CÁC
ANH CHỊ EM THÂN MẾN.
Tôi
vô cùng hoan hỉ khi có được cơ
duyên nói chuyện với các em hôm nay. Lòng tôi luôn luôn cảm
thấy vui khi tiếp xúc với mọi người, đặc biệt những
người trẻ vì đây là thế hệ ít tuổi hơn. Theo tôi, các
em là người của tương lai, bởi vì tương lai ở một mức
độ nào đó vẫn còn nằm trong tầm tay chúng ta. Quá khứ
là quá khứ đã qua đi - dù đó là một kinh nghiệm đau thương
hay tràn đầy hạnh phúc - bây giờ cũng đã tan biến vào hư
không và tương lai là những gì chưa tới, thế nên nếu chúng
ta chuẩn bị một cách rốt ráo cho tương lai thì tương lai
đó sẽ nhiều hỷ lạc hơn. Nếu lãng quên đi, không quan tâm
hay kế hoạch sai đường thì tương lai đó sẽ rất khó khăn.
Do vậy, là thế hệ trẻ hay là những học sinh, các em đều
là những người chủ chốt, gánh vác đầy trọng trách.
Trong
nhiều năm tôi vẫn cho mình là một thành phần của thế hệ
trẻ nhưng bây giờ không còn như vậy nữa. Ngày nay tôi thuộc
về thế hệ già nua. Sống trong thế kỷ thứ hai mươi, song
cảm nghĩ của tôi đó là thế kỷ đầy máu đỗ thịt rơi.
Cho nên, những người có tuổi trong đó có tôi đã nói lên
lời giả biệt hành tinh này. Dẫu sao đi nữa tận chiều sâu
của đáy lòng vẫn còn là niềm quan tâm đối với mọi người.
Bây
giờ chúng ta hãy thử luận bàn về tương lai của thế giới.
Trong đó có sự gia tăng dân số và những tai hại về lãnh
vực môi sinh. Hãy nhìn về sự cách biệt giữa người giàu
và người nghèo trong mức độ toàn cầu. Người sống
ở phía bắc bán cầu thuộc
về các nước giàu có, người
ở phương nam bán cầu thì nghèo khổ khốn cùng. Dĩ nhiên,
về phương diện kinh tế Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan thuộc
miền bắc, nhưng về phương diện địa lý thì lại thuộc
về miền nam. Có một vài điều xảy ra như thế và thật
sự có cách biệt ở đây. Khi nhìn vào Âu Châu, những nước
kỹ nghệ hóa, người ta dư thừa vật chất. Nhưng cùng là
một ngọn cỏ cây, cùng là những con người giống nhau, với
cùng chung ước vọng sao cho đời sống hạnh phúc hơn và được
lìa xa những khổ đau, ở những nơi như Phi châu, một vài
vùng ở Á châu và cũng ở Châu Mỹ La tinh, trong nhiều truờng
hợp người ta không có ngay cả những phương tiện vật chất
căn bản tối thiểu hằng ngày. Hiện nay một số người thực
sự đang đối diện với vấn nạn chết đói. Đây không phải
chỉ là sai lầm về đạo đức, mà sai lầm luôn cả về hành
động. Chúng ta phải thay đổi, phải thu ngắn đi khoảng cách
biệt. Trong phạm vi một quốc gia, sự cách biệt đó cũng
hiện hữu. Theo tôi đây là một trong những cội nguồn của
vấn nạn. Nó sinh ra những tội ác, sát nhân và thiếu an ninh.
Thế nên cần phải nhận thức để lưu tâm thay đổi, trên
hết cố gắng giảm thiểu những điều này.
Lại
thêm một vấn đề nữa, nếu tiêu chuẩn sống của người
phương nam bán cầu được nâng lên bằng tiêu chuẩn hiện
nay người mạn bắc đang hưởng, thì câu hỏi được đặt
ra ở đây là liệu các nguồn tài nguyên thiên nhiên có còn
đủ cung cấp hay không. Đây là một vấn đề rất nghiêm
trọng. Dân số ngày càng gia tăng, đặc biệt trong những nước
nghèo ở phương nam. Thế nên phương cách sống của người
mạn bắc sẽ dần dà sữa đổi những vấn nạn
đeo mang. Theo tâm lý của người
phương tây, kinh tế phát triển mỗi năm là
dấu hiệu của sự tiến triển. Nhưng sẽ đến một ngày,
không còn điều gì có thể phát
triển thêm được nữa. Vậy thì
theo tôi, phương cách sống và những
thái độ tâm lý cần phải điều
chỉnh. Đây chính là thử thách rất nghiêm trọng.
Việc
giảm thiểu khoảng cách biệt không
phải chỉ đạt được bằng luật lệ
và điều luật mà thôi. Hãy nhìn vào các nước xã hội chủ
nghĩa ; họ đang cố gắng làm. Nào
là Liên Bang Xô viết cũ, Cộng
hòa nhân dân Trung hoa và Bắc Hàn, các em thấy đó,
hệ thống này không mang lại kết quả. Ở thế giới tự
do, người ta chủ ý tới kinh tế thị trường, việc này cũng
có nhiều điểm tốt, nhưng với lực đẩy chỉ vì vấn đề
tái chánh, vì quyền lực thị trường thì khoảng cách biệt
giữa người giàu và người nghèo sẽ ngày càng gia tăng. Trung
Hoa, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đây là quốc gia theo
xã hội chủ nghĩa nhưng khoảng
cách lớn lao giữa người giàu
và người nghèo đã và đang ngày càng hiển lộ.
