BỐN
CHÂN LÝ CAO QUÝ
Tôn giáo
là gì? Tôn giáo là phương pháp diệt trừ mọi phiền não
và đau khổ. Bởi vì nếu trên thế gian này tuyệt đối không
có phiền não đau khổ thì chắc chắn không cần phải có
một tôn giáo nào. Theo định nghĩa đúng đắn như vậy thì
Phật Giáo quả là một tôn giáo toàn thiện, toàn mỹ nhất
trên thế giới vì Phật Giáo là tôn giáo duy nhất đã thực
sự dập tắt được phiền não, đau khổ vĩnh viễn, quả
là khoa học. Ðức Phật đã chẩn đoán bệnh cho trần gian
và cấp toa chữa trị.
1) Đức Phật
quán sát thế giới và chỉ thấy bệnh khổ mênh mông. Những
bệnh gì là khổ? Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ,
chết là khổ, buộc phải sống với người mình không ưa
là khổ, xa lìa người yêu thương là khổ, sự hiện hữu
của ngũ uẩn là khổ. Tóm lại, những chứng bệnh đau khổ
của trần gian là vậy, và đây là chân lý cao quý liên hệ
đến sự khổ.
2) Nhưng Ðức
Phật không dừng ở đây. Ngài như một y sĩ giỏi chẩn đoán
từng trường hợp và đã tìm thấy nguyên nhân của bệnh
khổ. Bởi vì biết được nguyên nhân của bệnh là coi như
chữa được phân nửa chứng bệnh. Ðức Phật cho biết nguyên
nhân của đau khổ là lòng khao khát hay tham ái. Ðây là chân
lý cao quý hay liên hệ đến nguyên nhân bệnh khổ.
3) Bởi vậy
nếu diệt trừ được nguyên nhân là đương nhiên bạn sẽ
loại trừ được hậu quả của nó. Diệt trừ tham ái là
diệt được khổ. Ðây là chân lý cao quý đưa đến chấm
dứt sự đau khổ.
4) Có điều
nói thì dễ mà làm thì khó. Dễ nói dập tắt tham ái, nhưng
bằng cách nào? Ðức Phật đã ban cho chúng ta một toa thuốc
khoa học nhiệm mầu để diệt trừ tham ái, nghĩa là: BÁT
CHÁNH ÐẠO, gồm có: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ,
chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh
định. Ðây là chân lý cao quý đưa đến con đường diệt
trừ tham ái.
Ðây là TỨ
DIỆU Ðế (hay 4 Thánh Ðế) kết thành bốn nền tảng của
Phật Giáo vì bốn chân lý cao quý này chỉ tìm thấy trong
Phật Giáo, không nơi nào khác trên thế gian có được. Chân
lý cao quý thứ tư (tức là Bát Chánh Ðạo) đặc biệt vô
cùng độc đáo. Bởi vì nơi đây bạn sẽ tìm thấy tám bước
nhiệm mầu liên kết một cách khoa học theo quy luật nhân
quả.
Hãy chiêm
nghiệm công thức khoa học này:
Chánh kiến:
tạo duyên cho Chánh tư duy.
Chánh tư
duy: tạo duyên cho Chánh ngữ.
Chánh ngữ:
tạo duyên cho Chánh nghiệp.
Chánh nghiệp:
tạo duyên cho Chánh mạng.
Chánh mạng:
tạo duyên cho Chánh tinh tấn.
Chánh tinh
tấn: tạo duyên cho Chánh niệm.
Chánh niệm:
tạo duyên cho Chánh định.
Có hai bước
thăng hoa đưa thẳng đến Niết Bàn tối thượng là như vầy:
- Chánh định
tạo duyên cho Chánh kiến thực chứng.
- Chánh kiến
tạo duyên cho Chánh giải thoát.
Trong công
thức mầu nhiệm trên, nếu bước thứ nhất đúng thì mọi
vấn đề đều đúng. Nếu bước thứ nhất sai thì mọi vấn
đề đều sai. Những ai có được chánh kiến sẽ có được
Niết Bàn, những ai bị tà kiến dẫn lối sẽ đi vào địa
ngục, ngạ quỷ. Vì vậy chúng ta hãy cứu vớt những người
có tri kiến sai lầm bằng cách tặng cho họ phương thuốc
Chánh kiến. Không có món quà nào cao quý bằng món quà Chân
lý. Ðó là món quà vĩ đại nhất trong tất cả món quà.
