HÌNH
THÁI TỔ CHỨC
GIÁO
HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Tiến
Trình Lịch Sử và Nhu Cầu Hiện Đại Đòi Hỏi Sự Thống
Nhất Đạo Phật Việt
Cách
vài năm sau thì nền thống nhất Phật giáo phải chịu sự
thống khổ chia rẽ hàng ngũ nội bộ Phật giáo và tiếp theo
là những khủng hoảng!… Mà bất cứ một cuộc khủng hoảng…
nào rồi cũng sẽ qua đi.
Do
đó, chúng tôi đề nghị một biện pháp xây dựng GIÁO HỘI
PHẬT GIÁO VIỆT NAM lớn mạnh trong tương lai nên cũng ghi lại
đây những cảm khái suy tư chân thành ngưỡng mong liệt vị
Tôn Đức chứng minh.
Năm
1963, Đạo Phật Việt đã là một hiện tượng thức tỉnh
của Phật giáo thế giới và toàn thể nhân loại đang muốn
vượt thoát khỏi kiềm tỏa của các thế lực và mưu mô
độc tài.
Năm
1963, Đạo Phật Việt đã là một hiện tượng thống nhất
giữa các tông phái của Đạo Phật sau hai mươi thế kỷ phân
lý.
Năm
1963, Đạo Phật Việt đã là nguồn nghị lực của con người
muốn giải quyết các vấn đề thế sự bằng những hy sinh
cao cả của chính mình.
Sau
ba năm đầy thăng trầm cam go, do những nhầm lỗi: tự kiêu
tự mãn, thiếu tổ chức giáo dưỡng, nhiều tin tưởng và
xây dựng giáo quyền nghiêm minh, thiếu sáng suốt và nhiều
mê vọng, nên đã để cho các khuynh hướng chính trị len vào
tàn phá nền tảng cao đẹp của Đạo Phật Việt.
Năm
1966, Đạo Phật Việt lại là một hiện tượng đổ bể về
mặt lãnh đạo. Những tâm đĩa tầm thường, đầy mưu mô
thế tục, đã dấy động, chặn đứng sự vươn lên của
Đạo Phật trong việc giải quyết các vấn đề Dân tộc và
Hòa bình thế giới.
Năm
1966, Đạo Phật Việt cũng lại là một hiện tượng thức
tỉnh những ai còn có ý thức phải rút lấy kinh nghiệm đắt
giá ở cuộc khủng hoảng ấy, để tu sửa đổi tâm trí mình,
nhằm hoàn thành sứ mệnh thời đại của Đạo Phật.
Và
những năm 1967-1968, Đạo Phật Việt là một hiện tượng
đãi lọc những vẩn đục trong làn nước ngọt Phật giáo,
để tưới lên tâm tư bỏng khát của nhân loại khổ đau,
trong những ngày sắp tới.
Nhận
định trên không phải là những nhận định chủ quan của
một ai, mà là phản ảnh trung thực nhận định của mọi
người Phật tử có suy nghĩ và của toàn thể thức giả,
trong cũng như ngoài nước.
Nói
lên nhận định đó, chúng tôi không làm công việc gây thêm
những khó khăn cho công cuộc xây dựng đạo pháp, mà chỉ
nhằm đưa ra một sự thật, mong những người đang có thế
lực trong giáo hội phải gấp rút dẹp bỏ mọi tị hiềm,
mặc cảm, mọi tà kiến âm mưu (nếu có) để đừng phụ
công lao hy sinh của tăng, ni, Phật tử, và đừng phụ kỳ
vọng của nah6n loại đang trông đợi ở sự phục hoạt nhiệm
mầu của Đạo Phật, giữa thời đại ma vương này.
Chúng
tôi cũng cần nhấn mạnh ở đây là: Dù gặp bất cứ trở
lực nào thì Đạo phật cũng đã phục hoạt và cũng sẽ sắm
vai trò trọng đại, trong những giải quyết của cuộc sống
nhân loại thời đại. Dù những nhà lãnh đạo hiện nay có
còn xứng đáng hay sẽ bị đào thải thì Đạo Phật cũng
vẫn đi tới trong sứ mệnh thời đại của mình. Dù các âm
mưu chính trị đủ mọi khuynh hướng đế quốc cố tình phân
hóa Đạo Phật, để cùng Đạo Phật như một bức bình phong
khống chế dân chúng, thì các khuynh hướng kia cũng sẽ thất
vọng. Vì thực chất của Đạo phật là GIÁC NGỘ. Mà khi
đã giác ngộ thì tất nhiên bao nhiêu mưu mô đều không còn
đất đứng, và những âm mưu ấy có đắc dụng cũng chỉ
đắc dụng trong nah61t thời mà thôi. Đạo Phật đã tồn tại
trên hai nghìn rưỡi năm. Đạo Phật còn đáp ứng nổi tư
tưởng đang vươn tới của nhân loại. Do đấy, Đạo Phật
hẳn nhiên sẽ vượt thoát khỏi sự ma hóa của chính trị
thủ đoạn, để hằng hóa tốt đẹp
Sau
cuộc vận động thần thánh nhiệm mầu của Đạo Phật Việt
Nam 1963, sự thành công đã đến, và đã gây cho mọi người
có một lầm tưởng là Đạo Phật đã đại thắng trên mặt
chính trị: Đạo Phật là một thế lực chính trị nghiền
nát tất cả thế lực chính trị thế tục. Đó là một sai
lầm dẫn đến sự phiêu lưu thảm bại. Đó còn là một cái
bẫy Đạo Phật thành một thế lực thực tại chính trị,
để đẩy Đạo Phật vào những hành động có lợi cho họ.
