[1]
. Sách Hậu Hán Thư (chương 33 tờ 8a), nói về sự phân chia
Giao Châu với Quảng Châu như sau:
“Trị
sở Giao Châu là huyện Luy Lâu. Niên hiệu Nguyên Phong thứ
V (106 tr TL), trị sở ấy sau được dời đến huyện Quảng
Tín, đất Thương Ngô”.
Lời
sớ của Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (q2 tờ
7a, hg 7) xác định rằng: Luy Lâu là một huyện thuộc đất
Giao Chỉ, tại làng Lũng Khê, huyện Siêu Loại, tỉnh Bắc
Ninh (sách PGVN, từ khời nguyên đến thế kỷ XIII, trang 66,
dòng 18 - 26).
[2].
Lịch sử hàng hải quốc tế xác nhận: từ thời tối cổ
vùng Viễn Đông và Thái Bình Dương đã là nơi có sự buôn
bán phồn thịnh hàng hải rồi. Người Trung Hoa đã biết sử
dụng địa bàn từ thời tiền sử khoảng XXX thế kỷ tr TL;
hơn nữa, một phần phía Nam Trung Hoa được đặt trong vùng
ảnh hưởng gió mùa định kỳ. (Rất có thể) vào năm 1398
tr TL một người Trung Hoa tên Chien-Ho đã tiếp xúc với các
quần đảo rải rác hoặc đã đặt chân lên vùng đất California,
thuộc nước Mỹ. Chúng ta cũng cần chú ý là kỹ nghệ đóng
thuyền viễn dương của Trung Hoa. Từ nghìn xưa loại thuyền
buồm Trung Hoa vẫn được nổi tiếng với thế giới. Năm
414 Tây lịch, Thiền sư Pháp Hiển - Fa hsien -(Trung Hoa)đã dùng
thuyền viễn dương rất đồ sộ chở được trên 200 người
từ Java về Quảng Châu thuộc tỉnh quảng Đông. Mà mãi đến
năm 1492 Chritophe Colomb mới đặt chân lên đất Mỹ. Không
phải đợi đến thời thiền sư Pháp Hiển mới có sự thông
thương bằng đường biển giữa Ấn Độ Dương với biển
Trung Hoa. Sự thương mại bằng đường biển cổ thời giữa
Địa Trung Hải, biển Baltique và Hắc Hải ở Âu châu không
có gió mùa mà còn được phát triển rất mạnh, huống hồ
các nước nằm trong hệ thống gió mùa định kỳ đã đóng
góp rất mạnh mẽ vào chương trình đi về một cách rất
chính xác, giúp cho các thương nhân đỡ sức lao động, và
do đó thuyền có thể rất lớn, chở nặng được.
Người
Ấn Độ ngay từ hồi còn định cư ở lưu vực Indus, phía
tây bắc Ấn Độ, đã có truyền thống thương mại hàng hải
thuộc biển Ả rập với các nước Âu Châu rồi. Khoảng 300
năm tr TL, dưới triều đại Maurya, nước Magadha, đại đế
Chadragupta trị vì một vương quốc rộng nhất thời bấy giờ.
Đến đời cháu đích tôn của đại đế, là thánh quân Asoka
của triều đại maurya đã lên đến tuyệt đỉnh vinh quang.
Ta cũng nên nhớ rằng, vào khoảng hai thế kỷ cuối cùng trước
kỷ nguyên Tây lịch, có một biến cố lớn xảy ra ở Ấn
Độ. Đó là con đường thương mại vàng bị cắt đứt; từ
trước, Ấn Độ vẫn mua vàng tại Tây bá Lợi Á. Các đoàn
lữ hành vận tải vẫn thường dùng con đường Bactrianeđể
thông thương bị các phong trào quần chúng Trung Á nổi dậy
ngăn chặn con đường thương mại này. Ấn Độ đành phải
quay sang phương Tây để mua vàng, thuộc thế giới La Mã. Người
Ấn Độ mua các đồng tiền vàng về rồi nấu cho chảy ra
để sử dụng theo ý mình; do đó, hoàng đế Vespasian ngăn
cản, không cho vàng chảy ra ngoại quốc nữa. Ấn Độ liền
quay sang “Kim Thổ” tức là sang bán đảo Ấn - Hoa. Như ta
biết là kỹ thuật hàng hải viễn dương lúc ấy rất thuận
tiện. Gió mùa đã được sử dụng. Các con đường buôn viễn
dương có thể chở được 700 hành khách đã thấy xuất hiện
trên các hải đảo rồi. Và, làn sóng di dân có khuynh hướng
lan rộng rõ rệt mỗi ngày dồn về phía Đông mạnh hơn, bằng
hai ngả đường bộ và đường thủy: Phía bắc Ấn Độ,
con “đường buôn lụa” sang tới Trung Hoa là con đường
chính mà các nước thuộc vùng Thượng Huyền, vùng Trung Á
và Địa Trung Hải buôn bán với Viễn Đông, thuộc Trung Hoa.