Thỉnh
thoảng gặp những gia đình giàu sang với mức độ phát triển
tâm linh nào đó, tôi thường đề nghị cách tốt nhất để
họ đạt thêm nhiều thể nghiệm tâm linh là xử dụng của
cãi chia xẻ cho những người nghèo, đóng góp trong lãnh vực
giáo dục và sức khỏe của con người. Tôi nghĩ đó là một
phương cách nếu thực tâm họ có khả năng hổ trợ nhiều
hơn trong các lãnh vực này. Trước hết, những gia đình riêng
lẽ đó sẽ đạt được sự thỏa mãn sâu xa hơn. Người
ta kiếm ra tiền, và xử dụng đồng tiền một cách đúng
đắn để phát triển toàn xã hội. Như vậy, chúng ta có thể
gọi đây là một hành động từ bi. Để giảm thiểu sự
cách biệt một phương pháp hay yếu tố quan trọng hơn là
hướng đến ý thức chăm lo cho người khác, quan tâm đến
sự khó khăn của mọi người, ở bình diện toàn cầu và
ở biên độ quốc gia.
Việc
quan tâm đến môi sinh cũng là một thử thách lớn. Nếu nói
về kiểu cách sống ngày nay thì phải nói đó là chủ nghĩa
tiêu thụ. Chẳng hạn, rất nhiều xe hơi chạy trên đường
phố, nhưng trong chiếc nào cũng chỉ có một người. Hãy suy
nghĩ hay tưởng tượng tình trạng đó ở Ấn độ và Trung
hoa. Nếu chúng ta kết hợp hai quốc gia đó lại, thì có hơn
hai tỉ con người hiện tiền. Sống như kiểu cách Tây phương,
mỗi người trong hơn hai tỉ người đó làm chủ một chiếc
xe hơi thì thật là không tưởng, chẳng thể xảy ra được.
Vậy
thì, phải có trách nhiệm đối với môi sinh. Một trong những
lý do là con người luôn luôn muốn có thêm một cái nữa,
một cái nữa và một cái nữa. Đó là lòng tham không đáy.
Bạn đã có đủ, nhưng vẫn cứ muốn thêm, thêm và thêm nữa.
Dầu sao nếu mọi sự đến dễ dàng thì tốt, nhưng không
phải bao giờ cũng vậy. Những tài nguyên thiên nhiên rồi
ra sẽ cạn dần. Và dân số thế giới thì ngày càng gia tăng,
thế nên tôi cho rằng chúng ta cần phải thực hành việc tri
túc.
Điều
này không có nghĩa là cần thiết phải theo như Tăng sĩ Thiên
Chúa giáo hay Phật giáo, hoặc các hành giả khác có đời
sống rất đơn giản. Không cần thiết là tất cả mọi người
phải tuân theo lối sống đó. Nhưng vẫn rất cần việc áp
dụng mãn nguyện tính theo một cách thế thuận lý. Không đạt
được điều này thì những nghịch lý của chúng ta ngày sẽ
gia tăng. Rồi lại nghĩ đến một loại thử thách khác. Như
đã đề cập, thế kỷ thứ hai mươi đã trở thành thế kỷ
của máu đỗ thịt rơi, chúng ta nên dành mọi cố gắng để
tạo cho thế kỷ này là thế kỷ của đối thoại, thế kỷ
của hòa bình, mà không là thế kỷ của xương máu ngập đầy.
Hiện nay vũ khí lan tràn khắp nơi. Một vài công ty chế tạo
vũ khí chỉ vì lợi nhuận và họ luôn luôn tìm thị trường
để tiêu thụ những sản phẩm đó. Họ không quan tâm đến
những hậu quả gây nên bởi những viên đạn và những khí
giới hết sức tàn độc đó.
Cách
đây nhiều năm trong thời kỳ nội chiến ở Lebanon, một người
Pháp sống ở Beirut nói với tôi rằng ở góc phố này người
ta mua bán vũ khí, làm thương mại, kiếm lợi nhuận thì vũ
khí đó được xử dụng để giết người ở góc phố kia.
Thế nên tôi cho rằng phải suy tư một cách nghiêm chỉnh
về phương cách giảm thiểu số
lượng vũ khí và làm thế nào
tìm được cách kiểm soát có hiệu quả hay phương pháp
chấm dứt việc mua bán chúng. Một vài
người lãnh giải Nobel đang tham gia
vào công tác này. Tôi cũng là một trong những người
đó và đã ký vào văn bản ủng hộ nổ lực trên. Nhiều
người và một số tổ chức đang tham gia, nhưng chúng ta cần
phải nổ lực nhiều hơn nữa. Tôi cho rằng bây giờ là lúc
chúng ta phải bỏ ra rất nhiều năng lực. Ngoài ra cũng còn
có nhiều trách vụ trong chúng ta giữa những con người. Trong
những năm qua, tôn giáo và các niền tin tôn giáo đôi khi đã
tạo ra sự phân hóa và xung đột. Đó cũng là một chỉ dấu
nghiêm trọng. Xét cho cùng dù ở mức độ nào, chúng ta vẫn
phải cần tôn giáo. Tôn giáo vẫn còn lợi ích và thiết thực.
