ĐẠO
PHẬT TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN HẬU
BÁN
THẾ KỶ XX
Đạo
Phật đời nhà Trần, về phía xuất gia có đức vua Điều
ngự Giác Hoàng, tôn giả Pháp Loa, tôn giả Huyền Quang lập
thành Thiền pháp Trúc Lâm Yên Tử; về phía cư sĩ có các
vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Anh Tông, Trần Minh
Tông và ngài Tuệ Trung thượng sĩ… đều là những Phật
tử chân chính, hết lòng hoằng dương chính pháp làm cho Đạo
Phật sáng rỡ một thời; nhưng cuối đời Trần thì Đạo
Phật mất dần thanh thế. Cho mãi tới thời Trịnh – Nguyễn
(1576-1786), tuy có đôi lúc được hưng hiển nhưng đấy chỉ
như những vì sao rời rạc lấp lánh trên bầu trời vẩn mac
tỏa ánh sáng chiếu soi xuống cõi trần gian mù mịt tối tăm
này!
Phật
giáo suy thoái từ cuối đời Trần Hiển Tông (1329-1341) và
tiếp theo các đời Trần Dụ Tông (1358-1369); Trần Nghệ Tông
(1370-1372); Trần Duệ Tông (1373-1377); Trần Phế Đế (1377-1388);
Trần Thuận Tông (1388-1398); Trần Thiếu Đế (1398-1400). Tiếp
đó là nhà Hồ thay nhà Trần (nhà Hồ làm vua được hai đời,
trị vì bảy năm (1400-1407). Sau đó nước ta, suốt hai mươi
năm bị nội thuộc nhà Minh (1408-1428)1.
Ngày
29 tháng 4 năm 1428, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, chấm
dứt cảnh nội loạn ngoại xâm, Lê Lợi chính thức lên ngôi
vua, trị vì sáu năm thì mất (1428-1433). Các vua kế nghiệp
là Lê Thái Tông (1434-1442); Lê Nhân Tông (1443-1459); Lê Thánh
Tông (1460-1497); Lê Hiến Tông (1498-1504); Lê Túc Tông (1504)
và Lê Uy Mục (1505-1509); Lê Tương Dực (1510-1516); Đà Dương
Vương (1516-1522) và Lê Cung Hoàng (1522-1527) gồm mười đời,
trị vì 99 năm (1428-1527). Rồi nhà Mạc diệt nhà Lê. Nhà Mạc
làm vua được năm đời, trị vì 65 năm (1527-1592) (Lịch sử
gọi thời kỳ này là thời Nam Bắc triều Lê – Mạc).Tiếp
đến thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, kể từ đời
vua Lê Kính Tông (1600) trở về sau, hai họ Trịnh – nguyễn
đánh nhau cả thảy bảy lần, kéo dài 45 năm (1627-1672), khiến
cho dân chúng đói khổ lầm than, đất nước bị chia cắt:
họ Nguyễn hùng cứ phương Nam, họ Trịnh xưng chúa phương
Bắc; tuy còn vua, nhưng quyền hành về cả hai chúa. Sau đó,
trong nam có Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy; ngoài Bắc
thì có kiêu binh làm loạn…
Năm
1786, nguyễn Huệ, lấy danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh", kéo
quân ra Bắc dệt họ Trịnh xong, trao quyền hành lại cho nhà
Lê, nhưng vua mẫn Đế (Chiêu Thống) nhu nhược, triều thần
lại thiếu người có tài kinh luân (đến nỗi) để cho Trịnh
Bồng và nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau chuyên quyền. Vua Càn
Long (nhà Thanh) nhân đấy mượn cớ cứu nhà Lê, sai bọn Tôn
Sĩ nghị, Sầm nghi Đống, Hứa Thế hanh đem quân sang giữ
thành Thăng Long; phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.
Việt
Nam Sử Lược chép: "Nhà Lê, kể từ vua Thái Tổ (Lê Lợi)
khởi nghĩa, đánh đuổi quân nhà Minh về Tàu, lập lại nền
tự chủ cho nước nhà, truyền đến vua Cung Hoàng thì bị
họ Mạc cướp ngôi. Sau nhờ có họ Trịnh1 và họ Nguyễn2
giúp đỡ, nhà Hậu Lê trung hưng lên, truyền đến vua Chiêu
Thống, tức là Mẫn Đế, thì hết".
Nhà
Lê, kể cả Tiền Lê và Hậu Lê, trị vì 360 năm (1428-1788)
nhưng từ khi trung hưng trở về sau, nhà Lê bị học Trịnh
hiếp chế, nên vừa có vua lại vừa có chúa. Vua ngồi làm
vì. Chúa giữ cả mọi quyền bính. Đến khi nghiệp chúa suy
thì ngôi vua cũng đổ theo!
Cuối
năm 1788, Bắc bình vương Nguyễn Huệ được các tướng sĩ
tôn lên làm vua, rồi tự mình thống lĩnh đại binh, từ Thanh
Hóa dẫn mười vạn quân và hơn 100 voi ra dẹp giặc thanh.
Ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), đoàn quân của vua Quang
Trung đánh thành Thăng Long, các tướng Hứa Thế Hanh, Trương
Sĩ Long, Trương Duy Thăng đều tử trận. Sầm Nghi Đống dóng
quân ở Đống Đ, phải tự thắt cổ chết. Còn quân sĩ nhà
Thanh sỡ hãi bỏ chạy, dẵm đạp lên nhau mà chết, "xác nằm
ngổn ngang như gò đống, máu chảy như thác nước"
Để
ca tụng chiến công hiển hách năm 1789 của dân tộc ta đại
thắng quân Thanh, nhà thơ đương thời Ngô Ngọc Du đã sáng
tác bài thơ:
"Giặc
đâu tàn bạo sang điên cuồng,
Quân
vua một giận oai bốn phương.
Thần
tốc ruổi dài xông thẳng tới,
Như
trên trời xuống ai dám đương.
