:
Quốc
tộ như đằng lạc
Nam
thiên lý thái bình
Vô
vi cư điện các
Xứ
xứ tức đao binh
Vận
nước như dây quấn
Trời
Nam mở thái bình
Niết
bàn trong điện ngọc
Đây
đó hết đao binh
Các
vị quốc sư, thiền sư đã đóng góp không nhỏ cho công trình
dựng nước và giữ nước, các ngài đã khai hóa nền văn
học quốc gia, đã giáo hóa toàn dân. Vốn saün có tinh thần
yêu nước cao độ, nhân dân ta lại được thấm nhuần giáo
lý Giác Ngộ Giải Thoát của Đạo Phật và đã lấy đó làm
chất men cho cuộc nổi dậy, chống lại sự thống trị của
người phương Bắc; giành lấy quyền độc lập tự chủ cho
quốc gia kéo dài hơn 5 thế kỷ, kể từ thời nhà Đinh trở
về sau (968 - 1504).
TÌM
HIỂU THÊM
Từ
trước năm 441 TL, cõi Giao Châu bị người phương Bắc đô
hộ; trong giai đoạn gian nan này Đạo Phật đã cùng với người
bản địa nỗ lực phấn đấu: bằng mọi cách quyết giành
lấy quyền độc lập tự do cho quốc gia Việt; nên năm 542,
ngươì anh hùng họ Lý (Lý Bí) quê ở Long Hưng (Thái Bình)
đã cùng với toàn dân đứng lên làm cuộc khởi nghĩa: đánh
đuổi tên Thái thú bạo tàn nhà Lương là Tiêu Tư và bè lũ
về Tàu, tự xưng là LÝ NAM ĐẾ (Vua Nước Nam), thiết lập
một triều đình Tự Chủ ở phương Nam, đặt quốc hiệu
là VẠN XUÂN, có nghĩa là nước Việt bền vững dài lâu,
đồng thời sáng lập một ngôi chùa lấy tên là KHAI QUỐC
(Mở Nuớc). Sau Lý Phật Tử lên kế vị năm 571 - 603 (mà lịch
sử gọi là Hậu Lý Nam Đế), ở ngôi 31 năm. Dưới triều
đại Lý Phật Tử, Ngài Tỳ-Ly-Đa-Lưu-Chi, người Nam Ấn Độ
sang Tây Thiên Trúc để khảo cứu Đạo Phật rồi qua cõi
Đông Đô, vào Trung Hoa, đến Trường An năm 574; cách sáu năm
sau (580) thì ngài qua đất Giao Châu, trụ trì chùa Pháp Vân
(Bắc Ninh), để truyền bá Thiền Học và dịch kinh "Tổng
Trì".
Năm
603, nhà Tuỳ cử Lưu Phương đem quân theo đường tây bắc
xuống xâm lăng nước ta. Lý Phật Tử chặn đánh quân Tuỳ
ở núi Ô Long (thuộc tỉnh Tuyên Quang), nhưng quân Tuỳ quá
mạnh; quân ta chống không lại. Giặc tiến vây thành Cổ Loa,
bắt Lý Phật Tử đưa về Tàu, rồi bặt vô âm tín, không
biết sau đó sống chết ra sao? Nước ta từ đó, lại một
lần nữa bị nội thuộc hết nhà Tuỳ đến nhà Đường (từ
năm 603 đến năm 906) cộng 304 năm.
Niên
hiệu Khai Hoàng thứ XIV nhà Tuỳ (594) Ngài Pháp Hiền họ Đỗ,
quê ở Chu Diên (Sơn Tây), khi mới xuất gia, thụ giới với
đại sư Quán Duyên ở chùa Pháp Vân. Đệ nhất Thiền tổ
Tỳ Ni Đa Lưu Chi khi mới thấy Pháp Hiền thì nhìn chăm chăm
vào mặt mà hỏi:
- Chú
họ gì?
Pháp
Hiền đáp:
-
Hoà thượng họ gì?
Thiền
sư lại hỏi lại:
-
Chú không có họ à?
-
Sao lại không có? Nhưng đố Hòa thượng biết?
Thiền
sư liền quát lên:
-
Biết để làm gì?
Ngài
Pháp Hiền chợt hiểu ý Đệ nhất thiền tổ Tỳ-Ly-Đa-Lưu-Chi,
liền sụp xuống lạy xin theo làm đệt tử và sau được truyền
tâm ấn.
(Đoạn
văn đối thoại trên dẫn theo sách Đại Nam thiền Uyển Truyền
Đăng Tập Lục. Microfilm Ecole francaise D'Extrême Orient A -2767.
No/Aout 1954)
Trong
giai đoạn này, các thiền sư là gạch nối giữa kẻ thống
trị (Trung Hoa) và người bị trị (Việt Nam), mà không gặp
bất cứ một trở ngại nào, cho nên: một mặt, đối với
kẻ thống trị thì khuyến cáo họ thực hiện hạnh từ bi,
biết tôn trọng nhân phẩm con người mà đừng gây khổ đau
cho nhau; mặt khác, đối với đồng bào đồng chủng đương
bị áp bức bởi nỗi khổ của người dân mất nước, thì
truyền đạt tư tưởng "giác ngộ, giải thoát và tự chủ"
để kích động lòng yêu nước, tạo chất men cho công cuộc
giành quyền tự chủ dưới các triều đại: Ngô Vương (939
- 944); Đinh Tiên Hoàng (968 - 980); nhà Tiền Lê (980 - 1009).