Con đường này lại hay có nạn bị cướp, thường do các
nước có truyền thống văn minh bản xứ lâu đời và hiếu
chiến sử dụng. Còn con đường về phương Nam thông với
Nam á là con đường biển. Đường biển có lợi là có
thể chở được nhiều hàng, nhiều nước ngọt, lương thực
và người trên những con thuyền lớn. Hơn nữa, con đường
biển nhờ có hệ thống gió mùa định kỳ nên khách hàng
có thể yên trí tính toán chương trình nhất định ngày đi
về được rất chính xác. Còn một điều này nữa cũng cần
để ý, đó là các dân tộc sử dụng, “cong đường buôn
lụa” hay có tính bảo tồn bản chất văn hóa Ấn Độ; nhưng
nếu sử dụng con đường này để đưa văn minh vào các nước
Đông Nam Á Châu thì kết quả mong đợi rất khác xa với kết
quả thu được ở những nước do đường biển đưa tới.
Những nước phía Đông Nam Á Châu chịu ảnh hưởng bản chất
Indonesien và Melanesien nhiều hơn là Mongolique. Do đó, văn minh
Ấn Độ thâm nhập vùng Đông Nam Á có vẻ nhộn nhịp hơn.
Phong trào di cư của người Ấn Độ trong đó (hẳn nhiên)
có các nhà sư ấn Độ đã đem Đạo Phật truyền vào vùng
Đông Nam Á, có thể bắt đầu từ thời đại Asoka, nhưng
chỉ lẻ tẻ và nhiều đợt, phong trào trở thành rầm rộ
thì vào khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Các phong trào này
dùng đường biển nhiều hơn là đường bộ.
[3].Vua
Dục đi: nghĩa là, Tháp Dục Vương (Asoka) đổ nát.
[4].Vua
sau: nghĩa là, Tháp Tường Long của vua Lý Thánh Tông cũng đã
đỗ nát rồi.
1.Thích
Đức Nghiệp, Đạo Phật Việt Nam, trang 29 - 34.
1.Lê
Mạnh Thát, nghiên Cứu Về Mâu Tử, trang 1 và 2, Tu Thư Vạn
Hạnh xuất bản, 1982.1Cách nay khoảng 30 năm, tôi nhớ, trên
những chuyến đò ngược xuôi, người xẩm mù lòa chuyên đi
hát rong và thường mang theo mình cây đàn nhị, hoặc chiếc
trống bỏi, có khi một ống sáo, đi kèm bên một em bé dẫn
đường, tay cầm chậu thau để xin sự “bố thí” của đồng
bào thập phương; anh ta vừa kéo nhị (hoặc đánh trống, thổi
sáo) và nghêu ngao hát những câu (giọng khàn khàn) “Phúc
đức Tổ ấm, bà ơí!
Làm
duyên làm phúc cho tôi với nào”. Cũng có khi người
ta nói: “phúc đức tại mẫu, bà ơi hay ông ơi, anh ơi, chị
ơi, cô ơi.”
Hai
chữ “phúc đức” quả đã là nguồn Sống tràn trề hy vọng
mà lẽ nhân quả luân hồi tội phúc báo ứng của Đạo Phật
đã gieo vào tiềm thức sâu thẳm của giống nòi Lạc Việt,
để mỗi ngày vun bồi cho cây “đức” thêm sum suê, tươi
tốt.
2trong
thơ NGUYỄN CÔNG TRỨ có câu:
“
Dân hữu tứ, sĩ chi vi tiên
tước
hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt”.
3Chúng
tôi đề nghị độc giả nên đọc thêm cuốn “Đạo Phật
Với Con Người” của HT. Tâm Châu.
1Cuộc
Khởi Nghĩa đầu tiên của hai chị em Bà Trưng chống quân
Đông Hán vào năm 40 của thế kỷ đầu Tây lịch là do các
quan lại Trung Hoa đã không biết tôn trọng quyền tự trị
của dân tộc Việt, mà chỉ chuyên chú vào việc khai thác
kinh tế, làm giàu cá nhân. Và cuộc khởi nghĩa thứ hai
của bà Triệu, năm 248 Tây lịch, chống Đông Ngô, cũng vì
Trung Hoa không muốn để dân tộc Việt tự trị, hòng đồng
hoá và tiêu diệt người Việt mau hơn. Vì sự tồn tại của
giống nòi, người Việt đã phản tỉnh kịp thời, tìm phương
đối phó lại với người phương Bắc (Trung Hoa). Hai
cuộc khởi nghĩa mang màu sắc quí tộc Lạc hầu, Lạc tướng
(đời Trưng) hay màu sắc bình dân hứng khởi tình cảm (Bà
Triệu, tức Triệu Thị Trinh) cũng đã gây được cho lớp
hậu tiến niềm phấn khởi tự tin: giải phóng quốc gia khỏi
gông cùm phương Bắc.