Không cần thiết phải toàn thể nhân loại nhưng ít nhất
những niềm tin đó và tín đồ phải duy trì niềm hy vọng,
mang lại vài giá trị hay vài ý nghĩa cho cuộc đời. Tuy nhiên,
đôi khi những sức mạnh đó lại lôi kéo người ta xử dụng
tôn giáo một cách sai lầm. Đây
là cái mà tôi gọi là cuồng
tín. Chủ nghĩa cuồng tín đôi khi tạo ra khá nhiều
vấn nạn.
Thế
giới ngày càng nhỏ bé hơn và ngày nay lại càng nhỏ hơn
nữa, đồng thời lại phụ thuộc vào nhau rất nhiều. Điều
đó cũng mang lại biết bao trăn trở và chúng ta phải phối
trí làm sao đây ?
Đây
là những thực tế và cũng là thử thách trong thế kỷ sắp
tới và trong tương lai. Bây giờ các em là những người chủ
chốt, những người phải xử lý và đối diện với các vấn
đề này. Các phương tiện truyền thông luôn trình chiếu những
cảnh giết chóc, thảm họa, hình ảnh tiêu cực để rồi
dần dà người ta cảm thấy dường như là nhân chi sơ tính
bổn ác, nên chi nhìn tương lai của thế giới, tuơng lai của
nhân loại là sự diệt vong. Tôi lại tin là nhân chi sơ tính
bổn thiện và có lòng từ bi. Lý do thật ra khá đơn giản.
Căn cứ vào y khoa, thời gian khi chúng ta còn trong bụng mẹ,
nếu tâm ý người mẹ an bình với đầy từ tâm thì đó là
yếu tố tích cực cho sự tăng trưởng đúng cách của đứa
bé. Mặc khác nếu tâm ý của người mẹ xáo động, thì biết
bao những ảnh hưởng tiêu cực trên đứa bé chưa sanh. Đến
khi chào đời, những tuần lễ kế tiếp là giai đọan quan
trọng cho sự phát triển của bộ não. Trong giai đọan đó
những âu yếm của người mẹ vô cùng quan trọng. Mặc dù
trí thông minh chưa phát triển hoàn toàn, nhưng đây cũng
là một con người, và thân thể
này cần sự thương yêu của
người khác, từ đó tương quan nhân tính phát triển.
Chúng
ta ai cũng biết rõ tâm bình
an sẽ trợ giúp rất nhiều trong
lãnh vực sức khỏe, giáo dục
và trong đời sống thường ngày.
Một tâm không an bình chao đão với lòng sân giận ngập
cùng, ganh tỵ hay hận thù sẽ ảnh hưởng xấu trực tiếp
đến sức khỏe con người. Ở thời điểm này, y khoa đã
xác nhận được, những người thường hay dùng chữ : ‘Tôi’,
‘của tôi’ và ‘tôi’ là những người có nguy cơ cao bị
bệnh tim đột qụy. Như vậy các em thấy rõ ràng rằng một
khi tâm không an bình, một trạng thái bấn loạn chỉ đem lại
quả xấu thực sự tác hại cho cơ thể và sức khỏe của
chúng ta. Vì thế tâm càng bình an, từ bi thì dung hợp tuyệt
hảo với thân xác này. Tâm không an bình và những tình cảm
tiêu cực không là người bạn đồng hành tốt với cơ cấu
vật lý đó. Đây là một vấn đề lớn. Tôi tin rằng đó
là một trong những lý do hay
những dấu hiệu cho thấy bản
chất của con người gần gủi với tâm bình an và
tâm hiền lương chất phát. Dĩ nhiên lối suy tưởng công kích,
thái độ hung hăng cũng là một phần của con
người, nhưng tôi cho rằng sự
năng nổ đó liên hệ tới trí
thông minh. Nếu thông minh đi kèm với sự quân bình, với trái
tim ân cần, nhạy cảm ; thì tôi nghĩ đó là phương cách nhân
tính thích hợp nhất. Mặc dù có khả năng bóc lột, lăng
mạ người khác, song nếu các em có thể tạo được sự quân
bình của ý thức về sự quan tâm đến những gì quanh ta,
về trách nhiệm, về cộng đồng,
thì các em có thể bày tỏ
lòng kính trọng những người khác. Các em phải
suy nghĩ nhiều hơn theo cách như vầy ‘Tôi phải tôn trọng
người khác, tôi phải đánh giá cao và trân quý quyền hạn
của họ’. Đó là phương cách đúng đắn. Chỉ với trí
thông minh, với khả năng và không có
gì bắt nguồn hay khởi động
từ tận đáy lòng thì thường mọi việc
sẽ đi sai đường. Chẳng hạn, trên hành tinh này, trong
sự tàn sát người Do thái của Đức Quốc xã, tôi cho rằng
đầu óc của họ thông minh khác thường. Đối với những
cố vấn hay các nhân viên KGB đã làm việc cho Stalin, bộ não
của họ cũng như vậy.