Một
trận rồng lửa giặc tan tành,
Bỏ
thành cướp đò trốn cho nhanh.
Ba
quân đội ngũ chỉnh tề tiến,
Trăm
họ chật đường vui tiếp nghênh.
Mây
tạnh mù tan trời lại sáng,
Đầy
thành già trẻ mặt như hoa.
Chen
vai khoác cánh cùng nhau nói:
Kinh
đô vẫn thuộc núi sông ta".
Về
sau bọn khách trú ở Thăng Long làm đền thờ Sầm Nghi Đống
ở ngõ Sầm Công, phố hàng Buồm, Hà Nội, nữ sĩ Hô Xuân
hương có thơ vịnh rằng:
"Ghé
mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa
đền thái thú đứng cheo leo.
Ví
đây đổi phận làm trai được,
Thì
sự anh hùng há bấy nhiêu?"
Vua
Quang Trung NGUYỄN HUỆ khi đã dẹp yên giặc Thanh, thống nhất
đất nớc, lập nên nhà nguyễn (Tây Sơn), nhưng cách 4 năm
sau (1788-1792) thì ông mất, con là Nguyễn Quang Toản mới 10
tuổi, được triều đình tôn lên làm vua, xưng đế hiệu
là Cảnh Thịnh, để kế nghiệp cha. Đến năm 1802, nguyễn
Phúc Aùnh diệt nhà Tây Sơn, lập nên nhà nguyễn.
CÁC
CHÚA DÒNG HỌ TRịNH ĐốI VớI PHậT GIÁO
Họ
Trịnh, kể từ Trịnh Tùng đến Trịnh Khải, gồm mười đời
trị vì 216 năm (1570-1786), dưới thời vua Lê Thế Tông (1578-1599),
có thiền sư Thủy nguyệt, tu ở núi Hùng Lĩnh, Việt nam, qua
Trung Hoa, tham học với Hòa Thượng Trí Giác Nhất Cú (người
Trung Hoa), khi đắc pháp trở về nước, sáng lập phái Tào
Động. sau ngài Thủy nguyệt truyền cho ngài Tông Điển v.v…
Khoảng
đời vua Lê Hy Tông (1676-1707), ở bắc Kỳ lại có thêm một
Bphái Liên Tông, do ngài Lân Giác thành lập tại chùa Liên
Phái (Bạch Mai, Hà Nội). Ngài Lân Giác là đệ tử của thiền
sư Chính Giác, ngài Chính Giác là đệ tử của ngài Minh Lương,
ngài Minh Lương là đệt tử của hòa thượng Chuyết Công,
người Trung Hoa1tức là chi phái của phái Lâm Tế. Vậy ở
Hà Nội hiện nay có hai dòng thiền:
a.
Thiền sư Thủy nguyệt lập ra phái Tào Động.
b.
Ngài Lân Giác, một vương công đời chúa Trịnh, lập pháp
Liên Tông (chi phái Lâm Tế).
Cả
hai thiền phái kể trên đều là chi phái của dòng thiền Bồ
Đề Đạt ma (hai trong 5 chi phái:
Lâm
Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn và ngưỡng Sơn, cũng gọi
là Qui Sơn), ứng với câu : "Nhất hoa hiện thụy, ngũ diệp
lưu phương".
Từ
vua Lê Hy Tông trở về sau, qua bốn đời vua kế tiếp, vua
Dụ Tông đến vua ý Tông (trong khoảng thời gian từ 1678 đến
1740 các chúa đã kiến tạo những chùa, tháp – theo VNPGSL:
-Năm
Vĩnh Thịnh thứ XV (1719), chúa Trịnh Cương sức cho dân ba
huyện Gia Định, Lương Tài, Quế Dương trùng tu chùa Phúc
Long. Làm xong chùa, chúa miễn thuế một năm cho ba huyện ấy.
Chùa Phúc Long ở về làng Lãng Ngâm, huyện Gia Định (Gia Bình)
do chúa Trịnh Tráng dựng từ năm Phúc Thái thứ VI (1646).
-Năm
Bảo Thái thứ VIII (1727), chúa Trịnh Cương sai nội giám lập
chùa Thiên Tây (ở làng Sơn Bình, huyện Tam Dương, về địa
phận núi Tam Đảo) và chùa Độc Tôn (ở làng Cát Nê, huyện
Phổ An, tỉnh Thái Nguyên) để khi chính sự rảnh rỗi chúa
ra nghỉ tại đó.
-Năm
Vĩnh Khánh thứ II (1730), chúa Trịnh Giang sức dân ba huyện
Đông Triều, Thủy Đường, và Chí Linh trùng tu chùa Quỳnh
Lâm và chùa Sùng nghiêm. Dân phu 6.000 người làm luôn ngày
đêm đến một năm mới xong.
-Năm
Vĩnh Hựu thứ III (1731), chúa Trịnh Giang dựng tượng Phật
lớn để thờ ở chùa Quỳnh Lâm, sắc cho các quan thay phiên
đến làm lễ. Cũng trong khỏang niên hiệu Vĩnh Hựu thứ V
(1735-1739), ngài Trạm Công vâng sắc vua qua nước Đại Minh,
tham yết hòa thượng Kim Quang, tu ở non Đỉnh Hồ, thỉnh được
nhiều kinh điển đem về để tại chùa Càn An.
-Đến
năm Cảnh Hưng nguyên niên (1740), đời vua Hiển Tông, chúa
Trịnh Giang lại tịch thu chuông các chùa để đúc binh khí.
-Năm
Cảnh Hưng thứ XXXII (1771), chúa Trịnh Sâm –sau khi dẹp yên
giặc ở xứ Bắc, lấy đất Thuận Hóa và đất Quảng Nam
của chúa nguyễn –dựng chùa Tiên Tích ở ngoài cửa Đẹi
Hưng (thuộc làng Nam ngự, huyện Thọ Xương, Hà Nội, nay là
phố Hàng Lọng).