Nhưng
từ khi vương triều Bà Trưng đổ thì chế độ quí tộc Lạc
hầu, Lạc tướng cũng đổ theo. Cuộc khởi nghĩa của Bà
Triệu mang tính cách quần chúng tự phát, vì các nhà quí tộc
có uy tín đã bị tru diệt cả rồi.
Như
đã biết: Nước Trung Hoa phần nhiều ít chú trọng tới phương
Nam bằng phương Bắc, và hễ bao giờ ở chính quốc có rối
loạn thì sự cai trị ở Giao Châu lại càng lỏng lẻo hơn
và nhiều khi là không cần thiết. Chỉ bao giờ chính quốc
ổn định rồi thì người Trung Hoa mới lại dồn lực quay
về phương Nam để thắt chặt thêm vòng xích đô hộ.
Các
cuộc khởi nghĩa của Việt Nam đều phải ăn nhịp với các
sự biến động tại chính quốc. Do đó có thể phân chia ý
thức quốc gia Việt Nam hay nói khác đi, sự đối kháng, sự
bảo tồn văn hóa của Việt Nam đối với văn hóa Trung Hoa
qua năm thời kỳ:
1.
THỜI KỲ ĐỐI KHÁNG, tức là thời kỳ bắt đầu từ đời
Hồng Bàng lập quốc, từ thời Hùng Vương đến thời hai
Bà Trưng.
2.
THỜI KỲ THỎA HIỆP, tức là thời kỳ bắt đầu từ Tích
Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp. Lúc này nước Việt Nam có lác
đác vài nhà trí thức như Lý cẩm, Lý Tiến .v.v.. sang Trung
Hoa du học, đã đổ đạt và làm quan.
3.
THỜI KỲ QUẬT KHỞI, Nhà Tiền và hậu Lý Nam Đế (542 - 602)
và họ Khúc (906 - 923) đã mở màn cho thời kỳ chế độ tự
chủ.
4.
THỜI KỲ PHẢN TÆNH, Nhà Ngô (939 - 965) có công phế bỏ thứ
văn hóa nô dịch của người phương Bắc. Tuy nhiên giai đoạn
này mới chỉ là “phản tỉnh” tự chủ mà thôi; cho nên
trong nước mới phát sinh nạn cát cứ không mấy tốt đẹp.
5.
THỜI KỲ SÁNG TẠO, ĐỘC LẬP, nhà Đinh (960 - 980) Tiền Lê
(981 - 1009) đã mở màn cho giai đoạn quốc gia, độc lập để
sau này hai triều đại Lý - Trần phát triển ý thức văn hóa
quốc gia hùng mạnh.
Nếp
sống vĩ đại của Phật giáo, vốn đã sinh hoạt mạnh mẽ
ở Việt nam, qua từng thời kỳ, và rất tế nhị, uyển chuyển
để tuỳ duyên tế độ sinh dân. Sang tới triều đại Lý
- Trần là thời kỳ Sáng tạo Văn Hóa Độc Lập của quốc
gia dân tộc thì Phật giáo công khai dấn thân hoạt động
một cách đắc lực hơn bao giờ hết.
Tại
Việt Nam, thời thượng cổ, vào giai đoạn thỏa hiệp văn
hóa bắt đầu từ Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp, đã có
một phong trào chịu ảnh hưởng văn hóa phương bắc, chủ
thuyết thần phục Trung Hoa cùng tranh tốn với phong trào cự
tuyệt văn hóa “thiên triều”, chủ trương độc lập quốc
gia, do các nhà văn hóa thiền sư Việt nam trực tiếp thu nhận
từ nguồn văn hóa Đạo Phật dưới thời họ Lý, họ Khúc.
Thời
quật khởi kéo dài già nửa thế kỷ (542 - 602) cũng qua đi
để nhường cho thời kỳ phản tỉnh sáng tạo. Nhìn tổng
quát, ta thấy tư tưởng phương Bắc với ý định tiêu diệt
các cơ sở tinh thần Việt Nam, cho nên, sau khi nhà Đông Ngô
sụp đổ thì nước ta bị đặt dưới ách đô hộ của nhà
Tấn. Nhà Tấn tan rã thì Tống, Tề, Lương thay nhau tuần tự
ngự trị đất nước Việt. Nhà Tống vừa bị đổ (479 TL)
thì nhà Tề kế vị, và 22 năm sau, nhà Lương hạ nhà Tề,
rồi nắm độc quyền thống trị nước Việt. Kể từ khi
nhà Tống mất ngôi, nước Trung Hoa rối lọan rất nhiều.