Như chúng
ta thấy qua công thức kỳ diệu trên, Tri Kiến trong Phật Giáo
đứng hàng đầu và sau cùng. Tri Kiến sơ cơ đến trước
(nhờ đọc và nghe), Tri Kiến thực chứng đến sau cùng. Tiến
trình nhân quả nhiệm mầu này chỉ được tìm thấy trong
Ðạo Phật mà thôi, không nơi nào có. Do vậy Phật Giáo là
tôn giáo hoàn hảo nhất trên thế giới vì nó là một tôn
gián khoa học dành cho những đầu óc khoa học. Phật Giáo
là tôn giáo lạc quan nhất bởi vì nó trực chỉ Niết Bàn
ngay chính trong đời này. (Dịch giả trích “Thanh Tịnh Ðạo
Luận” của VISUDDHI MAGGA T.T. Thích Phước Sơn–Trường Cao
Cấp Phật Học biên soạn). Bản luận đề cập đến 4 nghĩa
của khổ là: bất đắc, hữu vi, bốc cháy và biến đổi.Tính
chất của nó là chân thật không hư ngụy, không thể khác.
Nguồn gốc hay tập khởi của khổ với ý nghĩa tích tập,
căn nguyên, trói buộc, chướng ngại. Diệt có nghĩa là thoát
ly, tách rời, vô vi, bất tử. Ðạo có nghĩa là lối ra, nguyên
nhân, thấy, ưu thắng.
Nguyên nhân
của khổ (DUKKHA): Du là xấu xa, ác độc Kha là trống rỗng.
Thế nên chân lý thứ nhất: Khổ (Dukkha) là xấu vì nó là
nơi thường lai vãng của sự hiểm nguy và nó trống rỗng
vì không trường cửu, không đẹp, không vui vì không có tự
ngã.
Chân lý thứ
hai: Tập (Samudaya) sam là liên kết, u chỉ sự khởi lên như
udita (đi lên), Aya chỉ lý do. Như vậy chân lý này là lý do
cho sự khởi lên của khổ, chi phối hợp với những duyên
còn lại.
Chân lý thứ
ba: Diệt (Nirodha). Ni: chỉ sự vắng mặt. Rodha là nhà tù.
Chân lý này chỉ sự vắng mặt của mọi sanh thù vì nơi đây
không có sự bức não của khổ được xem như nhà tù.
Chân lý thứ
tư: Đạo hay khổ diệt Ðạo. Con đường đưa đến chấm
dứt khổ nên gọi là khổ diệt Ðạo.
Cả 4 chân
lý này được gọi là Thánh đế, vì chỉ có các bậc Thánh
mới thâm nhập được chúng. Lại nữa những sự thật cao
cả được gọi là sự thật của các bậc Thánh. Hoặc bốn
Thánh đế này là chân thật, không hư ảo, không thể khác
nên gọi là Thánh đế.
Bản luận
lại mô tả: không có niềm đau nào ngoài khổ, không có nguồn
khổ nào khác hơn tham ái. Không có niềm an tịnh nào ngoài
tịch diệt (Niết Bàn) và không có lối thoát nào ngoài Chánh
Ðạo.
* Về thứ
tự: Khổ đế được nêu lên trước tiên vì nó dễ hiểu,
vì nó thô phù, vì nó chung cho tất cả chúng sanh. Chân lý
Khổ tập nêu kế tiếp để chỉ rõ nguyên nhân. Rồi chân
lý về Diệt đế biểu thị rằng nhân chấm dứt thì quả
kết thúc. Chân lý về Ðạo được nói sau rốt để chỉ
ra con đường, phương tiện đạt đến Diệt, và Cổ Ðức
cũng bảo: tri khổ, đoạn tập, tu đạo chứng diệt (biết
khổ để đoạn trừ các nguyên nhân của khổ (tập) nên phải
thực hành các Pháp môn do đó mà chứng đạt sự tịnh diệt).
CHÂN LÝ VỀ
KHỔ.
Thông thường
khổ có ba loại:
- Khổ khổ
tức là nỗi khổ ở nội tại.
- Hoại khổ
tức là nỗi khổ do biến hoại.
- Hành khổ
tức là nỗi khổ về các phương diện hoặc ngấm ngầm
hoặc
lộ liễu.