-Năm
Chiêu Thống, nguyên niên (1787) lại tịch thu các đồ đồng
ở chùa để đúc tiền.
Ngoài
việc phát triển hai phái Thiền như vừa kể, dưới sự hộ
pháp của chúa Trịnh: kiến thiết và trùng tu tự viện, tô
tượng, đúc chuông, thỉnh Đại Tạng Kinh v.v.. Cao Tăng bấy
giờ cũng khá đông, như các ngài: HUỆ ĐỒNG, VIÊN CẢNH,
VIÊN KHOAN, HƯƠNG HẢI, TOÀN NHẬT…
Trong
khi Đạo Phật Bắc Hà trỗi dậy thì Đạo Phật ở Nam Hà
cũng hưng phát.
NHÀ
NGUYỄN ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
Nguyễn
Hoàng vốn người nhân đức và rất sùng tín Đạo Phật,
nên khi vào trấn ở Thuận Hóa, được nhân dân ở đây thường
gọi ông là Chúa Tiên. Chúa là người trước tiên khơi nguồn
tín ngưỡng Phật Giáo ở miền Trung. Trong khoảng 13 năm trị
vì (1600-1613) chúa đã dựng những chùa: Thien Mụ (1601) ở
Huế; chùa bảo Châu (1607) ở Trà Kiều (Quảng Nam); chùa Kính
Thiên (1609) ở Quảng Bình (đời Minh Mệnh đổi tên là Hoằng
Phúc). Chúa mất năm 1613, thọ 89 tuổi.
Người
con thứ sáu của Nguyễn Hoàng là nguyễn Phúc nguyên lên kế
nghiệp cha (1613-1635), đương thời gọi là chúa Sãi. Năm 1629,
Đào Duy Từ hiến kế lập đồn Trường Dực (Quảng Bình)
và xây lũy đài ở cửa Nhật Lệ (Đồng Hới), ngăn đôi
nước Việt Nam. Kể từ đấy, chúa nguyễn cắt đứt việc
cống nạp đối với chúa Trịnh.
Họ
Nguyễn Xưng Chúa và Mở Mang Phần Đất Ở Việt Nam.
Năm
1558, nguyễn Hoàng (con thứ hai của Nguyễn Kim), làm tướng,
lập được nhiều công và được vua Lê Thế Tông phong làm
Thái úy đoan quân công. Oâng vận động với chị là Ngọc
Bảo để nhờ Trịnh Kiểm tâu lên vua Anh Tông (nhà Lê) cho
vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Khi Nguyễn Hoàng vào trấn
ở Thuận Hóa, lãnh thổ nước ta lúc ấy đã gồm tới đèo
Cù Mông (Bình Định) kể từ gần 100 năm rồi. do đó, sự
thôn tính phần đất Chiêm Thành còn lại, do Nguyễn Hoàng
và con cháu, không khó khăn như xưa nữa.
Năm
1611, nguyễn Hoàng đem quân đánh lấy phần đât1 từ đèo
Cù Mông xuống đến Phan Rang, tức tỉnh Khánh Hòa ngày nay.
Năm
1693, chúa nguyễn Phúc Chu thôn tính nốt phần đất của Chiêm
Thành đến Bình Định.
Trước
khi nước Chiêm Thành hoàn toàn bị tiêu diệt, Việt Nam đã
bắt đầu di dân tới hai địa điểm bỏ hoang, thuộc lãnh
thổ Chân Lạm Khmer cũ là Mô Xoài (Bà Rịa) và Đồng Nai (Biên
Hòa).
Từ
thế kỷ XV, nước Chân Lạp nội loạn và sự quấy phá của
Tiêm La (Thái Lan) đã bắt đầu suy yếu.
Năm
1658, cuộc khủng hoảng nội bộ trầm trọng đến nỗi vua
nước đó phải xin thần phục chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần).
Rồi, kế tiếp làn sóng người Việt, trên đường nam tiến,
cứ mỗi ngày thêm đông hơn.
Năm
1698, nhân nước Chân Lạp có nội loạn, chúa nguyễn Phúc
Chu lấy cớ là vua nước ấy thất hứa, không theo lệ tirều
cống, liền sai ông nguyển Hữu Cảnh làm kinh lược đất
Chân Lạp, rồi thừa cơ hội chính thức lập vùng đất –
do người Việt và người Hoa đã tới khai khẩn lập nghiệp
ở đây – làm hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phán trấn
(Gia Định) mà hiện nay là cá tỉnh miền đông Gia Định,
Long An và một phần đất của Định Tường.
Năm
1759, đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, các tỉnh Tiền Giang, Hậu
Giang lại được đặt làm phủ huyện Việt Nam. Ngoại trừ
An Xuyên, Hà Tiên và Kiên Giang do Mạc Thiên Tứ chiếm cứ
và mở mang, dù đã được thuộc quyền nhà nguyễn từ năm
1708, nhưng mãi đến năm 1780, Việt Nam mới thực sự thu hồi
3 tỉnh An Xuyên, Hà Tiên và Kiên Giang sáp nhập hẳn vào lãnh
thổ Việt Nam.
Phật
giáo Đàng Trong, từ sông Giang trở vào Nam, phần lớn chịu
ảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa, do các ngài TẾ VIÊN, GIÁC
PHONG v.v.. đều là người Tàu đem Đạo Phật truyền bá ở
Trung Kỳ nước ta.
Đến
đời chúa thứ tư là Nguyễn Phúc Tần (1648-1687) lại có các
thiền sư như hòa thượng Thọ Tôn, pháp danh NGUYÊN THIỀU,
từ Trung Hoa qua Việt Nam, ban đầu trác tích ở phủ Quy Ninh
(Bình Định), truyền bá chính pháp và sáng lập chùa Thập
Tháp Di Đà, sau ra Thuận Hóa lập chùa Quốc Aân và dựng tháp
Phổ Đồng (?), hoằng truyền phái Lâm Tế. Phật giáo Trung
Kỳ (và cả Nam Kỳ nữa), coi ngài là vị sơ tổ của dòng
thiền Lâm Tế. Tiếp theo ngài Nguyên Thiều là các ngài Minh
Hoằng Tử Dung, khai sơn chùa Aán Tông, tức chùa Từ Đàm ở
Huế; ngài Minh Hải Pháp Bảo, khai sơn chùa Chúc Thánh ở Quảng
Nam, và ngài Minh Vật Nhất Trí, Minh Giác Kỳ Phương v.v..