Lúc này, vị quan cai trị Giao Châu, là thứ sử Tiêu Tư, lợi
dụng tình thế rối ren tại chính quốc liền tung hoành hà
hiếp vơ vét của cải người dân thuộc quốc. Đây là cơ
hội để người Việt có dịp quật khởi, và cuộc khởi
nghĩa của Lý Nam Đế đã diễn ra vào mùa xuân năm 542 (xem
mục “Công Cuộc Dựng Nước Tời Tiền Lý”).
3Theo
PHẠM TIỆP, một văn sĩ kiêm sử gia chính khách Trung Hoa đời
Tống, thời đại Nam - Bắc triều thế kỷ thứ V TL, tác giả
sách HẬU HÁN THƯ dẫn chứng ở q24, Mục mã Viện Liệt Truyện,
do Thượng Hải Trung Hoa Thư Cục, q5, tờ 8b ghi:
“viện
tương lâu thuyền đại tiểu nhị thiên dư sưu, chiến sĩ
nhị vạn dư nhân, kích Cửu Chân tặc Trưng Trắc dư đảng
Đô Dương đảng, tự Vũ Thiết chí Cự Phong, trảm hoặch
ngũ thiên dư nhân; Kiều Nam tức bình. Viện tấu ngôn: Tây
Vu huyện, hộ hữu tam vạn nhị thiên, viễn giới khứ Đình
thiên dư lý, thỉnh phân vi Phong Khê, Vọng Hải nhị huyện.
Hứa chi. Viện sở qua chiếp vi quận huyện, trí thành quách,
xuyên cừ quán khái, dĩ lợi kỳ dân, điều tấu Việt luật
dư Hán luật hiện thập dư sự; dữ Việt nhân thân minh cực
chế, dĩ ước thúc chi; tự hậu, Lạc Việt phụng hành Mã
tướng quân cố sự”.
Nghĩa
là:
“viện
đem lâu thuyền (thuyền cao hai tầng), lớn nhỏ hơn hai vạn
binh sĩ đánh quận Cửu Chân dư đãng của Bà Trưng Trắc là
bọn Đô Dương, từ đất Vũ Thiết đến đất Cự Phong, vừa
chém, vừa bắt được hơn năm ngàn người; cõi Kiều Nam (tức
Lĩnh Nam) đều bình định. Viện tâu lên vua rằng: huyện Tây
Vu (thuộc quận Giao Chỉ), có ba vạn hai ngàn nhà, biên giới
xa nhất, cách Trung Hoa (huyện Đình) hơn ngàn dặm. Vậy xin
chia làm hai huyện Phong Khê và Vọng Hải. Vua Hán y cho lời
tâu. Viện đi qua xứ nào, liền đặt ra quận huyện, xây thành
quách, đào ngòi tát nước, để làm lợi cho dân. Có điều
trần tâu luật của người Việt, so sánh với luật Hán có
hơn mười điều. Rồi ban bố rõ phép cũ cho người Việt
biết, để bó thúc dân Việt. Từ đó về sau, dân Lạc Việt
phải tuân theo phép cũ của Mã Viện”. Dẫn theo sách Trung
việt Pháp Luật Tỷ Giảo, trang.
1HỔ
THÍCH VĂN TỔN, tập IV, Mục “Lăng Già Tông Khảo’, tác
giả dẫn sách Tục Cao Tăng Truyện, q212, kể sự tích thiền
sư ĐÀM THIÊN, đời Tuỳ, có thành lập một Đạo Tràng Thiền
Định ở Tây Kinh. Nhà học giả kiêm triết gia Hồ Thích viết
về thiền sư Thích Đàm Thiên như sau:
“Thiền
sư Thích Đàm Thiên, quê ở Thái Nguyên, chuyên nghiên cứu
các kinh Hoa Nghiêm, Duy Ma, Lăng Già.. khi gặp nạn nhà Bắc
Chu hủy diệt chính pháp, thiền sư đời đến phương Nam học
thêm về Duy Thức, Nhiếp Đại Thừa Luận (trong sách không
thấy nói là thiền sư đã tham học với vị nào.) và ngài
rất tâm đắc “ý chỉ” của hai bộ luận này. Sau thiền
sư trở về Bắc, rồi ở hẳn đây mở trường dạy về Nhiếp
Đại Thừa Luận, Khởi Tín Luận và Kinh Lăng Già. không bao
lâu, thiền sư trở thành một vị đại sư nổi tiếng đương
thời. Thiền sư hợp tác cùng vua Văn Đế nhà Tuỳ, khởi
sự chấn hưng Phật giáo, xây chùa, dựng tháp ở khắp trong
nước..