Họ đã có lợi thật. Vì hàng ngũ lãnh đạo Phật giáo từ
chỗ quyết tâm phục vụ đạo, phục vụ dân tộc, đã phát
sinh sự chống đối nhau về chính kiến, để rồi quên mất
mục đích cao cả của mình. Thậm chí có lớp người đã
chạy theo quyền lực, muốn dùng quyền lực thế gian để
thực hiện mau chóng chương trình kiến tạo Đạo Phật. Thật
là một sai lầm lớn. Tội hơn nữa là vì phải giao tiếp,
phải dùng phương tiện quá nhiều của thế gian để làm việc
cho thế gian, nên đã gây ngộ nhận là: Sự thành công của
Đạo Phật chỉ đem lại lợi lộc cho một thiểu số lãnh
đạo có uy thế. Nguy hiểm hơn nữa là những người kém đức
tu đã lại bằng lòng ngay với những phù phiếm kia vốn là
mần mống của khổ đau, loạn lạc, sa đọa.
Nếu,
ngay từ lúc phục hoạt, giáo hội đã có đủ uy đức và
khả năng trầm tĩnh đi lên như sự mọc chồi của cây đại
thụ, thì đương nhiên sẽ hóa giải được mọi hình thái,
văn hóa, mọi ý hệ và mọi xáo trộn của thế cuộc, sẽ
ngăn chặn được mọi toan tính của đế quốc và âm mưu
độc tài, cũng như sự băng hoại của giáo hội.
Điều
này quả thực rất khó, đối với một giáo hội sơ khai và,
tiếp đó, vì không khí quần chúng đấu tranh quá sôi bỏng,
các âm mưu chính trị trong ngoài quá thâm độc nặng nề.
Những vụ phản bội cách mạng, liên tiếp xảy ra, đã được
giáo hội phải ra tay nghĩa hiệp. Trong lúc đó thì hàng ngũ
lãnh đạo giáo hội quá nặng nề xúc cảm, đối xử việc
trong cũng như việc ngoài đều bằng tình nghĩa, không bằng
giáo quyền và trí tuệ. Những người thừa hành đã vừa
thiếu, lại vừa chưa được tổ chức và giáo huấn, nên
rất khó thực hiện được phương pháp chế cản ngoại cuộc
bằng sự trầm phát. Bởi đó Đạo Phật chúng ta đã bỏ
mất một dịp rất hiếm để thực hiện đường lối hóa
giải cao siêu của mình.
Nói
như vậy không phải để tiếc xót những gì tốt đẹp đã
qua, mà là để rút kinh nghiệm cho thực tại Đạo Phật ngày
mai.
Đạo
Phật phải nhập cuộc để chuyển hóa thế giới, giải thoát
nỗi khổ đau cho chúng sinh. Nói thế, ta không nên ngộ nhận:
Đạo Phật (trước đấy) là xa lìa cuộc thế. Mà chỉ có
ý nói rằng: Với sức lớn mạnh của kỹ thuật khoa học
hiện đại, tâm hồn con người đang bị sa đọa trước mọi
cám dỗ vât chất để rồi tự thỏa mãn với những tiện
nghi giả tưởng sẵn có, mà quên đi phần cao đẹp của cuộc
sống tinh thần, đáng lý phải được thực hiện từ lâu:
đó là TÌNH THƯƠNG YÊU NHÂN LOẠI. Đạo Phật là đạo Từ
bi, nên lúc này hơn lúc nào hết, Đạo Phật phải nhập cuộc
để cho nhân loại, đem lại sự an lành cho cuộc đời.
Điều
đó đã hiển nhiên.
Nhưng
muốn nhập cuộc, phải xây dựng tổ chức. Tổ chức, ở
đây, không có nghĩa là tạo ra một thế lực là mcông cụ
cho giáo hội hoặc cho giáo chủ nào đó mà tổ chức ở đây
là đáp ứng những nhu cầu của thời đại để vừa giáo
dưỡng tín đồ Phật tử, vừa chuyển hóa tốt đẹp cho đại
cuộc nhân loại, bằng tổ chức Nhân Chủ, Từ Bi, Trí Tuệ
của mình.
Xét
về tổ chức thì bản Hiến Chương giáo hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất đã là một ước chế có hiệu lực từ sáu
năm qua, nhưng bản Hiến Chương đó chưa đủ đáp ứng cho
một tôn giáo như Đạo Phật hiện đại. Bản Hiến Chương
đó đã tổ chức giáo hội quá lỏng lẻo, mang nặng tính
chất đại chúng hơn là giáo quyền: đáng lý ra đã là một
giáo hội, thì giáo quyền phải được thiết lập vượt lên
trên quyền đại chúng. Tất nhiên không chấp nhận hình thái
tổ chức giáo quyền độc tôn, nhưng chúng tôi lại cũng không
đồng ý về hình thái đại chúng bầu cử ra những vị lãnh
đạo giáo hội. Vì giáo quyền luôn thuộc về quyền tối
thượng siêu nhiên, không do đại chúng mà ra. Mà đích thị,
phải do sự tu trì mà có.
Đành
rằng giáo quyền phải do hàng thừa hành giáo phap1 mà có,
nhưng khác với tôn giáo thần quyền, Đạo Phật lấy Con Người
(nhân bản) làm cứu cánh cho sự giải thoát cuộc đời, nên
đại chúng cũng được dự phần quyết định Phật sự. Ý
kiến của đại chúng nếu xét không đi ngược với tôn chỉ
Đạo Phật thì giáo hội phải triệt để tôn trọng và thực
hiện làm lợi ích cho đại chúng. Như vậy giáo hội không
vì quyền lực thiêng liêng mà thành lập, giáo hội thành lập
trên sự đòi hỏi của đại chúng và thực hiện giáo pháp
theo Tâm Duyên đại chúng, để chuyển hóa tốt đẹp cho đại
chúng.