Đời
chúa nguyễn Phúc Chu (1691-1725), ngài Nguyên Thiều có lần cùng
với sứ nhà nguyễn, được sự ủy nhiệm của chúa qua Trung
Hoa, mời các bậc danh tăng và thỉnh kinh sách, pháp khí v.v..
Trong số các bậc danh tăng nhận lời mời tới Việt Nam có
hòa thượng Thạch Liêm Đại Xán (thuộc phái Tào Động) .
Cuộc khởi hành sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm Aát Hợi,
niên hiệu Khang Hy thứ XXXIV (1695), đến Thuận Hóa ngày 1 tháng
2, Hòa thượng đươcï chúa Nguyễn tiếp đón nồng hậu
và rước về chùa Thiến Lâm. Ngày 1 tháng 4 năm Aát Hợi (1695),
chúa lập đại giới đàn ở chùa Thiên Mụ, cầu thỉnh Hòa
thượng truyền thụ giới pháp cho 1.000 giới tử, gồm những
người thụ Sa di, Tỳ khưu và Bồ tát và được hòa thượng
Thạch Liêm đặt pháp danh là Hưng Long, hiệu "Thiên Túng Đạo
Nhân".
Sau
đó, Hòa thượng về tàu. Nhân có dịp tàu buôn qua Việt Nam,
ngài có gửi chúa Nguyễn Phúc Chu một bức thư và một bài
thơ. Nguyên văn:
"Nhất
giang yên lãng, đạo cách trung vân;
Bát
đổ xuân phong, tuyết thiên hoa mấn.
Sổ
nhân gian chi hạ lạp,
Ưùc
thiên ngoại chi nhân duyên;
Dao
trì duy điện bồ đaòn,
Dĩ
chứng hoàng mai tiêu tức.
Viên
khiển độ giang chi vĩ,
Thiểu
thân súc địa chi hoài.
Dạ
nguyệt thông triều, trì lai viễn tín;
Tân
thi ký tặng, quí pháptrường ngôn".
Thi
viết:
"Đông
phong tân lãng mãn giang tần,
tưởng
kiến hồ sơn vũ lộ tân.
Tự
thị dương hòa qui thảo mộc,
Thái
bình nhân túy hải thiên xuân"
Trời
bể muôn trùng, nước mây cách trở;
Xuân
về mấy độ, làn tóc nửa sương.
Bấm
tay nghĩ chuyện nhân gian,
Chạnh
nhớ mối tình thiên ngoại.
Tưởng
chừng dưới chiếu bồ đoàn,
Đã
tỏ hoàng mai lối cũ.
Thuyền
lan tiện gió,
Thấu
chỗ nhớ nhung.
Sóng
vỗ trăng ghềnh, mây đua tin nhạn;
Mấy
lời quê cạn, tỏ chút u hoài.
Thơ
rằng:
Sóng
rỡn hoa tần phát gió đông.
Đỉnh
hồ tưởng thấy hạt mưa nhuần.
Cỏ
cây vui dưới trời êm dịu,
Người
ngắm thăng bình tắm bể xuân.
bản
dịch THÍCH MẬT THỂ, VNPGSL -
Ngoài
phái Nguyễn Thiều ra, vào đầu thế kỷ XVII, Phật Giáo Trung
Kỳ lại có thêm một dòng thiền nữa, tức chi phái Liễu
Quán.
Đời
chúa Nguyễn Phúc Chu năm 1711, sau khi đã trùng tu chùa Thiên
Mụ xong, chúa cho đúc quả chuông lớn, nặng 3.285 cân đồng
để tại chùa.
Khoảng
những năm 1738-1744, chúa Nguyễn Phúc Khoát, lại sức trùng
tu chùa Thiên Mụ rất là tráng lệ và sai sứ qua Trung Hoa thỉnh
Da95I Tạng Kinh hơn 1.000 bộ về để tại chùa. Các chúa kế
tiếp cũng rất sùng kính Đạo Phật.
Từ
đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) Đạo Phật đã truyền
bá vào đất Nam Kỳ.
Những
ngôi chùa cổ như: chùa Vạn An, ở Phước Tuy, kiến tạo năm
1711; chùa Tam Bảo, ở Hà Tiên, do Mạc Cửu lập khoảng những
năm 1708-1725; chùa Hộ Quốc, ở Biên Hòa, lập năm 1735. Và
đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, chùa Giác Lâm, ở Sài Gòn –
Chợ Lớn, kiến tạo năm 1744.
Sang
đời Nguyễn, Gia Long thứ XIV (1815), vua Thế Tổ sắc sửa
lại chùa Thiên Mụ. Và năm Minh Mệnh thứ VI (1826), vua Thánh
Tổ sắc lập lại chùa Thánh Duyên (chùa dựng từ đời chúa
nguyễn Phúc Chu, 1691-1725). Năm Thiệu Trị thứ IV (1844), vua
Hiến Tổ, vâng di chúc của Thánh Tổ (Minh Mệnh) sắc xây
ở chùa Thiên Mụ một tháp lớn bảy tầng, gọi là "Phúc
Duyên Bảo Tháp". Cũng trong năm ấy, vua sắc lập chùa Diệu
Đế ở trung tâm thành phố Huế. Chùa nhìn ra con sông Hương
quanh năm nước trong suốt, không gợn chút vẩn đục – một
cảnh đẹp ở xứ thần kinh thơ mộng!