Trường
hợp của chủ tịch Mao cũng tương tự. Bây giờ đối với
tôi biến cố 9 tháng 11 thật là kinh khủng, đúng là một
hành động khó có thể tưởng tượng được. Những điều
này không tự dưng đến một cách bất ngờ. Chắc chắn người
ta đã tính toán và chuẩn bị nhiều tuần, nhiều tháng nếu
không muốn nói nhiều năm. Họ đã xử dụng trí não đến
mức tối đa; trí thông minh của con người đã hoạt động
đến đỉnh cao. Nhưng mục tiêu đó lại là một sự hủy
hoại đớn đau. Vào thời điểm đó tôi đã bày tỏ quan điểm
rằng sự thông minh và kỹ thuật hiện đại được hướng
dẫn bởi lòng thù hận con người thật sự là một tai họa.
Đúng là hiện đại hóa hay kỹ thuật hiện đại thực
sự mang lại khổ nạn cho nhân loại. Nhưng dẫu sao đi nữa
thì bản chất của con người vẫn là hiền lành.
Sự hung dữ của con người phần
lớn liên hệ tới trí não. Khi
khối óc đi kèm với một trái tim ân cần rộng mở thì tất
cả năng lực ta làm là hữu ích và có giá trị tích cực.
Phải chăng đó là lý do để chúng ta lạc quan ; vâng, xin thưa
đó là lý do thứ nhất.
Lý
do thứ hai là sự thay đối trong thế kỷ thứ hai mươi. Khoảng
đầu thế kỷ này, hai chữ ‘từ bi’ rất hiếm xử dụng
trong ngôn từ của các chính trị gia. Mahatma Gandhi đã dùng
hai chữ ‘từ bi’ trong những lời tuyên bố về chính trị,
đối với các vị khác tôi nghĩ là rất ít khi dùng đến.
Nhưng rồi thời gian cũng trôi đi,
gần đây ở Ấn độ, những
bản tuyên bố chính trị quan trọng, hai
chữ ‘từ bi’ đã trở thành một phần trong chữ nghĩa và
tâm thức của họ. Điều quan trọng hơn ở đây chính là
lòng khao khát hòa bình chân thành và thực tâm chống đối
vũ khí nguyên tử. Quan điểm này ngày càng phát
triển rộng khắp. Trong quá khứ
Tân Tây Lan đã có thời là người
tiên phong trong lực lượng chống vũ khí nguyên tử. Những
điều này thật là tuyệt diệu. Lúc này vì yêu chuộng hòa
bình chân chính nên phong trào đang lan rộng khắp các lục
địa trên thế giới.
Trong
thời kỳ thế chiến thứ nhất và thứ hai, khi một quốc
gia tuyên chiến với nước láng giềng thì toàn dân hãnh diện
vui vẻ tham gia không một thắc mắc nào
được nêu. Ngày nay đảo ngược
không còn như vậy nữa. Chẳng hạn,
gần đây khi có chiến tranh tại
Yugoslavia cũ, khối NATO đã gởi lực lượng quân
đội tới. Tôi đang ở Belgium hay một nơi nào đó, chứng
kiến người ta đổ xô ra đường phố la hét chống lại việc
xử dụng quân đội. Như vậy rõ ràng bây giờ không còn khuynh
hướng toàn dân kiêu hảnh tham gia hay ủng hộ chính quyền
tham chiến. Trong thế chiến thứ nhất và thứ hai, tôi nghĩ
là người Tân Tây Lan rất nỗi tiếng, có phải vậy không?
Tại sao? Dưới lá cờ Anh quốc, một số người không hề
đặt câu hỏi nào, vui vẻ tham dự và chiến đấu để được
ban thưởng huy chương hay những danh từ
rổng tếch như ‘anh hùng’, ‘anh
hùng chiến tranh’. Các em thấy đó, ở một góc cạnh
khác người ta đã … tôi không biết dùng chữ nào cho thích
hợp … người ta đã ‘tẩy não’ để đưa vào đó ý niệm
chiến tranh là vĩ đại hay chiến cuộc đã sản xuất ra những
anh hùng. Tôi nghĩ thật là tiêu cực. Ở đây tôi không nắm
vững, nhưng ở Tây Tạng thì phổ quát người
ta đánh giá quân nhân và quân
đội không cao lắm. Ngược lại ở phương
Tây, người lính và quân ngũ được tôn trọng rất cao.
Ngay
cả các thành viên hoàng gia hay con trai của họ tham dự vào
những cuộc huấn luyện quân sự
hay lực lượng không quân. Ý
niệm về chiến tranh, ý nghĩa của
chiến tranh là gì ? Theo tôi là
cổ võ cho bạo động.Không phải chỉ
là một người hay vài người, mà rất nhiều người cổ võ.
Dù sao chăng nữa đó cũng chính là những bạo động hợp
pháp. Đối với tôi, chiến tranh là điều thực sự đau lòng.
Cho nên cần phải có một nổ lực toàn cầu trong việc ngăn
chận chiến tranh. Điểm chính yếu tôi muốn đề cập ở
đây là những năm đầu của thế kỷ hai mươi, người ta
ủng hộ chiến tranh. Những năm sau cùng của thế kỷ này
người ta đã đổi thay, chứng tỏ dấu hiệu tích cực đã
ló dạng.