Thiền
sư tịch năm Đại Nghiệp thứ III 9607). Tác phẩm (của thiền
sư) còn truyền lại cho đời, có:
Nhiếp
Luận Sớ 10 quyển.
Lăng
Già và Khởi Tín Sớ..
Qua
đoạn văn trên: chứng minh lời ngài Thông Biện dẫn chứng
Sự tích đại sư Đàm Thiên thuộc đời Tùy là chính xác,
chứ không phải đời Tề như tác giả sách PHẬT GIÁO VIỆT
NAM từ khơiû nguyên đến thế kỷ XIII đã khẳng định: “Đàm
Thiên tịch vào khoảng giữa 479 và 483, cuối triều đại nhà
Tề” và. là một lời “biện” của Thông Biện? - Bản
dịch của Tuệ Sỹ, ban tu thư viện Đại Học Vạn Hạnh 1968,
xem các trang 49, 52. 2 Nguyên văn bản chữ Hán trong sách
Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục:
“.
Án Đàm Thiên pháp sư truyện, Tùy Cao Tổ vị chi pháp dã,
Hậu viết: Trẫm niệm Điều Ngự từ bi chi giáo, báo đức
vô do. Vị thiểm nhân vương, hoằng hộ Tam bảo, dĩ biến
thu di thể xá lợi, nhưng ư quốc nội, lập thụ bảo pháp,
phàm tứ thập cửu sở, biểu thế tân lương. Dư nhất bách
ngũ thập tự tháp. Ngoại các Giao châu chư xứ kiến lập.
Ký tư phúc nhuận, dĩ cập đại thiên. Nhiên bỉ tuy nội thuộc,
do hệ cơ mi, nghi tuyển danh đức sa môn vãng bỉ chư xứ hóa
độ, linh nhất thiết câu đắc Bồ Đề”.
Pháp
sư viết: “Giao Châu nhất phương đạo thông Thiên Trúc, Phật
pháp sơ lai Giang Đông vị bỉ; nhi Luy Lâu hựu trùng sáng hưng
bảo sát nhị thập dư sở, độ tăng ngũ bách dư nhân, dịch
kinh nhất thập ngũ quyền, dĩ kỳ tiên chi cố dã. Vu thời
tắc dĩ hữu Tỳ khưu danh: MA HA KỲ VỰC, KHANG TĂNG HỘI, CHI
CƯƠNG LƯƠNG, MÂU BÁC chi thuộc tại yên.
.Dữ
Trung quốc vô dị. Bệ hạ, thị phổ thiên, Từ phụ, dục
bình đẳng thí, khả độc khiển sứ tương, dật bỉ hữu
nhân yên, bất tu vãng hoá” (Sđd).
1
(Theo Maurice DURAND nhận xét thì Lý Phật Tử có nghĩa là đồ
đệ của Đức Phật họ Lý, tên của vị anh hùng này chứng
tỏ sức bành trướng của Phật giáo thế kỷ thứ 6 thứ
7. Phật tử ở ngôi mà năm 580 Vinitaruci (Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi)
sang truyền bá Phật giáo - phần phụ chú sách VĐUL - trg 157.
Việt
Điện U Linh của Lý Tế Xuyên viết vào đời Trần (1329):
“Lý
Phật Tử mất năm 603 Tây lịch, ở ngôi 30 năm”.
Đại
Việt Sử Ký Toàn Thư, theo bài tựa sách này hoàn thành
năm
kỷ hợi, Hồng Đức thứ X (1479). Bản khắc in năm 1697. Ngô
Sỹ
Liên lại gán cho Lý Phật Tử “đầu hàng” nhà Tùy là cố
xuyên
tạc
nhằm bôi nhọ Phật giáo. Năm 603 con lý Phật Tử là Sư Lợi
đã
nối nghiệp cha trị vì. Năm 603 do tướng Lưu Phương (nhà
Tuỳ)
điều động đại quân đánh chiếm lấy bằng được nước
Vạn
Xuân.