Nói
chung, Phật Giáo đời Nguyễn, từ chúa Nguyễn Hoàng đến
Bảo Đại, trong hơn ba trăm năm (1600-1954), tuy các vua, chúa
hết lòng sùng kính Đạo Phật, nào xây chùa, dựng tháp, tô
tượng đúc chuông… nhưng Phật Giáo trong giai đoạn này,
vẫn chỉ thu hình trong phạm vi tín ngưỡng cổ truyền…,
chứ thực chất thì Phật Giáo đời Nguyễn đã giản ước
lắm!
Vào
giữa thế kỷ XVI, khi nước ta có mầm mống phân tranh thì
Thiên chúa giáo cũng bắt đầu truyền vào Việt Nam. Theo Khâm
Định Việt Sử: đời vua Lê Trang Tông, niên hiệu Nguyên Hòa
nguyên niên (1533), Ky Tô giáo bắt đầu truyền vào Việt Nam,
do người Tây tên là I-Nê-Khu, đi đường bể vào giảng đạo
ở làng Ninh Cường, xã Quần Anh (Hải Hậu, NĐ). Và năm 1626,
đời vua Lê Thần Tông, giáo sĩ Baldinoti tới Bắc Kỳ giảng
đạo, chúa (Trịnh Tráng) không cho, phải bỏ đi. Nhưng, sau
đo, có Jean Rhodes, từ Nam ra bắc yết kiến chúa Trịnh, được
chúa cho phép ở lại kinh đô giảng đạo.
Sách
Nam Sử của Trương Vĩnh Ký chép: "Năm 1596, đời chúa Nguyễn
Hoàng, có giáo sĩ Diogo Adeverte, người Tây Ban Nha (Espagne) tới
giảng đạo chúa ở Đàng Trong. Năm 1615, đời chúa Sãi (Nguyễn
Phúc Nguyên), có giáo sĩ P. Busomi và năm 1624, có giáo sĩ
Jean Rhodes là người Pháp Lan Tây (France) đến giảng đạo
và lập ra giáo đường ở Phú Xuân.
Từ
khi các nước tư bản và đoàn truyền giáo phương Tây như
Pháp, Anh, Bồ Đào Nha (Portugal), Hòa Lan (Hollande)… đã mở
rộng hoạt động, và có chủ ý xâm lăng nước ta sau này.
Tháng 7 năm 1783, Nguyễn Aùnh, bị quân Tây Sơn vây ở Côn
Lôn, may chạy thoát được về Phú Quốc. Đến cuối năm sau
(1784) thì Nguyễn Aùnh nhờ Giám mục Bá Đa Lộc1 , người
Pháp, làm trung gian dẫn con trai (tên là Cảnh) và mang một
văn thư gưỉ chính phủ Pháp nhờ giúp 1500 quân, tàu bè, súng
đạn… và ngày 28-11-1787, ông Bá Đa Lộc và thượng thư ngoại
giao bộ Montmorin, đại diện chính phủ Pháp ký bản Hiệp
ước Versailles, gồm 10 khoản, nội dung chủ yếu là: "Vua nước
Pháp bằng lòng giúp –theo thư yêu cầu của nguyễn Aùnh –với
điều kiện: Nguyễn vương phải nhường hẳn cho Pháp đảo
Côn Lôn (Poulo-Condore), cửa bể Hội An (Faifo) và cam kết để
cho nước Pháp với một nước ở phương Đông". Ngày 8 tháng
12 năm 1787, ông Bá Đa Lộc vào bái tạ hoàng đế Louis XVI,
rồi đem hoàng tử Cảnh xuống tàu trở lại Việt Nam.
Năm
1851, Tự Đức năm thứ IV, nghĩa là từ khi có tờ DỤ2 cấm
đạo lần thứ hai, chính phủ Pháp liền sai ông Leheur de Ville-Sur-Arc
đem chiến binh "Catinat" vào cửa Đà Nẵng, rồi cho người
đem thư trách chính quyền Việt nam về việc cấm đạo. Cuối
năm 1856, Tự Đức năm thứ IX, sứ thần nước Pháp là ông
Montigny tới cửa Đà Nẵng, cho người đưa thư xin triều đình
nhà Nguyển cho người Pháp được đi lại thông thương và
đặt lãnh sự ở Huế cùng cho giáo sĩ được tự do giảng
đạo.
Sách
Nam Kỳ Sử Ký (Histoire de la Cochinchine) chép: "ông giáo thành
Rouen là Mgr de Bonnechose và bà hoàng hậu cũng có ý giúp ông
giám mục Pellerin, nên Pháp hoàng Napoléon đệ tam mới quyết
ý sai quan đem binh thuyền sang đánh nước Việt nam" (theo VNSL).
Sách
Thập Giá và Lưỡi Gươm: "Hai nhân vật quan trọng trong việc
cổ vũ việc Pháp xâm lăng Việt Nam là giám mục Pelơranh (Pellerin)
của quan địa phận Huế và linh mục Húc, cựu thừa sai truyền
giáo. Giám mục Pelơranh đã khẳng định trước mặt triều
đình Napoléon III rằng: "Nếu quân Pháp đánh chiếm nước
này, thì giáo dân bản xứ sẽ tiếp đón họ như những kẻ
cứu tinh". Linh mục Húc cũng viết thư cho vua rằng: "Chiếm
lấy Nam Kỳ là việc dễ dàng nhất trần gian, nó sẽ đem
lại những kết quả vô cùng to lớn. Nước Pháp hiện có
tại biển Trung Quốc những lực lượng dư sức để tiến
hành công việc đó. Dân bản xứ thì hiền lành, siêng năng,
rất dễ đón nhận đức tin Kytô giáo và đang rên xiết dưới
ách tàn bạo ghê gớm. Họ sẽ tiếp đón chúng ta như nhựng
người giải phóng, những vị ân nhân. Chỉ cần ít lâu thôi
là đem họ theo đạo được hết và làm cho họ nhiệt tình
yêu mến nước Pháp".