Còn
thêm vấn đề môi sinh trong những năm đầu thế kỷ hai mươi
nữa. Hầu như tất cả mọi người chẳng ai quan tâm hay để
tâm chút ít vào môi trường sống của
chúng ta, hoặc nhận thức một
trong những trách nhiệm của nhân loại là chăm sóc
hành tinh này. Ngày nay, thế giới đã ý thức trách nhiệm
về vấn nạn trên.
Riêng
về khoa học và tâm linh, trong thế kỷ thứ hai mươi, vào
giai đoạn đầu tiên, người ta cho rằng khoa học và tâm linh
là hai thế giới khác biệt không hề có mối liên hệ nào.
Giờ đây có một số khoa học gia đại tài, những bộ óc
siêu việt suy nghĩ về tâm ý con người và đời sống tâm
linh. Thế nên khi thẩm định sự phát triển hay những chuyển
thay trong thế kỷ hai mươi, tôi cho rằng qua những khổ đau,
những thể nghiệm khốn cùng, con người đã chín chắn hơn.
Và đó chính là thêm một lý do nữa để giúp chúng ta lạc
quan hơn.
Bây
giờ chúng ta đã bước vào thế
kỷ hai mươi mốt. Phán đoán những
kinh nghiệm quá khứ, tỉnh thức nhìn thấu về những chuyện
đã xảy ra, chúng ta có cơ hội cao hơn trong cách dựng xây
một thế kỷ bình yên và hòa hợp. Các em có thể đóng
góp đáng kể tâm huyết mình vào việc này. Để kết luận
tôi muốn nói một câu là ở khắp mọi nơi, trẻ em và học
sinh, sinh viên chú tâm rất nhiều vào giáo dục, phát triển
trí óc. Thật là kỳ diệu, rất tốt và điều đó rất là
quan trọng. Nhưng đôi khi các em không có mức độ chú tâm
tương đương cho sự phát triển của một trái tim ân cần.
Do thế xin các em hãy vui lòng trong khi học hành, trong khi phát
triển trí não, hãy cùng nghĩ suy về ý thức quan tâm lẫn
nhau, về một tấm lòng từ bi. Và đó là điều cần thiết
vô song.
Tôi
vẫn thường nghĩ người ta có một ấn tượng là từ bi chỉ
tốt cho người khác thôi. Thực sự nhận thức như vậy là
sai lầm. Hẳn nhiên đó là liên quan đến những gì tôi đã
đề cập. Nếu các em muốn có một cơ thể khỏe mạnh,
nhiều bạn hữu, và con người có nhiều nụ cười chân chánh
hơn thì từ bi chính là yếu tố chủ chốt. Với lòng từ
bi các em giúp đỡ mọi người, kết quả là
sẽ có thêm nhiều bạn hữu,
nhiều nụ cuời hơn. Đây không phải là
những người bạn của tiền bạc, người bạn của quyền
lực. Đôi khi những người giàu sang hay các lãnh tụ chính
trị có thể có nhiều bạn hữu, nhưng vừa ngay khi tiền bạc
hay quyền lực mất đi thì bạn hữu cũng không còn thân cận
nữa. Đây không phải là những người bạn nhân bản
chân chính, mà chính là bạn
của tiền tài, quyền lực. Họ
có những thích thú và nhiều lý do riêng biệt khác khi
làm bạn với nhau. Nhưng khi phải đối diện với các vấn
đề, những khó khăn hay khi mất đi vận may mắn mà
vẫn còn tình thân hữu thì đó
chính là những người bạn thân thiện,
là người bạn có được từ
đức tính từ bi. Nhìn chung đó
chính là những người bạn chân chính. Để có được
bạn hữu như vậy, chính lòng từ bi của các em, chính ý thức
quan tâm đến người khác là nền tảng của lòng nhân hậu
khẩn thiết.
Rõ
ràng nhân hạnh từ bi lập tức mang đến lợi ích cho chính
người đang thực hành. Có lợi ích hay không cho người khác
là tùy thuộc vào thái độ của họ. Có vài trường hợp
xảy ra là đôi khi tôi mĩm cười không vì lý do nào cả, trên
đường phố tôi mĩm cười với người qua đường khi họ
nhìn vào tôi chỉ vì ý nghĩ người đó cũng là một con người.
Nhưng các em có biết không, ở phía đối diện người ta phản
ứng rất tiêu cực [cười]. Tôi nghĩ là người đó có thể
nghi ngờ, và trong đầu họ ‘Tại sao người này cười với
mình ? Lý do nào, có ý định lợi dụng chuyện gì đây ?’
Những loại nghĩ suy như vậy. Vì thế đôi khi hành động
từ bi lại mang đến điều tai hại cho người kia
[cười]. Song đối với tôi, đơn
giản chỉ là một nụ cười. Không
có gì khác. Cảm giác bất an
hay cảm giác của người xa lạ
?
Không,
thực tế cũng chỉ là một con người. Tôi không có ấn tượng
nào cả và vẫn mĩm cười, lòng tôi an vui [cười]. Như vậy
thực hành hạnh từ bi mang lại lợi ích cho mình, không nhất
thiết phải cho người khác [cười].