Quân ta có chống mà quân giặc quá mạnh và Sư Lợi đã bị
giặc
bắt đưa về Tàu. Sau đó không biết sống chết ra sao; chứ
không
phải là “đầu hàng” như sử thần Ngô Sỹ Liên đã viết
trong
ĐVSKTT
- ghi chú của người viết -
1(GIẢ
ĐẢO, tự Lãng Tiên, trước đi tu làm tăng hiệu là Vô Bản,
hay làm thơ, thường gò từng chữ. Một hôm cỡi lừa đi ngoài
đường, nghĩ được hai câu thơ:Điều túc trì biên thụ,
tăng sao nguyệt hạ môn. Sau muốn đổi chữ sao ra chữ thôi,
nhưng còn phân vân chưa biết dùng chữ nào, rồi cứ một
tay ra hiệu gõ cửa, một tay ra hiệu đẩy cửa. Gặp quan Kinh
triệu doãn là Hàn Dũ đi qua, thấy thế, gọi lại hỏi và
bảo nên để chữ sao. Từ đó người ta gọi lối văn gọt
dũa từng chữ là lối thôi sao. Ông thi tiến sĩ không đỗ,
làm chức Trường giang chủ bạ. (Theo Đường Thi của Lệ
thần TRẦN TRỌNG KIM)
2(chú
thích của dịch giả: Trên con đường về, mưa làm phai lạt
mùi hương của chiếc ấn ngài mang theo - áo và ấn đây là
tùy thân của tăng sĩ đắc truyền.)
3Biển
vắng không thuyền bè đi lại, làm sao tôi nhận được tin
tức của ngài sau này.
1Y
Vương: Phật được gọi là Y vương, vua của các thầy thuốc,
chữa được mọi tâm bệnh. Y vương ở đây có nghĩa là Phật
Pháp. 2Hổ Khê: pháp sư Tuệ Viễn ít khi đưa khách qua
khỏi khe chảy ngang trước núi. Pháp sư một lần cùng khách
đàm luận về Đạo Phật vì vui câu chuyện nên đã đi qua
khỏi khe, có một con hổ rống lên vì lấy làm lạ.
1Sử
chép: “Khi sinh ra ông có hào quang sáng khắp nhà, trên lưng
có 3 nốt ruồi, mắt sáng như điện, người xem tướng cho
là điềm lạ, bảo rằng ông sau này sẽ làm vua, nhân đấy
đặt tên là Quyền. Lớn lên ông làm nha tướng của Dương
Đình nghệ, Nghệ gả con gái cho, sai trấn thủ ở Ái Châu.
“Vương đã giết giặc trong nước để phục thù cho chúa,
giết địch bên ngoài để cứu nạn cho nước, dựng quốc
độ, nối lại chính thống, công nghiệp thật là to lớn lắm”.
2(Năm 965, Ngô Xương Văn đi đánh giặc ở Thái Bình, bị địch
thủ bắn chết, cháu là Ngô Xương Xí lên thay, nhưng không
ai phục tòng nữa. Thực chất tình trạng lúc ấy đã phân
tán, các tướng lĩnh mỗi người chiếm giữ một vùng. Sử
gọi là 12 sứ quân:
1.Trần
Lãm, chiếm giữ Bố Hải Khẩu (Vũ Tiên, Thái Bình)
2.Kiều
công Hãn, là cháu nội của Kiều Công Tiễn, chiếm giữ Phong
Châu (H. Bạch Hạc)
3.Nguyễn
Khoan, chiếm giữ Tam Đới (H. Vĩnh Lộc)
4.Ngô
nhật Khánh, chiếm giữ Đường Lâm (Sơn Tây).
5.Lý
Khuê, chiếm giữ Siêu Loại (Thuận Thành)
6.Nguyễn
Thủ Tiệp, chiếm giữ Tiên Du (Bắc Ninh)
7.Phạm
Bạch Hổ, chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên)
8.Lữ
Đường, chiếm giữ Tế Giang (H. Mỹ Văn) 9.Nguyễn Siêu, chiếm
giữ Tây Phù Liệt (Thanh Trì, Hà Đông)
10.Kiều
Thuận, chiếm giữ Hồi Hồ (Cẩm Khê, Sơn Tây) 11.Đỗ Cảnh
Thạc, chiếm giữ Đỗ Động (thuộc huyện Thanh Oai)
12.Ngô
Xương Xí, con rai Ngô Xương Ngập, rút về cố thủ Nông Cống
(Thanh Hoá).
111.Đinh
Tiên Hoàng làm vua được 12 năm. Về sau chính vua và con cả
là Nam Việt vươngĐinh Liễn bị cận thần Đỗ Thích giết,
rồi sau Đỗ Thích cũng bị bắt và giết đi. Sấm truyền
có câu:
Đỗ
Thích giết hai Đinh,
Nhà
Lê hiện thánh minh.
Tranh
nhau, nhiều kẻ chết,
Đường
sá, người vắng tanh”.