Thập
Giá và Lưỡi Gươm, trang 36, bản tiếng Pháp DIEU et CÉSAR Les
Catholiques dans L'Histore du viet nam của linh mục Trần Tam Tỉnh
paris, 1978 –
Tháng
7 năm 1858, trung tướng hải quân Pháp Rigault de Genouilly dẫn
3.000lính người Pháp và người I-Pha-Nho cùng 14 chiến thuyền
vào cửa Đà Nẵng bắn phá các đồn lũy, rồi lên hạ thành
An Hải và thành Tôn Hải. Năm 1861, trung tướng Charner đem
cả thảy 70 chiến thuyền và 3500 quân đánh lấy Gia Định;
mặt khác, thiếu tướng Page và trung tá Bourdais đi đường
bộ, theo sông Mékong, tiến chiếm thành Vĩnh Long. Quân ta chống
cự một cách yếu ớt. Còn triều đình Huế lo sơ, xin giảng
hòa. Và Hoà Ước Năm Nhâm Tuất (1862) ra đời, gồm 12 khoản,
nội dung chủ yếu là: "Nước Việt Nam phải nhượng đứt
cho nước Pháp ba tỉnh Biên hòa, Gia Định và Định Tường;
nước Việt Nam không được đem binh lính, khí giới đi qua
những tỉnh đã nhường cho Pháp, và những chiến thuyền nước
Pháp được tự do ra vào sông Mékong; các giáo sĩ nước Pháp
và giáo sĩ nước I Pha Nho được tự do giảng đạo, và để
cho người dân Việt Nam được tự do theo đạo; người Pháp
và người I Pha Nho được tự do đi lại buôn bán ở cửa
Đà nẵng, cửa Ba Lạt và cửa bể Quảng Yên…"
Năm
1867, từ Mỹ Tho thiếu tướng De la Grandière dẫn hơn 1.000quân
tiến đánh ba tỉnh phía Tây: Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
Năm
1873, đại úy Francis Garnier đánh thành Hà Nội lần thứ nhất,
Nguyễn Tri Phương tử tiết, sau đó quân Pháp đánh lấy các
tỉnh: Ninh Bình, Nam Định và Hải Phòng. Và … đưa đến
Hòa Ước Giáp Tuất, 1874, gồm 22 khoản, nội dung chủ yếu
là: "Các giáo sĩ được tự do giảng đạo, và dân chúng được
tự do theo đạo; tàu thuyền Pháp được tự do vào cửa Thị
Nại (Qui Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải Phòng), thành Hà Nội và
sông Hồng, và nước Pháp được quyền đặt lãnh sự ở
các cửa bể và các thành thịc Nam phải thuận nhượng đứt
đất sáu tỉnh Nam Kỳ cho nước Pháp…"
Tháng
4 năm 1882, đại tá Henri Rivière đánh lấy thành Hà Nội (Lần
thứ hai), Hoàng Diệu tuẫn tiết. Kết cuộc đưa đến Hoà
Ước Năm Quí Mùi, 1883, nội dung gồm 27 khoản, đại lược:
"Nước Nam chịu nhận nước Pháp bảo hộ; mọi việc giao
thiệp với nước ngoài, đều do nước Pháp chủ trương; tỉnh
Bình Thuận thuộc về Nam Kỳ; quân Pháp đóng giữ ở núi
Đèo Ngang và ở Thuận An; từ tỉnh Khánh Hòa ra đến Đèo
Ngang thuộc quyền cai trị của triều đình Huế…"
Thế
là từ đó nước Việt Nam hoàn toàn đặt dưới quyền cai
trị của nước Pháp. Triều đình Huế đã đầu hàng Pháp.
Nhưng giới sĩ phu trong nước vẫn khẳng khái, trước sau,
lần lượt đứng dậy vận động quốc dân thành lập các
Phong trào kháng Pháp, như: VĂN THÂN, CẦN VƯƠNG, ĐÔNG DU, ĐÔNG
KINH NGHĨA THỤC, DUY TÂN… và các cuộc khởi nghĩa ở Thái
Nguyên, ở Thái Nguyên, ở Yên Bái… đều có chung mục đích:
đánh Pháp, giành lại quyền độc lập cho nước nhà.
Như
trên, kinh nghiệm cho thấy: hễ khi nào chính quyền và nhân
dân xa lìa nguồn sống lịch sử Việt, xa lìa chính pháp, đánh
mất ý thức dân tộc là chỉ có suy tàn, chỉ có chiến chinh.
Xa lìa nguồn sống lịch sử Việt, là dắt quốc dân vào phiêu
lưu, vào linh lạc, là làm cho xã hội Việt phân tán, nòi giống
Việt gục lịm trong thân phận tù đày, nô lệ…
Bây
giờ ta thử đặt lại vấn đề, để tìm ta manh mối, tại
sao: "thời đại Lý – Trần nước Đại Việt hùng mạnh,
toàn dân sống cuộc sống an lành, hạnh phúc?" –Là vì chính
quyền và toàn dân (thời đó) đã biết khơi dậy Nguồn Sống
của dòng sử Việt, phục hồi được mạch sống bất tận
của SỨC SỐNG THẬT VIỆT. Mà thực vậy, "khơi lại được
nguồn sống lịch sử Việt, là sẽ vượt và thắng được
hết, và bất chấp hết mọi âm mưu từ ngoài tới, đồng
thời xua quét được hết mọi ươn hèn, ỷ lại… bị đọng
bên trong phát ra, hầu giải thoát con người ra khỏi những
lệ thuộc của tinh thần máy móc của không tưởng
cằn cỗi, luẩn quẩn và lịm chết".
SỰ
SUY THOÁI CỦA PHẬT GIÁO CÓ NHIỀU LÝ DO:
1.Theo
Luật Vô Thường Chuyển Biến, Phật giáo đã hưng phát dưới
hai triều đại Lý – Trần (1010-1398): thời kỳ Đạo Phật
Việt được coi là quốc giáo – thời lỳ mà lịch sử ghi
là một thời đại văn minh thịnh trị nhất của nước ta.