Bằng
vào nguyến tắc đó, giáo hội Phật giáo Việt Nam – chúng
tôi chỉ dùng Phật giáo Việt Nam vì kinh nghiệm đắt giá
đã cho thấy thêm chữ Thống Nhất vào tất nhiên sẽ có các
tổ hchức dưới nhiều danh nghĩa khác xuất hiện – cần
phải tổ chức một Giáo hội có Giáo quyền, và những hành
vi của các cấp giáo quyền phải có sự cân nhắc đồng quyết
của đại chúng. Nhưng nếu ý kiến của đại chúng không
còn mang ý nghĩa của đạo pháp nữa thì, cơ quan tối cao của
giáo hội; phải dùng giáo quyền để phủ quyết.
Bản
Hiến Chương hiện nay tuy gồm có hai viện Tăng Thống và Hóa
Đạo, Tăng thống giữ về nguyên tắc giáo luật giáo pháp,
Hóa đạo giữ việc điều hành Phật sự và thế pháp, nhưng
cả hai đều do Đại hội của đại chúng bầu ra. Giáo quyền
đã không có, đối với đại chúng, lại cũng không có, đối
với cả hai viện Tăng thống – Hóa đạo, nên chính điều
này đã nảy sinh không biết bao đau lòng như hiện nay.
Do
đó mà bản Hiến Chương chỉ mới là một văn kiện có tính
cách nhất thời để xoa dịu những tông phái, địa phương,
và phân quyền giữa các vị lãnh đạo của thời kỳ vận
động vừa qua chứ thực sự chưa mang một giá trị nền móng
cho cơ cấu tổ chức và điều hành giáo hội lâu dài.
Đề
Nghị: Một Biện Pháp Xây Dựng Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam.
Vấn
đề xây dựng một giáo quyền Đạo Phật Việt hiện nay đã
trở thành khẩn thiết hơn bao giờ hết. Chính vì thiếu giáo
quyền, nên cuộc khủng hoảng về tổ chức và lãnh đạo
của giáo hội đã chịu cảnh bế tắc.
Vậy
cần phải tổ chức giáo quyền ra sao?
Tất
nhiên, Phật tử và bản chất Đạo Phật là không bao giờ
chấp nhận một hình thức giáo quyền như sự nhân danh quyền
lực thiêng liêng để thắt buộc Phật tử trong một tổ chức,
nhằm khống chế tư tưởng.
Như
trên chúng tôi đã trình bày, tổ chức giáo hội phải có
hai phần: phần lãnh đạo và điều hành, thuộc giáo quyền;
phần quyết duyệt đường lối của tổ chức, thì đại chúng
cũng có quyền góp ý.
Phần
Giáo Quyền – Giáo quyền tập trung nơi Hội đồng Chưởng
pháp do các tăng sĩ được đức Tăng thống triệu thỉnh và
tấn phong. Hội đồng Chưởng pháp quyết duyệt giáo luật,
giáo pháp, giáo chế và suy tôn đức Tăng thống.
Đức
Tăng thống chỉ định một vị tăng sĩ đứng ra thành lập
viện Hóa đạo.
Toàn
thể viện Hóa đạo sẽ được đức Tăng thống đưa ra trước
Hội đồng Chưởng pháp để chấp thuận.
Hội
đồng viện Hóa đạo chịu trách nhiệm, trước đức tăng
thống và sự giám sát của Hội đồng Chưởng pháp.
Hội
đồng Chưởng pháp có thể yêu cầu đức Tăng thống giải
tán viện Hóa đạo, hoặc xin thay đổi một số Tổng vụ
trưởng.
Nếu
dức Tăng thống không chấp thuận lời yêu cầu thì ngài sẽ
trình bày lý do trước Hội đồng Chưởng pháp, và yêu cầu
Hội đồng biểu quyết tín nhiệm. Nếu hai phần ba (2/3) số
hội viên Hội đồng Chưởng pháp nhất quyết giữ vững ý
định thì đức Tăng thống, sẽ thành lập một viện Hóa
đạo mới, hoặc vị Viện trưởng viện Hóa đạo sẽ
thay đổi một số Tổng vụ trưởng theo quyết định của
Hội đồng Chưởng pháp.
Phần
Đại chúng – Đây là Đại hội Phật giáo toàn quốc gồm
đại biểu các tỉnh giáo hội.
Vị
Viện trưởng viện Hóa đạo triệu tập Đại hội Phật giáo
mỗi năm một lần thu hẹp, hai năm một lần khoáng đại:
để xét duyệt đường lối mới do chính Đại hội xướng
xuất.
Tất
cả quyết định của Đại hội phải được đệ trình lên
Hội đồng chưởng pháp duyệt xét. Nếu Hội đồng Chưởng
pháp không đồng ý với Đại hội, thì đức Tăng thống sẽ
đứng ra giải quyết. Nếu đức tăng thống đồng ý với
Hội đồng chưởng pháp thì đại hội sẽ nhóm họp để
thay đổi. Nếu đức Tăng thống đứng về phía Hội đồng
thì ngài sẽ triệu tập một cuộc họp chung giữa Hội đồng
Chưởng pháp và Đại hội để quyết định.
Đây
là đề nghị của chúng tôi trong công cuộc xây dựng đạo
pháp, tuy mang tính cách lâu dài, nhưng cũng có thể kịp thời
giải quyết những vấn đề hiện tại. Vì, nếu một Hội
đồng của các bậc tu trì có uy tín được đức Tăng thống
triệu tập, thì đó cũng là một biện pháp để giải quyết
các vấn đề khủng hoảng hiện nay của giáo hội.