Sự
trao đổi văn hóa Phật giáo và các kiến thức tổng quát
giữa hai nước Việt - Hoa mỗi ngày một trở nên thắm thiết
tốt đẹp: vào thời đại Tuỳ - Đường, các thiền sư đất
Giao Châu sang thuyết pháp trong cung vua là chuyện thường tình,
rồi sau ở lại bên đó. Ngược lại, cũng có các vị thiền
sư và trí thức Trung Hoa qua Giao Châu hoằng đạo. Các thiền
sư Ấn Độ qua lại giữa hai nước Việt - Hoa cũng thường
ghé lại Giao Châu. Đạo Phật tại Giao Châu buổi ấy, nhiều
lúc long thịnh hơn hẳn Trung Hoa. Các vua Văn Đế (nhà Tuỳ),
Cao Tổ (nhà Đường) đều hướng về Đạo Phật Việt, cúng
dường những hòm (rương) lễ vật và xá lợi; đồng thời
còn truyền lệnh cho các quan lại phải phụng mệnh thánh chỉ
tạo dựng lại chùa, tháp ở Giao Châu. Tuy nhiên, về phương
diện giáo pháp chính truyền thì Đạo Phật Việt lại trực
tiếp thụ nhận tinh hoa giáo lý do chính các nhà sư Ấn độ
truyền vào. Các thiền sư Giao Châu vừa thông hiểu Phạm văn
và cả Hán văn nên đã giúp các sư Ấn độ những phương
tiện cần thiết để tới Trung Hoa giảng đạo hoặc ngược
lại, đón nhận các thiền sư Ấn Độ từ Trung Hoa vào Giao
Châu.
Hiểu
đặc tính văn hóa phương Bắc không ai khác hơn là các thiền
sư đất Giao Châu. Ngay chính bên Trung Hoa, hay nơi nước Việt
cũng vậy, các thầy đi hoằng hóa giữa hai nước, thường
đem tư tưởng "Tự Chủ" của Đạo Phật phổ biến trong quần
chúng nhắm chống lại tư tưởng nô dịch của người phương
Bắc muốn đồng hóa các dân tộc nhỏ bé. Hay nói rõ hơn
là, các sư Việt Nam đã chịu ảnh hưởng trực tiếp nguồn
văn hóa Phật giáo Ấn Độ khai hóa cho mình.
Luận
cứ trên đây được chứng minh cụ thể bằng sự trỗi dậy
của LÝ NAM ĐẾ năm 542, lập nên nhà Tiền Lý độc lập đầu
tiên ở nước ta; kế KHÚC THỪA DỤ (thuộc quý tộc) bằng
cách tự xưng tiết độ sứ mà nhà Đường sau đó bất đắc
dĩ phải thừa nhận; và cuộc khởi nghĩa năm 939 của NGÔ
QUYỀN là những sợi dây nối kết giữa giới quí tộc (nhưng
bất lực trước thời cuộc lúc ấy.) với giới bình dân
(chưa ý thức rõ vai trò của mình) mà điểm tựa chính yếu
phải nhờ vào giới trung gian thứ ba là các thiền sư, vốn
rất khôn khéo một cách tế nhị đã kết hợp nổi hai giới
(quí tộc và bình dân) gần lại với nhau: tạo thành phong
trào lớn mạnh mà năm 938, nhân dân ta, dưới sự chỉ đạo
của ngô quyền, đã chiến thắng đạo quân hung hãn do thái
tử Hoàng Thao chỉ huy bị chết trên sông Bạch Đằng, khiến
cho vua tôi nhà Nam Hán khiếp sợ, không dám coi thường người
Việt nữa. Kể từ đấy chấm dứt nạn đô hộ của người
phương Bắc trên đất nước ta suốt một nghìn không trăm
ba mươi mốt (1031) năm.
Có
điều này thiết tưởng người Việt cũng cần tìm hiểu là:
Vị sơ tổ của Đạo Phật Việt Nam khác với vị sơ tổ
của Thiền Tông Việt Nam. (Có lẽ) Đạo Phật Việt không
hẳn chịu ảnh hưởng của dòng Thiền Tỳ-Ni-Đà-Lưu-Chi chỉ
mới hiện diện trên đất Giao Châu vào năm 580 - tức cuối
triều đại Lý Phật Tử (Hậu Lý Nam Đế) đương trị vì
nước ta - Khoảng 603 - 604 ở Giao Châu (buổi ấy) đã có quan
thái thú là LƯU PHƯƠNG, dâng sớ về nhà Tuỳ, tâu rằng:
"Cõi
Giao Châu ngày nay dân chúng rất tôn sùng Đạo Phật lại có
nhiều vị danh tăng giáo hóa nên bốn phương thảy đều qui
y"
Như
vậy là chỉ có khoảng 23 hay 24 năm mà "bốn phương thảy
đều qui y". Hơn nữa, chỉ trong một thời gian ngắn sau này
(618) nhà Tùy đổ, nhà Đường lên thay, thì ở Giao Châu đã
có rất nhiều thiền sư biết chữ Phạm và cả chữ Nho, cả
thảy có sáu ngài xuất dương du học tại Ấn Độ. Như vậy,
có thể khẳng định rằng: Trước khi Đệ nhất thiền tổ
Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi tới nước ta truyền bá Thiền học thì Đạo
Phật Việt đang trên đà phát triển rực rỡ.