Khi cảm thọ
khổ về thân và tâm gọi là khổ-khổ vì tự tánh của nó
là khổ, khi cảm thọ lạc về thân và tâm gọi là hoại khổ,
vì đó là nguyên nhân sinh ra khổ khi cảm thọ ấy biến mất.
Xả thọ và các hành khác trong ba cõi là hành khổ vì chúng
bị bức bách trong sinh diệt.
a) Sanh là
khổ, vì nó là cội nguồn cho khổ trong các đọa xứ, nào
là nỗi khổ đi đầu thai, khi ở trong bầu thai và khi sinh
ra. Lúc đang sống, chúng sinh cũng phải chịu bao nhiêu nỗi
khổ. Nếu ở địa ngục thì khổ vì bị lửa thiêu đốt.
Nếu ở loài súc sanh thì phải chịu khổ vì bị đánh đập
bằng roi gậy hoặc ăn nuốt lẫn nhau. Nếu sinh vào loài ngạ
quỷ thì đau khổ vì đói khát bức bách. Nếu sinh vào Atula
thì đau khổ vì giá lạnh tối tăm.
b) Già: là
căn bản của sự đau khổ thể xác và tâm hồn. Nó khởi
lên do nhiều duyên như: tứ chi nặng nề, các căn suy yếu,
tuổi trẻ tan biến, sức lực bị phá hủy, trí nhớ sút kém,
bị người khi dễ.v.v...
c) Chết:
là sự chấm dứt mạng căn nơi một chúng sinh, có nhiều nguyên
nhân như: chết do thọ mạng chết, do công đức tận hoặc
chết bất đắc kỳ tử, bị tai nạn đột ngột xảy ra.
d) Sầu: là
đốt cháy tâm can nơi người bị mất thân quyến hay bị mất
mát những gì mình yêu quý.
đ) Bi: là
sự đau buồn do mất mát người thân của cải v.v... được
biểu hiện bằng những hành vi, cử chỉ mà người khác có
thể thấy được.
e) Khổ: là
sự khổ đau, bức bách của thân xác.
g) Ưu: là
sự khổ sở về tâm.
h) Não: là
sự thiêu đốt tâm can.
Sầu như
chảo dầu nấu trên bếp lửa riu riu. Bi như chảo dầu nấu
trên bếp lửa mạnh. Não như những gì còn lại trong chảo
sau khi nấu, còn tiếp tục cho đến khi chảo khô.
i) Oan gia
tụ hội: là sự gặp gỡ những người và vật mà mình oán
ghét.
k) Ái biệt
ly: là phải xa lìa những người và vật mà mình yêu quý.
l) Cầu bất
đắc: là sự mong cầu không toại ý.
m) Năm uẩn
là khổ: vì năm uẩn là đối tượng của sự chấp thủ,
như tấm bia thu hút những tên bắn, như ruồi nhặng bu trên
thân con bò.
Các nỗi
khổ về 5 uẩn thì Sanh là cái khổ đầu tiên, Già là cái
khổ chặng giữa, Chết là cái khổ chặng cuối. Khổ nung
nấu tâm can gọi là Sầu. Khổ dưới hình thức than van khóc
lóc gọi là Bi. Cái khổ do thân tứ đại bị xáo trộn gọi
là Khổ. Nỗi khổ bức bách trong tâm hồn gọi là ưu. Khổ
ngấm ngầm chồng chất nhiều lớp gọi là Não, khổ do thất
vọng gọi là Cầu bất đắc khổ. Chung quy khi năm uẩn bị
chấp thủ chính là khổ.
LUẬN VỀ
KHỔ DIỆT HAY NIẾT BÀN
Niết Bàn
có thể đạt được nhờ đạo lộ chân chính vì đã có các
bậc Thánh đạt được nó nhờ dùng phương tiện Giới, Ðịnh,
Tuệ. Do đó không thể bảo rằng Niết Bàn là không có gì
cả, vì ta không thể hiểu được. Ðiều hiển nhiên là không
phải ai cũng thấy được Niết Bàn mà nó chỉ có thể đạt
được bởi các vị La Hán tức là những người đã đoạn
tận tham, sân, si, đã cắt đứt mọi gốc rễ của tham ái.