Từ
một Đại hội như vậy, thể chế tổ chức tương lai của
giáo hội được đưa ra duyệt xét. Nếu Đại hội đó tìm
được một thể chế thích đáng cho giáo hội rồi thì sau
đó đức Tăng thống sẽ triệu tập Đại hội Phật giáo
toàn quốc để quyết duyệt tối hậu. Và, bằng vào thể
chế đó, các cấp lãnh đạo và điều hành được cử ra
để điều khiển giáo hội, đương nhiên sẽ chấm dứt được
tình trạng không mấy tốt đẹp hiện nay.
Trên
ý nghĩ đó, chúng tôi trông đợi sự tỉnh giác của toàn
thể các câp lãnh đạo Phật giáo và Phật tử.
Chúng
ta hãy cố gắng chung sức giải quyết các vấn đề khó khăn
hiện nay của giáo hội. Rồi, tư đó, dẫn tới sự giải
quyết các vấn đề dân tộc và thế giới thời đại.
Hiến
chế
GIÁO
HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Bản
Hiến Chế được viết ra sau ngày 1-11-1963, và đã trình kiến
trước một hội nghị thu hẹp gồm đại biểu của mười
một giáo phái, hội đoàn tham dự, để quyết định thành
lập GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT.
Cuộc
họp của tiểu ban dự thảo Hiến Chương diễn ra tại thự
viện chùa xá Lợi, Sài Gòn, từ 15 giờ ngày 31 tháng 12 năm
1963, mà hòa thượng Trí Quang và chúng tôi là hai thuyết trình
viên.
Sau
phần thuyết trình, là phần thảo luận và góp ý của các
đại biểu. Hội nghị nhìn nhận rằng: "bản Hiến Chế (do
chúng tôi dự thảo) rất uyên áo; tuy nhiên, tình thế hiện
tại chúng ta chưa đủ nhân sự để điều hành… đồng thời
nhận định bản dự thảo Hiến Chương (do hòa thượng Trí
Quang viết) có chứa đựng những nét thực tế và dễ áp
dụng…" – ghi theo đại ý biên bản cuộc họp- Do đó, hội
nghị đã chấp nhận lấy bản Hiến Chương – mà giáo hội
có hiện nay – làm chính bản để thảo luận và biểu quyết.
Nhân
dịp chúng tôi có ý đề nghị biện pháp xây dựng một Giáo
Hội Phật giáo Việt nam lớn mạnh trong tương lai nên cũng
xin ghi lại đây để chúng ta cùng suy ngẫm.
CHƯƠNG
1
Thuyết
Minh Vấn Đề
Điều
1 –Sống trong vũ trụ vô thường ảo hóa, sống bằng kiếp
người thống khổ mong manh, sống giữa một xã hội phân hóa
bất công, đức Phật chân nhận được trách nhiệm và sứ
mệnh "cứu độ chúng sinh" nên Ngài đã trút bỏ ràng buộc
thế tục để đi tìm một phương pháp giải thoát cho mình
và hướng dẫn chúng sinh trên con đường giác ngộ.
Điều
2 – Sau khi thành đạo, đấng Đại giác quán triệt hết thảy
hiện tượng củ vạn hữu, khám phá ra tận gốc rễ sự khổ
đau của chúng sinh, tìm thấy chính đạo để giúp con người
thoát khổ, đã bước ra khỏi cội bồ đề, dấn thân vào
đời khổ ải, nhận chịu mọi sự, để hóa độ chúng sinh,
hòng giúp chúng sinh đạt được cảnh giải thoát viên mãn.
Điều
3 – Như Lai đã tận diệt mọi chấp trước để hòa đồng
với tự nhiên giới, làm cho vạn hữu cùng rực rỡ thêm lên;
hòa đồng với tâm tư giới, làm cho nhân loại cùng sáng suốt
thêm lên; hòa đồng với siêu việt giới để Phật tính thường
trụ nơi vạn hữu mau xòe nở tròn đầy.
Điều
4 –Nhân loại ngày nay đã tự soi vào mình để phát giác
ra rằng: mình đang hiện hữu trong một nghiệp dĩ khổ đaul
sống giữa một xã hội toàn là kẻ thù chết chóc, trong một
vũ trụ vật lý vô nghĩa ma sát, giới hạn khắt khe sinh mệnh
con người. Tâm trạng này đang vò xé con người, tạo ra một
nguồn tư tưởng cô đơn tuyệt vọng.
Điều
5 – Mọi giá trị tinh thần cũ đang bị con người bôi bỏ,
hệ thống duy thần đã lạc hậu, hệ thống duy vật phi nhân
đang bị vượt dưới nhận thức toàn diện của nhân loại
tiến bộ. Nhưng hiện nay nhân loại chưa tìm được tư tưởng
chỉ đạo cho cuộc sống mình, nên đang rơi vào trạng thái
hoài nghi buồn chán. Đã đến lúc Đạo Phật phải trở lại
lối sống xưa cũ để "nhập cuộc", hướng dẫn tư tưởng
con người trong việc giải thoát tâm tư khỏi trói buộc của
thực tại thế giới mê vọng khổ đau.