Hãy
suy nghĩ sâu xa hơn về giá trị con người khi các
em đang đi học. Mai kia khi rời xa
mái trường, đi vào xã hội,
vào đời sống hiện thực, không có gì
bảo đảm đó là một sự thành công, không ai có thể giúp
các em được chỉ có chính mình giúp lấy mình thôi. Ở đây
cũng vậy trí não chắc chắn sẽ giúp được, nhưng chính
yếu vẫn là một trái tim rộng lượng ân cần. Một trái
tim tha thiết rộng mở kết hợp với một khối óc tài giỏi
chắc chắn là một đảm bảo
cho niềm an lạc. Cám ơn các
em, buổi nói chuyện đến đây chấm dứt. Xin ưu
ái dành cho phần thắc mắc.
CÂU
HỎI : Xin cho biết ý kiến của Ngài về những vấn đề thời
cuộc hiện nay, chẳng hạn như cuộc tranh chấp giữa Do thái
và Palestine. Và nếu có quyền lực hoàn toàn, Ngài sẽ giải
quyết cuộc chiến này như thế nào ?
ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA : Tôi không biết. Có lẽ, nếu có thực
quyền tôi sẽ mời cả hai cộng đồng đến một vùng đất
hoan hỉ nào đó, để họ cùng nhau dự một buổi vui chơi
ăn uống ngoài trời. Cho họ đi nghĩ mát và làm bạn với
nhau. Dần dà với nhiều liên hệ cá nhân, tình bằng hữu
sẽ nẩy nở, có thể là sẽ có những cuộc hôn nhân và sanh
con cái, rồi thì người ta có thể trở lại với nhau. Không
có vấn đề gì hết [cười]. Nhưng các em tin đi sẽ không
có ai trên đời này áp dụng phương cách đó đâu.
CÂU
HỎI : Vấn đề lớn nhất nhân loại đang phải đối diện
là gì và tại sao ?
ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA : Có một vài điểm tôi đã đề cập
đến rồi. Những vấn đề này, trong giới
hạn của mình tôi cho đó là
những thử thách. Những vấn đề khác tôi không
biết. Tôi đã nói là có tranh chấp tôn giáo, tôn giáo có
thể là suối nguồn của xung đột, vậy thì làm sao chúng
ta đối phó đây ? Đó là một trong những quan tâm thiết tha,
là trách nhiệm nhiệt tình của tôi. Việc
này đòi hỏi sự liên hệ với
các truyền thống tôn giáo khác nhau
về lý thuyết, cùng lúc với
trao đổi kinh nghiệm tinh thần
ở mức độ sâu xa hơn. Nghĩa là theo tôi, đó là phương cách
quan trọng để thu ngắn dần cảm giác của xa cách. Và rồi
từ từ tình anh chị em tinh thần nẩy nở và cùng cộng tác
trong công việc. Đừng nghĩ cách làm sao truyền bá ‘đạo
của tôi’ mà tốt hơn hết là làm sao đóng góp được từ
những gì mình muốn trình bày giảng giải. Tôi luôn đặt
nó lên hàng đầu. Ngày trước, thời cổ đại, người ta
tự mình cô lập với nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau.
Như vậy cũng tạm ổn, không có vấn đề gì xãy ra vì chẳng
ai cố tình truyền đạo. Nhưng ngày nay, thế giới này trở
nên nhỏ bé hơn, người ta đã đến gần nhau hơn. Một phía
có người cứ cố gắng truyền đạo hay thuyết phục người
khác thay đổi tín ngưỡng, và phía bên kia cũng làm tương
tự như vậy, sớm hay muộn rồi sẽ có ngày giao chiến xảy
ra. Chẳng hay ho tí nào cả. Thế nên theo tôi, trong đời sống
thế tục, có tin theo một tôn giáo nào hay không là điều
hoàn toàn tùy thuận vào cá nhân. Khi đã chấp
nhận tin theo một tôn giáo, hãy
thành thật, tinh nghiêm. Tất cả các tôn giáo có
cùng năng lực và thiện tính giống nhau. Con người với nhiều
phẩm chất bẩm sinh và thiên hướng tinh thần khác nhau, nên
chúng ta cần nét muôn màu muôn vẻ của nhiều hệ thống triết
lý và truyền thống đa dạng. Theo tôi, phương cách giáo dục
và sự tiếp cận cá biệt là phương án
quan trọng ứng dụng trong những
xung đột nhân danh tôn giáo.
CÂU
HỎI : Quan điểm của chúng con bị nhiều ảnh hưởng từ
âm nhạc, sách vở và vô tuyến truyền hình. Theo ý
Ngài làm sao cho một người đã bị ảnh hưởng xấu tác ứng
thay đổi hành động, tư tưởng về cuộc đời này ?
ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA : Tôi không biết về những chương
trình truyền hình. Nhưng về phương diện sách, tôi cho là
có nhiều cuốn sách cực xấu cũng như có nhiều cuốn sách
tốt vô cùng. Cả hai đều tràn ngập thị trường. Tất cả
tùy thuộc vào chính mình. Các em tự mua những cuốn sách giải
bày những điều hay, đọc một cách nghiêm chỉnh, có nhiều
cuốn sách chỉ phơi bày những gì tiêu cực xin đừng hoang
phí tiền bạc. Hay ngay cả khi đọc chúng, các
em cũng chỉ nên đọc lướt
qua thôi [cười]. Điểm quan trọng là ngẫm
suy kỹ hơn về những giá trị nội tâm, về cảm xúc của
chúng ta. Cảm xúc chính là một thế giới khác trong ta. Có
rất nhiều loại cảm xúc khác nhau. Triết lý Phật giáo đề
cập nhiều đến các loại cảm xúc, tâm thức cùng ý thức,
và thật là thích thú khi chúng ta phân biệt được chúng.