Nhưng sau đó, nhân tài Phật Giáo thưa thớt, tiêu điều như
cảnh lá mùa thu, nên không còn đủ khả năng và uy tín giữ
địa vị lãnh đạo tinh thần (sư giả nhân chi mô phạm) của
mình nữa thì, lẽ tất nhiên, Phật giáo phải suy thoái
2.
Thời Gian Nho Giáo Chiếm Địa vị Độc Tôn, về phương diện
tư tưởng cũng như trên cương vị lãnh đạo quốc gia, cũng
chính là lúc đất nước dân tộc ta rơi vào tình trạng phân
hóa, khốn cùng. Dưới thời đại Minh Tông, tuy vua là một
Phật tử, có truyền thống gia phong tin Phật, nhưng vẫn không
cứu vãn nổi tình thế, vì các quan trong triều đều là những
nho sĩ vốn có óc kỳ thị (không mấy tốt đẹp) đối với
Phật Giáo: một thiểu số nhà Nho nhờ có thi cử đỗ đạt,
được cất nhắc ra làm quan, và vì bản chất hẹp hòi đã
bài xích Đạo Phật. "Chỉ nhận có nho giáo là chính giáo,
ngoài ra không còn có đạo nào khác nữa" (mà) điển hình
cuối đời Lý: có ĐÀM DĨ MÔNG; đời Trần: có TRƯƠNG HÁN
SIÊU, LÊ BÁ QUÁT; đời Hậu Lê: có NGÔ SỸ LIÊN…
3
Đất Nước Việt Nam Không May Gặp Cảnh Nội Loạn, Ngoại
Xâm, Từ Thế Kỷ XV Tới Thế Kỷ XX: nào nhà Hồ diệt
nhà Trần, tiếp theo giặc Minh xâm lược nước ta, ròng rã
hơn hai mươi na9m, mãi đến năm 1428, Bình Định vương lê
Lợi mới đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi đất nước,
nối lại nền tự chủ của các tiền triều. Nhà Lê lấy
Nho giáo làm kỷ cương trị nước. Còn Phật giáo và Lão giáo
thì bị bỏ rơi. Nhà Lê cai trị đúng một trăm năm thì bị
nhà Mạc lật đổ. Tiếp sau là thời lỳ Trịnh – Nguyễn
phân tranh. Rồi đến Pháp cai trị nước ta (1862-1945). Con người
sống dưới thời Lê (và cả sau này nữa) thi đua học đạo
thánh hiền (Nho giáo), đa số là những con mọt sách, ngày
đêm miệt mài với những pho kinh sử văn chương hoa mỹ (nhưng
vô hồn); chen chân nhau trên bước đường khoa cử1 để có
dịp tiến thân, ra làm quan. Đầu óc họ chất nặng những
mặc cảm tự tôn, tự đại: chỉ nhận có "đạo thánh hiền"
mới là chính đạo, ngoài ra đều coi là tà giáo cả! (*)
4.Thực
dân Pháp Cai Trị Nước Ta 83 Năm (1862-1945), trong giai đoạn
này, Đạo Phật Việt bị gạt ra ngoài lề cuộc sinh hoạt
của xã hội đương thời, dù rằng: khắp nước, làng nào
cũng có chùa thờ Phật (có làng có đến ba ngôi chùa [3],
nhưng đó chỉ là dành riêng cho phái nữ, những bà già…
Mỗi tháng, vào những ngày mồng một và mười rằm, tới
chùa lễ Phật, -một Đạo Phật thực tiễn, linh động với
mục đích giác ngộ và giải thoát con người; bỗng dưng trở
thành thứ tôn giaó tiêu cực, chán đời, "mê tín dị đoan",
coi đức Phật như một Thượng Đế toàn năng… một số
tăng, tín đồ thì lần lần đi xa nguồn gốc giáo lý chính
thống. Thật là bi đát!
Với
nội bộ như thế, Phật giáo thật khó tránh khỏi suy vi. Còn
hoàn cảnh bên ngoài thì chính quyền thực dân Pháp triệt
để ủng hộ, nâng đỡ Thiên chúa giáo và cố ý dìm Phật
giáo, coi Phật giáo như một lực lượng dân tộc đối kháng
với Nhà nước bảo hộ; vì đạo Phật đã bắt rễ lâu đời
trong quần chúng, nên chính quyền Pháp, tìm đủ mọi cách
hạn chế, ngăn cấm sức phát triển của Đạo Phật Việt,
về cả tinh thần lẫn vật chât… Cho mãi tới năm 1930, giới
tăng sĩ và trí thức trong nước mới có cơ hội đứng ra
hô hào chấn hưng Đạo Phật Việt.
Và,
sau 83 năm Pháp cai trị nước ta, Đạo Phật quốc gia Việt
Nam chỉ được coi như một "tôn giáo bản địa", bị gạt
ra ngoài mọi sinh hoạt tập thể của quốc gia này. Chính quyền
bảo hộ của người Pháp ra mặt nâng đỡ Thiên chúa giáo
và kỳ thị, đàn áp Phật giáo, không cho phát triển. Như
việc kiểm tra tăng chúng, việc dựng chùa phải có giấy phép,
có được mới được xây cất; việc hạn chế nhà chùa,
không được tạo mãi đất đai hay nhận của cải của thập
phương hỷ cúng. Với chính sách hủ hóa dân tộc ta, thực
dân Pháp đã rất rộng rãi với những gì là mê tín dị đoan,
hạn chế giáo dục, cốt làm cho dân ta ngu dốt để chúng
bảo sao tin vậy; Đạo Phật cũng bị đồng hóa với những
tà thuyết ngoại đạo… Rồi từ chỗ xa lìa chính pháp, Đạo
Phật nghiễm nhiên trở thành như một thần đạo không hơn
không kém. Mục đích của thực dân, như đã thấy, là sự
thống trị đất nước này và không muốn cho dân tộc trở
mình để lớn mạnh…
Nhưng,
sau gần thế kỷ bị trị, và sau trận thế chiến thứ hai
chấm dứt, dân tộc Việt cùng với các dân tộc nhược tiểu
khác trên thế giới đã bừng tỉnh đứng dậy, giải phóng
ách nô lệ cho con người và giành quyền độc lập tự chủ
cho quốc gia, chấm dứt một chế độ lạc hậu, lỗi thời.