Điều
6 –Con người đều sinh hoạt trong ba thực tại: nhiên giớis,
tâm giới và siêu việt giới. Đạo Phật đã thỏa đáp đầy
đủ ba nhu yếu đó bằng cách: nhìn nhận con người sống
trong tự nhiên qua tình thương bao la để hòa đồng nổi với
mọi hiện tượng vô thường; nhìn nhận và giúp con người
thăng hóa tâm tư mình bằng trí tuệ sáng suốt, để tìm thấy
an bình trong tâm hồn và sống vui với anh em; nhìn nhận và
giúp cho Phật tính thường trụ nơi con người bằng sự chứng
đạt trạng thái trong sáng tròn đầy; để hòa đồng được
với si6u việt giới thường tại của vũ trụ. Nên đạo Phật
cũng được gọi là đạo giác ngộ và giải thoát của nhân
loại tiến bộ ngày nay.
CHƯƠNG
II
Diễn
Trình Đạo Phật
Điều
7 – Dưới chiều hướng nhận thức, Đạo Phật đã hiển
nhiên trong một thuyết minh tự biến trong cộng biến và cộng
biến trong tự biến; dưới chiều hướng thế giới, Đạo
Phật đã nói lên vấn đề tự do cá nhân trong tập thể xã
hội; dưới chiều hướng hành động, Đạo Phật đã đưa
ra một phương pháp tự giác giác tha. Đó là cỗi gốc của
Đạo Phật, thời kỳ duy nhất ở Ấn Độ xưa.
Điều
8- Khoảng một trăm năm sau ngày đức Thế Tôn nhập diệt,
Đạo Phật bắt đầu phân phái: Thượng Tọa bộ thiên nặng
về khuynh hướng tự do tự giác; Đại Chúng bộ thiên nặng
về tập thể giác tha. Và, trong hai phái này còn có nhiều
tông phái xuất hiện làm cho Đạo Phật trở thành vô cùng
phồn thịnh.
Điều
9 – Đại Chúng bộ, ngược hướng bắc, phát triển ở Népal
(Thiên Trúc) truyền qua mông Cổ và Trung Hoa, Nhật bản và
Việt Nam. Thượng Tọa bộ, xuôi theo hướng Nam, phát triển
ở Tích Lan truyền qua Miến Điện, Thái Lan, Lào, Campuchia rồi
gặp Đại chúng bộ tại miền Nam nước Việt.
Điều
10 – Đạo Phật truyền tới đâu đã dung hòa với các nền
văn minh địa phương để tạo cho địa phương ấy một sắc
thái từ bi đạo hạnh; nên Đạo Phật mỗi ngày thêm phong
phú hơn là nhờ ở các cuộc dung hợp này. Đặc tính của
Đạo Phật là dung hóa sáng suốt, đón nhận mọi phát huy
của con người, và đã thích ứng với mọi nơi, mọi thời
đại.
Điều
11 – Hiện nay, hai nền văn minh Thượng tọc bộ và Đại
chúng bộ bổ sung cho nhau ở Việt Nam; để tạo thành một
Đạo Phật duy nhất và toàn diện, cung ứng cho nhân loại
một nền văn minh tự do cá nhân trong tập thể xã hội; để
làm môi trường dung hợp cho hai nền văn minh cá nhân cực
đoan và xã hội quá khích.
Điều
12 – Sự kiện Đại thừa và Ti63u thừa hợp nhất để thức
tỉnh hai hệ thống tư tưởng tinh thần và :duy vật" hiện
nay tại Việt Nam, cũng như sự hưởng ứng của các quốc
gia –không phân biệt Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ
– đã nói lên ý chí thống nhất Đạo Phật trên một bình
diện rộng lớn hơn. Bằng vào ý chí đó, Phật giáo đồ
phát nguyện quyết tâm xây dựng một Đạo Phật duy nhất
toàn diện để nâng đỡ, hướng dẫn tinh thần con người
trên đường giải thoát nhiệm mầu.
CHƯƠNG
III
Con
Người Đạo Phật
Điều
13 – Đạo Phật nhận rằng: vạn vật, chúng sinh đều có
Phật tính: con người đều có khả năng thành Phật, do đấy
con người trong Đạo Phật là con người của mọi tầng lớp
xã hội, mọi quốc gia, mọi tôn giáo, trên mặt đất và trong
tam thiên đại thiên thế giới.
Điều
14 – Mặc nhiên là con người Đạo Phật, khi tự nhận là
một người sinh hoạt trên ba chiều hướng: nhiên giới, tâm
giới, siêu việt giới, và ý thức được mình là con người
hiện hữu, rồi nhận trách nhiệm về sự hiện hữu của
mình để tự chủ tu chứng và thực hiện ba đại hạnh: đại
bi, đại trí, đại hùng.
Điều
15 –Ý thức là con người Đạo Phật, khi người đó đã
hấp thụ và tu chứng bằng phương pháp của Đạo Phật, rồi
đặt mình vào hàng ngũ Phật tử để hoằnh dươn chính pháp.
Những người này được chia làm ba loại: Hiện thế tăng,
Thăng thế tăng và Siêu thế tăng.
Điều
16 – Hiện thế tăng là các Pật tử tu tại gia đã phát nguyện
thụ trì tam qui và ngũ giới để thể hiện Phật pháp trong
cuộc sống hằng ngày, đem vào cho đời một nếp sống Bi
Trí Hùng giúp nhân loại đặt lại giá trị cho con người,
an bình cho xã hội.
Điều
17 – Hiện thế tăng có thể tự nguyện gia nhập các hội
đoàn phật giáo, như: hội nghiên cứu Phật học, hội tương
tế Phật giáo, hội tịnh độ Phật giáo, hội văn nghệ sĩ
Phật giáo, hội y dược sĩ Phật giáo, đoàn sinh viên Phật
tử, đoàn thanh niên Phật tử, thanh nữ Phật tử, thiếu niên,
thiếu nữ Phật tử, đoàn lao động Phật giáo v.v..