Mục tiêu
duy nhất mà Ðức Phật truyền dạy chính là Niết Bàn. Theo
bản luận thì Niết Bàn có hai loại là Hữu dư y và Vô dư
y. Hữu dư y Niết Bàn là các cấu uế đã lắng dịu nhưng
hậu quả của sự chấp thủ trong quá khứ vẫn còn tồn tại.
Vô dư y Niết Bàn là đoạn tận các nghiệp đưa đến tái
sanh trong tương lai, các uẩn không còn sanh khởi nữa, mà những
uẩn đã sinh thì biến mất.
CHÂN LÝ VỀ
CON ÐƯỜNG ÐƯA ÐẾN DIỆT KHỔ
Con đường
đưa đến diệt khổ chính là Bát Chánh Ðạo. Tám pháp này
được giải thích như sau:
1) Chánh
kiến: Kiến giải chính xác, hiểu biết chính xác.
2) Chánh
tư duy: suy nghĩ một cách chính xác, đúng đắn.
3) Chánh
ngữ: nói lời chân thực đúng đắn dễ nghe, có lợi ích.
4) Chánh
nghiệp: làm những việc chân chính như không sát sanh, không
trộm cắp, không tà dâm.v.v...
5) Chánh
mạng: sinh sống bằng những nghiệp chân chính, lương thiện.
6) Chánh
tinh tấn: nỗ lực chính đáng, siêng làm việc thiện.
7) Chánh
niệm: nghĩ nhớ chân chánh, luôn luôn tỉnh táo cảnh giác
từng việc nhỏ.
8) Chánh
định: tập trung tư tưởng một cách chân chính, không để
ngoại vật chi phối làm rối loạn tâm trí.
Tám Chánh
đạo này liên quan đến các Pháp như sau:
Chánh kiến
dẫn đầu, bao gồm: trạch pháp, như ý túc, tuệ căn, tuệ
lực và trạch pháp giác chi. Chánh tư duy bao gồm ba loại tâm
là viễn ly, tham sân và hại. Chánh ngữ bao gồm ba loại thiện
về thân. Chánh mạng bao hàm thiểu dục, tri túc. Chánh tinh
tấn bao hàm 4 chánh cần tấn căn, tấn lực và tinh tấn giác
chi. Chánh niệm bao gồm 4 niệm xứ, niệm căn, niệm lực và
niệm giác chi. Chánh định bao hàm 4 loại: định có tầm,
có tứ, định tâm, định căn, định lực và các giác chi
hỷ, khinh an, định, xả.
Tám chánh
đạo cũng liên quan mật thiết đến 3 vô lậu học như đoạn
Kinh sau đây mô tả : Bất cứ chánh ngữ nào, chánh nghiệp
nào, chánh mạng nào cũng thuộc GIỚI UẨN. Bất cứ chánh
tinh tấn nào, chánh niệm nào, chánh định nào cũng đều thuộc
ÐỊNH UẨN. Bất cứ chánh kiến nào, chánh tư duy nào cũng
đều thuộc về TUỆ UẨN. Bản luận nêu ví dụ: Ðịnh ví
như người trông thấy hoa đẹp mà tự mình không hái được.
Tinh tấn ví như người bạn đưa lưng ra cho người ấy đứng
lên. Niệm ví như người đứng gần đưa vai làm điểm tựa
nhờ vậy mà ngươi ấy hái được hoa. Nghĩa là tinh tấn và
niệm là những yếu tố giúp sức rất đắc lực cho Ðịnh.
Ðể làm
sáng tỏ ý nghĩa của cả 4 Chân lý, luận chủ đưa ra ví
dụ: Khổ ví như gánh nặng, Tập ví như người mang gánh nặng,
Diệt như gánh nặng cần đặt xuống, Ðạo như phương tiện
đặt gánh nặng. Hoặc: Khổ như chứng bệnh. Tập là nguyên
nhân. Diệt như sự cần hết bệnh. Ðạo như thuốc chữa
bệnh. Theo ý nghĩa tuyệt đối, cả bốn chân lý này cần
được hiểu là trống rỗng vì không có người chịu khổ,
không có người tập khởi nên cái khổ, không có người chứng
sự diệt khổ và không có người đi trên đạo lộ đến
diệt khổ. Do đó có khổ nhưng không có người chịu khổ.
Có sở tác nhưng không có người tạo tác. Có tịch diệt
nhưng không có người chứng đắc. Có đạo lộ nhưng không
có người đi.