Ngày
9-3-1945, tức ngày rằm tháng giêng năm Aát Dậu, quân Nhật
làm cuộc đảo chính Pháp, lật đổ một chế độ thực dân
lỗi thời của giống da trắng, trên toàn cõi Đông Dương.
Tháng
8 năm 1945, nước Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, chấm dứt
trận thế chiến thứ hai (1939-1945), một tia sáng đến với
toàn thể loài ngươì.
-Nước
Việt Nam bắt đầu mở qua một trang sử mới…
Đạo
Phật Việt, qua XX thế kỷ, tuy có lúc thịnh…, lúc suy…
cho mãi tới năm 30, giới tăng sĩ và trí thức trong nương
ra hô hào chấn hưng Phật giáo.
-Năm
1931, ở Nam Kỳ thành lập Hội nghiên Cứu Phật Học và năm
1933, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời;
-Năm
1932, tại Trung Kỳ thành lập Hội An Nam Phật Học;
-Năm
1934, Bắc Kỳ thành lập Hội Việt Nam Phật giáo;
Các
Hội đều có mở các trường Tiểu, Trung, Đại Học cho các
tăng, ni sinh từ các nơi về tham học, và lập các thư viện,
xuất bản kinh sách, báo chí. Ở Nam, có tạp chí TỪ BI ÂM,
DUY TÂM; ở Trung, có nguyệt san VIÊN ÂM; và ở Bắc cũng xuất
bản tờ tuần báo ĐUỐC TUỆ. Ngoài các cơ quan trên, sau này
còn có mấy thứ pháp âm, như: TIẾNG CHUÔNG SỚM, PHÁT ÂM,
TAM BẢO, GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT, DIỆU ÂM, PHƯƠNG TIỆN, LIÊN
HOA, TỪ QUANG, BỒ ĐỀ TÂN THANH, VIỆT NAM PHẬT GIÁO, THIỆN
MỸ, VẠN HẠNH, HẢI TRIỀU ÂM, GIỮ THƠM QUÊ MẸ, TƯ TƯỞNG,
HOẰNG PHÁP, HÓA ĐẠO, BÁT NHÃ, HÓA GIẢI v.v….
Suốt
20 năm từ 1930 đến 1951, nền Thống Nhất Phật giáo nước
nhà thật sự bừng sáng, và đã được thể hiện dưới danh
nghĩa TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, gồm 6 tập đoàn
sáng lập viện:
Giáo
hội Tăng già Bắc Việt.
Giáo
hội Tăng già Trung Việt
Giáo
hội Tăng già Nam Việt.
Hội
Việt Nam Phật giáo (BV).
Hội
An Nam Phật học (TV).
Hội
Phật học Nam Việt (NV).
Dươí
đây là bản Tuyên Ngôn thống nhất Đạo Phật Việt đã được
công bố nhân lễ Phật đản ngày 8 tháng 4 năm Tân Mão (1951).
Nguyên
văn:
"Bánh
xe Phật pháp xoay vần trên khắp quốc độ Việt Nam đến
nay đã hai mươi thế kỷ, nhân tâm, phong hóa, chính trị trong
nước đều đã chịu ảnh hưởng sâu xa tinh thần Phật giáo,
tăng đồ và tín đồ từ Bắc chí Nam, một lòng quy ngưỡng
đức Điều ngự Thích Ca Mâu Ni, sống trong Từ Bi Hỷ Xả
và luôn luôn xây dựng hòa bình. Nhưng sự đời không hòa
nhịp với lòng mong mỏi, hoàn cảnh trước đây đã chia ranh
giới ba kỳ, nên Phật sự cũng phải tùy duyên, mặc dầu
Phật pháp bất biến.
"nay
cơ duyên thuận tiện, Phật giáo Việt nam phải thống nhất.
Hơn nữa họa chiến tranh gieo rắc khắp nơi, nhân loại đang
lâm vào cảnh lầm than. Chính là lúc đạo Từ Bi vô thuợng
phải đem nước cam lộ "tưới tắt lửa sân si", để xây
dựng hòa bình cho nhân loại.
"Theo
lời hiệu triệu của các bậc trưởng lão hòa thượng, một
hội nghị Phật giáo gồm 51 đại biểu, đã long trọng khai
mạc ngày 1 tháng 4 Phật lịch năm 1945, tức ngày 6 tháng 5
dương lịch 1951, tại ngôi chùa lịch sử Từ Đàm (Thuận
Hóa).
"Sau
bốn ngày thảo luận, toàn thể hội nghị đã quyết định
thống nhất Phật giáo toàn quốc Việt nam, lấy ngày Phật
đản làm kỷ niệm thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam,
và bầu một ban Quản trị Trung ương, đặt trụ sở tại
Thuận Hóa (Huế); để thực hiện chương trình thống nhất
mà hội nghị đã biểu quyết.
Hỡi
toàn thể Phật tử Việt Nam!
"Chúng
ta hãy san phẳng những hình thức sai biệt, cùng chung sức
chung lòng làm tròn sứ mệnh kiến tạo hòa bình, gây mầm
an lạc, và nêu cao ngọn đuốc trí tuệ của đức Thế Tôn".
Và
năm 1952, ba giáo hội ba kỳ Nam Trung Bác hội tụ về chùa
Quán Sứ, Hà Nội, thành lập Giáo hội Tăng già toàn quốc,
đến năm 1959, đổi là GIÁO HỘI TĂNG GIÀ VIỆT NAM.