Điều
18 – Thăng thế tăng là các tu sĩ xuất gia, từ bỏ mọi ràng
buộc gia đình, kinh tế, chính trị, để tu tập duy trì, phát
huy và hoằng dương chính pháp, nâng đỡ tinh thần quần chúng
bằng lối giảng dạy hoặc bằng phong thái sống của mình.
Ngoài phần tu học và hướng dẫn tinh thần quần chúng, Thăng
thế tăng còn là những người làm tất cả mọi việc mà
người tu sĩ làm được để hàn gắn những rạn nứt, khổ
đau cho xã hội, tức là giúp đỡ quần chúng cả về mặt
tinh thần lẫn vật chất.
Điều
19 – Để thành một Thăng thế tăng, không phân biệt nam nữa,
nếu phát nguyện hei61n dâng trọn vẹn đời mình cho Phật
pháp đều được chấp nhận, nhưng để hoàn hảo tăng chúng,
trước khi được nhận là một tăng sĩ thực thụ, phải qua
một giai đoạn thử thách cần thiết (theo qui luật riêng của
tăng chúng), có ba phẩm trật trong gia đình Thăng thế tăng
là tăng sinh, đại dức và thượng tọa.
Điều
20 – Tăng sinh là các tu sĩ đã đủ mười tám tuổi, học
hết bậc trung học phật giáo, sau khi thụ Sa di giới và phát
nguyện giữ "mười giới". Nam được gọi là tăng sinh. Nữ
được gọi là ni sinh.
Điều
21- Đại đức là những tăng sĩ đủ hai mươi tuổi, học
hết bậc đại học Phật giáo, đã thụ Tỳ khưu giới và
đủ năm hạ lạp. Nam giới gọi là đại đức, phát nguyện
giữ hai trăm năm mươi giới, Nữ gọi là Ni sư, phát nguyện
giữ ba trăm năm mươi giới.
Điều
22 – Thượng tọa là cá đại đức có đủ mười hạ lạp
và được đức Pháp củ sắc phong. Các vị này thuộc hàng
giáo phẩm cao nhất của Thăng thế tăng.
Điều
23 – Siêu thế tăng là các bậc trưởng lão đã có những
hạ lạp cao và đức hạnh đầy đủ, thoát khỏi mọi vòng
tục lụy; ở trường hợp đặc biệt, các vị tổ của các
tông phái, hay các vị được tăng chúng truy nhận đã chứng
đạt được hạnh siêu thế tăng thì không kể tuổi tác và
thời gian hoằng pháp. Các vị này gọi là hòa thượng.
Điều
24 – Hòa thượng là các vị thể hiện trọn vẹn tinh thần
giải thoát của Đạo Phật, nên các ngài là những vị lãnh
đạo cố vấn của giáo hội, tuy không còn hoằng pháp bằng
lời, bằng thân, nhưng là hoằng pháp bằng tâm lực của mình
đối với việc hóa độ chúng sinh.
CHƯƠNG
IV
Tổ
Chức Giáo Hội
Điều
25 – Vị lãnh đạo tinh thần tối cao của giáo hội là đức
Pháp chủ[11]. Đức Pháp chủ là vị thể hiện trọn vẹn
giáo tính, giáo pháp, và giáo luật, do đấy dức Pháp chủ
là một Siêu thế tăng có đại đức, đại trí, đại hùng.
Điều
26 – Đức Pháp chủ do viện Chưởng pháp nhất trí suy tôn.
Điều
27 – Đức Pháp chủ là vị lãnh đạo, trọn đời.
Điều
28 – Đức Pháp chủ là tiếng nói chung quyết của mọi vấn
đề Phật giáo.
Điều
29 –Đức Pháp chủ tấn phong các hàng giáo phẩm và tuyển
lựa các vị hòa thượng, thượng tọa để xung vào viện
Chưởng pháp.
Điều
30 – Viện Chưởng pháp gòm các vị hòa thượng, thượng
tọa do đức Pháp chủ ủy nhiệm và hủy nhiệm, cũng như
ấn định viện số.
Viện
này là cơ quan lập pháp của giáo hội. Mỗi năm họp một
lần.
Điều
31 – Viện Chưởng pháp [12] suy cử ra một viện Hoằng pháp
của Giáo hội.
Điều
32 – Viện Hoằng pháp của Giáo hội điều hành và giải
quyết mọi vấn đề của Phật giáo.
Điều
33 – Nhiệm kỳ của viện Hoằng pháp là ba năm.
Điều
34 – Đứng đầu viện Hoằng pháp là một vị tăng chủ[13]
Điều
35 – Tăng chủ điều lý mọi vấn đề đối nội, đối ngoại
và ký tên trong mọi văn kiện của giáo hội.
Điều
36 –Tăng chủ triệu tập các cuộc họp thường và bất thường
của viện Hoằng pháp và chủ tọa các cuộc họp đó.
Điều
37 – Tăng chủ luôn luôn là người thừa ủy nhiệm của đức
Pháp chủ trong việc điều lý Phật giáo, và chịu sự kiểm
soát của viện Chưởng pháp.
Điều
38 – Phụ tá tăng chủ có hai vị phó tăng chủ, hai vị này
đại diện tăng chủ trong lúc vắng mặt.
Điều
39 – Một bộ tăng vụ coi việc tổ chức giáo hội, tổ chức
các hội đoàn và thuyên chuyển tăng sĩ. Lập sổ bộ tăng,
tín đồ, cấp phát chứng minh thư. Đứng đầu là một vị
tăng vụ trưởng và có các tăng sĩ giúp việc.