Và,
trước cả ngài Mâu Bác, chắc chắn phải có các thiền sư
khác đã có mặt tại Giao Châu. Ngài Mâu Bác là một trong
bốn vị đến nước ta vào cuối thế kỷ II. Nhưng ngài Mâu
Bác, khi đến Giao Châu với người mẹ, thì tại nơi đây
đã có Đạo Phật cũng như nền tín ngưỡng dân gian đều
đã xuất hiện trên đất Giao Châu.
Ngài
Mâu Bác là người Trung Hoa, thông hiểu Lão giáo, Nho giáo của
người Trung Hoa nên chưa chắc là ngài đã gây được sự
hưng thịnh của Đạo Phật Việt. Thật rõ ràng nếu muốn
tìm hiểu vị Sơ tổ của Phật giáo Việt Nam thì điều rất
hữu lý là phải tìm từ năm 111 tr TL, hoặc từ năm 194 là
năm Mâu Bác qua Giao Châu trở về trước. Mà vị sư tổ đó
phải là người Ấn Độ, và là vị đã gây ý thức giác
ngộ tinh thần tự chủ cho người Việt quật khởi để tự
cường !
Đạo
Phật Việt, ở thời kỳ này còn có Tông VÔ NGÔN THÔNG. Tông
này rất chú trọng đến vấn đề hoằng hóa truyền thừa,
ít khi có sự cẩu thả trong khi truyền pháp hoặcấnchứngchoai.
Chính ngài Nam Nhạc, khi sắp tịch, có dạy: «"Phi ngộ thượng
căn thận vật khinh hứa: nghĩa là không gặp các bậc thượng
căn thì chớ có truyền bậy! Ngài Vô Ngôn Thông qua Việt Nam
năm 820, cách rất xa ngài Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (580). Do đó sự
giáo hóa của ngài chắc sẽ chẳng gây được ảnh hưởng
bao nhiêu, trong một thời gian quá ngắn, hầu giúp tạo sự
lấy lại độc lập cho quốc gia Việt, dưới triều Ngô Quyền.
Ở đây có thể tạm kết luận: Đạo Phật Việt trong thời
kỳ đầu truyền bá chính pháp tại Văn Lang - Âu Lạc (rất
có thể) từ đời Hùng Vương hoặc ít ra cũng từ trước
kỷ nguyên Tây lịch.
Lịch
Sử Việt Nam, tập 1, nhận định: dưới hai triều đại nội
thuộc Tùy - Đường (từ năm 603 đến năm 906) Đạo Phật
ở nước ta rất hưng thịnh.
"Dưới
thời Tùy Đường, hai phái Thiền tông của Phật giáo Trung
Quốc được du nhập vào nước ta. Phái thứ nhất (do Tỳ-Ni-Đà-Lư-Chi
cầm đầu) truyền bá vào cuối thế kỷ VI, trung tâm là chùa
Pháp Vân (Thuận Thành, Hà Bắc). Phái thứ hai (do Vô Ngôn Thông
cầm đầu) truyền bá vào đầu thế kỷ IX, trung tâm là chùa
Kiến Sơ (Phù Đổng, ngoài thành Hà Nội).
"Lúc
này ở nước ta đã có nhiều chùa lớn (88 chùa ở Giao Châu),
có chùa có số sư tới vài trăm; đã xuất hiện nhiều cao
tăng người Việt. Chùa là một tổ chức trang viện, có nhiều
ruộng đất và điền nô. Như vậy ở nước ta bấy giờ đã
hình thành một lớp tăng lữ là tầng lớp trí thức trọng
yếu. Nhiều vị sư đã vượt biển sang Thiên Trúc cầu đạo,
thỉnh kinh và sang Trường An giảng kinh cho vua Đường" (Sđd,
tr 127).
Theo
sử gia Trần Văn Giáp khảo cứu trong cácsách cho biết là
"về đời Đường có ba đoàn truyền giáo ở nước ta. Đoàn
thứ nhất có ba người Tàu; đoàn thứ hai cũng có ba người
Tàu và một là người Trung Á; đoàn thứ ba: có sáu pháp sư
An Nam mà bốn người ở Giao Châu (Hà Nội và nam Định) và
hai người ở Ái Châu (Thanh Hoá bây giờ)" - Le Bouddhisme en
Annam, trang 31 - Danh sách ba đoàn truyền giáo, xem trang 55.