(Đỗ
Thích thí Đinh Đinh, Lê gia xuất thánh minh. Cạnh đầu đa
hoạch tử, đại lộ tuyệt nhân hành). Đinh Tuệ, sáu tuổi,
lên ngôi vua. Mọi việc triều chính đều do Thập đạo tướng
quân Lê Hoàn cùng với Dương thái hậu đảm nhiệm. Các đại
thần trung thành với triều vua trước của dòng họ Đinh,
như các ông Nguyễn Bặc, Đinh Điền định thanh toán Lê Hoàn
nhưng ngược lại bị lê Hoàn phát giác và giết chết. Giữa
lúc tình hình trong nước rối loạn; bên ngoài nhà Tống sai
Hầu Nhân Bảo đem quân sang định đánh lấy nước ta. Đứng
trước tình thế khó xử ấy, Lê Hoàn lại được Thái hậu
tư thông, âm mưu với nhau, họp cùng với Phạm Cự Lượng
và quân sĩ, tôn Lê Hoàn lên làm vua để đối phó với quân
ngoại xâm; bảo toàn nền độc lập tự chủ của quốc gia
Đại Cồ Việt. Lê Hoàn (tức Đại Hành hoàng đế) trị vì
24 năm thì mất. Người con cả là Ngân Tích, không được
tôn lập, trái lại, người con thứ ba là Long Việt được
vua cha ưu ái giao cho quyền bính cai trị muôn dân. Mấy
người con của Lê Hoàn tranh nhau ngôi báu, nổi loạn, người
thì chết, kẻ còn sống sót. Long Việt chính thức lên ngôi
chưa được ba ngày thì Long Đĩnh sai người giết rôì kế
vị. Ta cần nên nhớ điều này: khi Long Việt bị hạ sát
thì các quan đều hoảng hốt chạy trốn hết, ngoại trừ
Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn là người
rất trung và rất can đảm còn ở lại trong triều.
Dưới
thời Lê Ngọa Triều, người ta phát giác ở châu Cổ Pháp
(quê hương Lý Công Uẩn) có cây đa bị sét đánh, ở ruột
cây có những hàng chữ:
“Thụ
căn diểu diểu
Mộc
biểu thanh thanh
Hòn
đao mộc lạc
Thập
bát tử thành
Chấn
cung hiện nhật
Đoàn
cung ẩn tinh
Lục
thất niên gian,
Thiên
hạ thái bình”.
(Gốc
cây sâu thăm thẳm,
Ngọn
cây cao xanh xanh.
Cây
“hòa đao” rụng xuống
Mười
tám hạt hình thành
Hướng
đông mặt trời mọc,
Phía
tây sao náu hình
Trong
khoảng sáu bảy năm
Thiên
hạ sẽ thái bình).
Đây
là một trong những bài thơ “Sấm” xuất hiện vào thời
cuối Lê đầu Lý. Lời giải thích của Ngài Vạn Hạnh đoán
rằng: “Câu thụ căn diểu diểu thì căn là gốc, diểu là
yếu đồng âm nên đọc là yểu (tức là non yểu). Câu mộc
biểu thanh thanh thì biểu là ngọn; ngọn là bề tôi. Chữ
thanh đồng âm với chữ thanh nên viết là thanh, tức là thịnh.
Hòa đao mộc là chữ Lê, Thập bát tử là chữ Lý (.) câu
chấn cung hiện nhật, thì Chấn là phương Đông, hiện là
hiện ra, nhật cũng giống như thiên tử. Câu Đoài cung ẩn
tinh, thì Đoài là phương Tây, ẩn cũng như lặn, tinh như thứ
nhân. Mấy câu đó ý nói vua thì non yểu, tôi thì cường thịnh,
họ Lê mất thì họ Lý nổi lên, thiên tử ở phương Đông
mọc ra thì thứ nhân ở phương Tây lặn mất. Trải qua 6,
7 năm thì thiên hạ thái bình = Theo trong ĐVSKTT, nguyên văn
chữ Hán; Tăng Vạn Hạnh tư tự bình viết:
Thụ
căn diểu diểu, căn giả bản dã; diểu yểu âm đồng; diểu
đương tác yếu. Mộc biểu thanh thanh, biểu giả mạt dã.
Mạt do thần dã; thanh thanh tương cận; thanh đương tác thanh,
thịnh dã. Hòa đao mộc: Lê tự, thập bát tử: Lý tự ( §õ
) Chấn cung hiện nhật giả, chấn, đông phương dã; ẩn do
một dã; tinh do thứ nhân dã. Thử ngôn quân yểu thần thịnh;
Lê lạc Lý thành; đông phương xuất thiên tử, tây phương
một thứ nhân. Kinh lục thất niên gian nhi thiên hạ thái bình
hĩ - dẫn theo sách ĐVSKTT tập IV, phần chữ Hán, tr.