Điều
40 – Một bộ tăng luật coi việc kiểm soát tăng chúng và
gìn giữ giới luật, nghiên cứu luật pháp nhà nước liên
quan đến Phật giáo và tôn giáo. Đứng đầu là một vị
tăng luật trưởng và có các tăng sĩ phụ lực.
Điều
41 – Một bộ tăng thiệp coi việc ngoại giao của giáo hội,
liên lạc với các tổ chức, các hệ phái trong và ngoài nước,
giao thiệp chính quyền, tham dự các hội nghị quốc tế. Đứng
đầu là một vị tăng thiệp trưởng và có các tăng sĩ phụ
tá.
Điều
42 – Một bộ tăng hóa coi việc văn hóa, giáo dục và hoằng
pháp. Đứng đầu là một vị tăng hóa trưởng và có các
tăng sĩ phụ giáo.
Điều
43 – Một bộ tăng lễ coi việc lễ nghi của giáo hội. Đứng
đầu là một vị tăng lễ trưởng và có các tăng sĩ hộ
trì.
Điều
44 – Một bộ tăng phúc coi việc y tế, lập nhà thương, cô
nhi viện, dưỡng lão viện và các công tác từ thiện xã hội,
khai thác cơ sở. Đứng đầu là một vị tăng phúc trưởng
và có cá tăng sĩ phụ lực.
Điều
45 – Một bộ tăng quản coi việc quản thác và giữ gìn tài
sản Tam bảo. Trùng tu, kiến thiết các cơ sở giáo hội. Đứng
đầu là một vị tăng quản trưởng và có các tăng sĩ thừa
hành.
Điều
46 – Một vị tăng thư trưởng, một vị tăng thư phó thường
trực tại trụ sở trung ương vá có các tăng sĩ phụ nhiệm.
Điều
47 – Các tăng sĩ giúp việc ở các bộ thì do các vị đứng
đầu mỗi bộ tuyển chọn. Viện Chưởng pháp chỉ bầu các
vị trưởng và phó (nếu có) ở mỗi cơ quan trung ương.
Điều
48 – Dưới giáo hội trung ương là miền. Mỗi miền có một
vị thượng tọa tăng trưởng đại diện miền điều hành.
Điều
49 – Tăng trưởng do đức Pháp chủ tấn phong và tăng chủ
ủy cử quản nhiệm mỗi miền.
Điều
50 – Dưới miền là thành, tỉnh do một vị đại đức tăng
giám điều khiển.
Điều
51 – Tăng giám do giáo hội ủy cử và tăng trưởng ở mỗi
miền là tỉnh, thành trực thuộc thuyên chuyển.
Điều
52 – Dưới thành, tỉnh là khu. Mỗi khu có một vị tăng đạo
điều khiển.
Điều
53 – Tăng đạo do tăng trưởng ủy cử và tăng giám của
tỉnh liên hệ thuyên chuyển.
Điều
54 – Các hàng giáo phẩm điều khiển ở mỗi cấp, có thể
tuyển thêm tăng sĩ hoặc cư sĩ giúp việc nếâu cần. Riêng
trường hợp các tăng sĩ thì phải xin ở bộ tăng vụ cung
ứng.
Điều
55 – Về ni bộ, theo như các thể thức thành lập các hội
đoàn (các Phật tử cư sĩ tại giá hiện thế tăng) được
qui định ở các điều 15, 31, 34, 36, 38 và do tăng vụ trưởng
tăng bộ trực tiếp điều khiển.
Điều
56 – Các hội đoàn (Hiện thế tăng) chỉ được thành lập
sau khi đã đệ trình nội qui lên cấp giáo hội trực thuộc,
và được giáo hội trung ương cho phép mới chính thức họat
động.
Điều
57 – Hội đoàn tự bầu lấy ban chấp hành nhưng về mặt
lãnh đạo tinh thần đều do các hàng tăng sĩ đảm nhận.
CHƯƠNG
V
Quản
Chưởng Giáo Hội
Điều
58- Tất cả tự viện, học viện, thư viện, các trường Đại,
Trung, Tiểu học Bồ đề đều trực thuộc giáo hội.
Điều
59 – Tất cả động sản và bất độnd sản của các chùa
có thập phương đến hành hương đều thuộ cquyền quản
chưởng của giáo hội.
Điều
60 – Những tài sản do thập phương tiến cúng được phân
làm ba phần, để: 1) sửa sang chùa cảnh; 2) dùng vào việc
hoằng pháp; 3) làm việc tăng sự.
Điều
61 – Phần tiền dành vào việc hoằng pháp thì các chùa phải
gửi lưu tại quỹ giáo hội trung ương để thực hiện chương
trình hoằng pháp rộng lớn và duy nhất.
Điều
62 – Các chùa, am, tịnh xá của các tăng sĩ hay cư sĩ tự
lập thì không thuộc quyền quản chưởng của giáo hội, nhưng
đều được giáo hội bảo trợ về mặt tinh thần.
Điều
63 – Tất cả tăng sĩ có thể lập trường học, bệnh viện…
và làm các việc "thường" hợp với khả năng của bậc tu
trì, nhưng lợi tức phải trích ra một phần ba xung vào quỹ
Tam bảo. Vì cuộc sống của các vị là do giáo hội chu toàn.
CHƯƠNG
VI
Kỷ
Luật Giáo Hội
Điều
64 – Kỷ luật của tăng bảo là kỷ luật tự nguyện, tự
giác để đi tới tự trị, tự lý, nên giáo hội không thưởng
người có công, cũng không phạt người có tội, bằng những
hình thực thông thường. Giáo hội chỉ nêu công tội thành
vấn đề cảnh tỉnh chung.
Tuy
nhiên, trong trường hợp tăng sĩ nào phạm tội "tứ trọng,
ngũ nghịch", tức là đã có ý ly khai với giáo hội, thì giáo
hội mới trục xuất.
Điều
65 – Đối với thế luật thì tăng sĩ cần nỗ lực đến
cùng để điều hợp thế luật với giáo luật, bằng phương
pháp từ bi bất bạo động.
Điều
66- Một tăng sĩ coi là phạm thế luật nhưng đích thực tâm
mình ngay thẳng chân chính thì vẫn không phạm giáo luật.
Điều
67 – Trường hợp tăng sĩ bị thế luật buộc tội không
oan, tức là có tà tâm thực sự, thì mặc nhiên đã phạm
giáo luật.
Điều
68 – Tăng sĩ không được nhân danh mình để nhận hàm tước
và tặng thưởng của thế tục, mà phải nhân danh giáo hội
để nah65n các thứ đó.
Điều
69- Giáo hội không hạn chế bất cứ một sáng kiến nào,
nhưng chỉ áp dụng những sáng kiến đó khi xét thấy không
ngược với Phật pháp.
CHƯƠNG
VII
Thực
Hiện Hiến Chế
Điều
70 – Bản Hiến chế này, sau khi đã được đại biểu các
cấp giáo hội Phật giáo Việt Nam hội hợp tại… từ ngày…
đến ngày… tháng… Phật lịch 2507, đã thảo luận kỹ từng
chương, điều và đã được hội nghị biểu quyết chấp
thuận. Hội nghị cũng đã cung thỉnh đức Pháp chủ, vị
lãnh đạo tối cao của giáo hội và ngài thay mặt đại biểu
hội nghị công bố, ban hành bản Hiến Chế này.
Điều
71 – Việc sửa đổi Hiến Chế phải do một hội nghị đặc
biệt của đầy đủ các vị Hòa thượng, thượng tọa viện
Chưởng pháp mới có quyền quyết định.
Điều
72 – Bản Hiến Chế này gồm bảy (7) chương, bảy mươi hai
(72) điều và …. Chữ.
Làm
tại Sài Gòn, ngày… tháng 12 năm 1963, Phật lịch 2507
LỜI
KẾT
"Trang
ử Việt cũng là trang sử Phật"[14] V.H.C
Suốt
dọc dài lịch sử cách nay thiên niên kỷ, ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG
SỬ VIỆT đã chứng minh sự có mặt của mình trong cuộc Sinh
Hoạt Toàn Diện của dân độc, với mục đích chân hóa, thiện
hóa, mỹ hóa nếp sống Việt Nam. Nhìn lại quá trình hơn một
ngàn năm xã hội Việt Nam chìm da981m dưới sự thống trị
của người phương Bắc thì, quả là mối duyên kỳ ngộ,
Đạo Phật truyền vào nước ta, mở ra cho người Việt một
lối thoát bằng ánh sáng của đạo lý Giác ngộ Giải Thoát
và Tự Chủ; để từ đó tạo điềi kiện nhân duyên cùng
với lối sống của người Việt hình thành một nền VĂN
HÓA DÂN TỘC VIỆT SÁNG, ĐẸP. Mà bản chất của nền văn
hóa Việt Phật ấy được thể hiện rõ nét nhất qua hai triều
đại văn minh Lý – Trần. (Quả tình) Đạo Phật đã có những
cống hiến thự ctế to lớn đối với tổ quốc Việt Nam,
trong sự nghiệp ud75ng nước, giữ nước: đánh giặc phương
Bắc, dẹp loạn phương Nam, bảo toàm lãnh thổ và chủ quyền
độc lập của quốc gia Đại Việt ở thế kỷ XI-XIV cũng
như đã và đang là sứ mệnh "giải cứu sinh dân" đối với
những quốc gia Phật giáo và toàn thế giới nhân loại. Đạo
Phật vào Việt Nam bằng cửa ngõ hòa bình như vào nhà mình,
không giống các đạo lý và ý hệ khác đến Việt Nam bằng
cách phô trương ầm ĩ, sắt thép… Đạo Phật (sở dĩ) được
toàn dân Việt nồng nhiệt đón nhận là vì tinh chỉ giáo
lý Đạo Phật không bao giờ trái với sự việc nào, bất
cứ ở đâu, hạng người nào, khi con người biết hướng
về chân lý. Mà Đạo Phật là chân lý.
Đạo
Phật đã gây được "dân phong quốc tục ĐẸP" nên, từ thuở
xa xưa, tổ tiên ta đã SỐNG… và truyền đến cho con cháu
ngày nay – dù lớp con cháu có hiểu hay không hiểu gì về
nguồn giáo lý cao đẹp Đạo Phật; nhưng trong tiềm thức
họ (không nhiều thì ít) đều có mang torng mình dòng máu "tín
ngưỡng Phật giáo" rồi vậy – nên mọi ý tưởng, ngôn từ,
hành động họ như đã sống thực và thể hiện đúng tinh
thần của 'đạo" họ tin theo. Hay nói cách khác, Đạo Phật
Việt Nam cũng chính là quần chúng nhân dân Việt Nam .
Đạo
Phật là ánh sáng của TRÍ TUỆ và là suối nguồn TỪ BI làm
tươi mát hồn người và tạo sự an vui cho cuộc đời.
Đạo
Phật và Dòng Sử Việt quả đã đồng nhất trong dòng sống
tích lũy của lịch sử: đó là truyền thống tốt đẹp của
người Việt tin thờ Đức Phật đã có chiều sâu và bề
dày của hai mươi thế kỷ trường tại và còn nối tiếp
mãi mãi…
HỒN
DÂN TỘC SỐNG TRONG ĐẠO PHẬT