106
- Nhà xb/ KHXH -
Trong
dân gian có ghi câu chuyện: “Ở chùa Thiên Tâm, châu Cổ Pháp,
có con chó đẻ ra con chó trắng, lưng có lông đen, nổi lên
hai chữ “thiên tử”, người ta đồn rằng người sinh tuổi
tuất sẽ được đại quý. Quả nhiên vua Lý tức Lý Công
Uẩn đẻ vào năm giáp tuất, niên hiệu Thái Bình thứ 5”.
Chép theo Việt Sử Tiêu Án và trong Thiền Uyển Tập Anh có
ghi lại bài thơ:
Tật
Lê trầm Bắc thủy,
Lý
tử thụ Nam Thiên.
Tứ
phương can qua tĩnh,
Bát
biểu hạ hành yên.
(Gốc
Lê(1) chìm bể Bắc,
Chồi
Lý (2) mọc trời Nam
Bốn
phương tan giáo mác,
Tám
cõi được bình an.
Bản
dịch của Đoàn Thăng - TVLT, tập I
Qua
bài thơ sấm trên cho ta thấy đây là điểm báo trước nhà
Lý
sẽ lên thay thế nhà Tiền Lê đã hết thời!. Hơn nữa,
Long Đỉnh ông vua cuối cùng dòng họ Lê lại rất bạc nhược
về cả tinh thần lẫn vật chất: Long Đỉnh là một con sâu
rượu, suốt ngày say sưa, cộng thêm sự hoang dâm vô độ.
Về thể chất thì Long Đĩnh gần như tê liệt toàn thân, đến
nỗi phải có cận thần khiêng ra long sàng để vua cứ nằm
bàn bạc việc nước với các quan (do đó có tên: Lê Ngọa
Triều); về tinh thần thì Long Đĩnh ở ngay giữa buổi chầu,
đông đủ văn võ bách quan, lại cho một thằng hề đứng
bên cạnh để pha trò, nhạo các đình thần. Đã vậy lại
còn chế ra rất nhiều kiểu hành tội các phạm nhân cực
kỳ dã man: những người bị đưa ra hành hình thường bị
Long Đĩnh, sai lấy cỏ gianh quấn vào người rồi đốt cho
chết, hoặc cho nhốt tội nhân trong chiếc cũi rồi đem thả
xuống sông cho nước cuốn trôi ra biển, hoặc bắt người
bị tội trèo lên cây cao rồi cho chặt gốc hoặc đánh bằng
gậy, hoặc cho rắn cắn chết. Long Đĩnh còn thích chọc tiết
bò, lợn, có lần sai lính bắt nhà sư Quách Ngang (vì ông dấy
loạn chống lại triều đình) đến chầu, hạ lệnh ngồi
xuống, rồi tự tay lấy mía róc lên đầu nhà sư, song chốc
lát lại giả vờ lỡ tay bổ dao. làm cho máu chảy xối xả
để mình cười một cách khoái trá! Đấy là chỉ mới kể
có yếu tố nhân sự có tính cách tranh chấp nội bộ cũng
như dùng hình luật để TRẤN ÁP. làm cho dân khiếp sợ!.
chứ chưa nói đến bất cứ thời nào và lúc nào, cả hai
phương Bắc lẫn phương Nam, luôn luôn có nạn ngoại xâm rình
rập để thừa dịp tràn vào chiếm đất đai. Nạn ngoại
xâm đeo dọa và nạn giết vua đoạt quyền, ở ngay trong nước,
là hai ác mộng chính của thời ấy. Nếu kể cả những điều
phụ nữa thì rất nhiều, nhưng đại khái thì hầu như chẳng
bao giờ Việt Nam thoát được cảnh trộm cướp thành đảng
của người phương Bắc lẫn người bản xứ trên miền thượng
du Bắc Việt, hoặc tại miền Hoa Nam, và ngay ở cả trong các
khu rừng núi rậm rạp, hiểm trở nội địa nữa.
Với
sự vừa kể, hẳn không thể chối cãi điều này: Lê Long
Đĩnh, ông vua cuối cùng, rất quái dị của dòng họ Lê, tất
phải bị thay thế, không do người này thì ắt phải do người
khác. Đó là lẽ dĩ nhiên phải xảy ra..
1.Khi
sứ nhà Tống là Lý Giác sang nước Việt, trong nước không
có ai là nho học lỗi lạc, nên vua phải nhờ hai vị Pháp
Thuận và Khuông Việt ra tiếp sứ, hai vị cùng Tống sứ làm
thơ xướng họa, Tống sứ cũng phải phục tài. Vậy thì dù
chữ Hán, truyền vào Việt Nam đã từ lâu, nhưng trong mười
thế kỷ Bắc thuộc cho đến ba triều độc lập Ngô, Đinh,
Tiền Lê, Nho học chưa đào tạo được một nhân tài bác
học nào; người giỏi lại xuất hiện ở Thiền môn.” Trích
Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu của nghiêm Toản.