Cảm xúc nào là lợi ích, cảm xúc nào tai hại, và những
nguyên nhân đưa tới các loại cảm xúc khác nhau. Làm sao ta
đối phó với chúng. Hãy tư duy nhiều hơn, và dần dà chúng
sẽ có ảnh hưởng có tác động trên tâm thức ta.
CÂU
HỎI : Theo ý Ngài cách tốt nhất
để giải quyết vấn đề phân
biệt chủng tộc tại trường học là gì ?
ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA : Tôi cho là trước tiên phải nhấn
mạnh đến sự quan trọng trong tính hợp nhất của nhân loại,
đừng để ý nhiều quá tới sự khác biệt. Nếu chúng ta
để tâm đến sự khác nhau thì trong một cá nhân, điều đó
cũng có. Ngay cả về phương diện cơ thể. Lúc này bụng tôi
trống rỗng. Sau khi ăn trưa bụng
lại đầy. Vậy thì về phương
diện cơ thể, sự khác biệt cũng có đó [cười].
Đôi khi bụng đói nhưng lại thấy nhẹ nhỏm,có thể là ở
mức độ nào đó trí óc mình sáng suốt hơn. Tuy nhiên nếu
quá đói thì dễ nỗi cáu, rõ ràng cảm xúc cũng có sự khác
biệt. Nên tôi cho rằng quan trọng hơn chính là việc nhận
thức tinh thục. Có những ngày ta gặp phải nhiều chuyện,
chuyện thật sự xảy ra, nhưng sau khi có thêm dữ kiện, rồi
lại thêm phân tích dần dà các em sẽ thấy nó hoàn toàn sai
dưới điều kiện khác nhau. Các em thấy đó là sự khác biệt
quá lớn. Nếu người ta cảm thấy khó khăn để vượt qua
xung đột này thì lại chán nản buồn phiền, đôi khi lại
đưa đến chuyện tự tử. Sở dĩ nó xảy ra bởi vì những
điều kiện đó ảnh hưởng qúa sâu đậm và người ta không
biết làm sao để vượt qua tình huống ngặt nghèo để rối
rơi vào tình trạng khá bi thương. Xin nhớ điều đó có xảy
ra. Trở về lại bây giờ, hiện diện ở đây là những con
người với trí thông minh cao, hãy dùng nó và con người có
đủ quyền năng để vượt qua tất cả. Nếu có thể, đặt
những ý huớng trái ngược sang hai bên, rồi cố gắng tổng
hợp và hoà giải chúng. Chúng ta sẽ tìm ra những quan
điểm,
ý kiến mới quân bình hơn. Trường hợp cá nhân là như thế.
Giữa
hai người, mười người hay một trăm người thường có sự
khác biệt về quan điểm, quan tâm, ý kiến và thường thì
không dung hợp. Ngay cả trong cùng một cộng đồng, một liên
hệ, một tôn giáo các em cũng sẽ thấy những ý
kiến khác nhau, nhưng có một
số yếu tố nào đó kết hợp
người ta lại với nhau. Xa hơn
nữa, màu da chủng tộc, quốc
tịch tín ngưỡng, giàu nghèo khác
nhau hiện hữu nhưng cũng có
cơ duyên để mang mọi người lại gần với nhau
như một thực thể duy nhất. Một ví dụ, sáu tỉ người
trên thế giới hiện nay, tất cả đều là những con người,
tất cả chúng ta đều hít thở chung trong bầu khí quyển của
trái đất, phải không ? Vậy thì theo tôi nếu chúng ta suy
tưởng trên bình diện rộng lớn hơn thì những khác biệt
này trở nên thứ yếu, chẳng có gì quan trọng. Nếu nghĩ
quá nhiều về những dị biệt, thì bao giờ chúng ta cũng thấy
nó quẩn quanh đâu đó và không tìm ra lối thoát.
CÂU
HỎI : Đôi khi có những người tàn tật cảm thấy hổ thẹn
vì sự khiếm khuyết của mình. Ngài có đề nghị gì về
những cảm giác có thể có này không ?
ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA : Tôi cho là nó phụ thuộc vào loại
khuyết tật nào. Trong trường hợp tàn tật về cơ thể, mà
trí óc vẫn bình thường thì người đó phải tự tin hơn.
Cùng lúc đó, tất cả mọi người trong cộng đồng cũng phải
đối xử với họ công bằng, đừng coi thường và hãy cho
các vị đó cơ hội bình đẳng. Đối với những trường
hợp trầm trọng hơn, xã hội phải lo lắng cho họ với tất
cả tình thương nhân loại và sự kính trọng. Điều đó rất
thiết yếu. Nếu những người đó tỏ ra có sự phát triển,
hãy đối xử một cách công bình, hãy
mang họ trở lại xã hội với
tình thương thì cơ hội phục hồi sẽ
tăng tiến nhanh. Nếu chúng ta coi thường thì một năng lực
nhỏ cũng không phát triển được, lắm khi lại đi cả sai
đường. Nhất là đối với những người chú tâm về đời
sống tinh thần, chúng tôi tìm thấy trong kinh điển của Đức
Phật có sự nhấn mạnh đặc biệt về thái độ của chúng
ta đối với ngưòi khuyết tật, hành giả về từ bi phải
chú trọng quan yếu về lãnh vực chỉ định. Những phần
khác tôi không biết, xin cho câu hỏi kế tiếp. [cười]
CÂU
HỎI : Giáo pháp của Chúa Jesus và của Đức Phật bổ sung
và trái ngược nhau như thế nào ?
ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA : Đây là những điểm khác biệt. Điểm
khác biệt căn bản là Phật giáo không chấp nhận ý niệm
về một đấng sáng tạo như trong cuốn Kinh Cựu Ước đầu
tiên miêu tả sự hình thành của thế giới. Một truyền thống
cổ đại Ấn Độ khác cũng cho mình chính là đấng sáng tạo
của riêng mình. Trong khi Phật giáo, tâm thức của một người
chính là đấng sáng tạo tối cao của chính mình. Vậy thì
đã có một sự khác biệt lớn lao. Cùng lúc đó, đối với
người theo Thiên Chúa giáo, những anh chị em tin theo đạo
này, nhất là các thầy dòng và các vị nữ tu, tôi để ý
thấy đời sống của họ rất là đơn giản, tương tự như
là đời sống của các tu sĩ Phật giáo. Thông điệp về tình
thương và từ bi, tha thứ, khoan dung, tri túc, tự buộc mình
vào kỹ luật là những thực hành được tất cả cùng áp
dụng. Có một lần, hơn ba mươi năm
trước, khi viếng thăm một ngôi
chùa cổ ở Monserat, Tây Ban Nha, tôi gặp một thầy
dòng tu theo Thiên Chúa giáo La Mã. Vị này
người không to lớn, hơi nhỏ
con, có râu quai nón, và người ta
nói với tôi là ông đã sống năm năm trong rặng núi sau lưng
chùa Monserat với lượng thức ăn rất ít ; không có thức
ăn nóng, chỉ có bánh mì và trà thôi. Lúc đó ông ra khỏi
nơi ẩn tu, chỉ để gặp tôi. Chúng tôi nói chuyện,
tôi nghĩ về một trong những
kinh nghiệm cá nhân, và so sánh
trình độ Anh ngữ thì thấy là tiếng Anh của tôi nghe được
hơn. Vì vậy tôi lại càng can đảm nói
nhiều để chứng tỏ là ta đây
giỏi tiếng Anh hơn ! [cười]. Rồi tôi hỏi
vị tu sĩ đó, nghe nói ông đã sống năm năm trong núi với
lượng thức ăn giới hạn, ông đã làm gì trong đó ?
Câu trả lời là thiền định về từ bi. Khi nghe như vậy
tôi cảm thấy, ồ, tuyệt diệu.
Như
vậy theo tôi việc trình bày hay giảng giải về từ bi có
thể khác nhau, bởi vì triết lý, khái niệm, và phương cách
giảng dạy của Phật giáo là khác xa với
kinh điển Thiên Chúa giáo. Nhưng
trên thực tế, tình thương và từ bi được
áp dụng giống nhau. Tôi cho là ý thức về quan tâm chăm sóc
mọi người là không khác. Chúng ta đều có cùng chung phương
cách thực hành, nói chung thế nào rồi cũng sẽ đạt được
kết quả tương tự. Chúng ta biết có rất nhiều tín đồ
Thiên Chúa giáo đã hiến trọn đời mình vì lợi ích cho người
khác. Rồi cũng có những người hành xử không đúng đắn.
Trong số Phật tử cũng có những người như vậy thôi. Tôi
cho là họ giống nhau. Nhưng điểm cốt
tuỷ là có nhiều phương cách
thực hành chung, những sự tương đồng và đôi khi cũng
có đặc thù trong từng mỗi truyền thống. Trong trường hợp
đó chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau.
Thực
chất theo tôi biết, có những người theo Thiên Chúa giáo và
một số người anh em tinh thần theo Thiên Chúa giáo áp dụng
kỹ thuật của Phật giáo, chẳng hạn như sự chú tâm về
một điểm, nhất tâm, Định. Họ cũng hành Bồ tát hạnh
như Ngài Tịch Thiên (Shantideva) viết. Vài người anh em này
cũng đọc cuốn sách quan trọng và nỗi tiếng của vị thầy
Phật giáo Ấn độ. Họ đã ứng dụng, tìm hiểu thêm những
lời giảng giải và cơ nguyên của kinh văn Phật giáo đó.
Một số tín đồ Thiên Chúa giáo lại bày tỏ thích thú tìm
hiểu về ý niệm ‘tánh không’ của Phật giáo. Khi đuợc
hỏi về tánh không, tôi thường trả lời là điều đó không
liên hệ đến bạn bởi vì ý niệm chủ yếu của bạn là
đấng sáng tạo. Đấng sáng tạo là tuyệt đối. Vì thế
với ý niệm đó, rất khó khăn để hiểu được về ý niệm
‘tánh không’. Tôi thường trả lời như vậy ngay cả khi
họ tỏ ra quan tâm. Những tu sĩ, những người anh chị em Thiên
Chúa giáo với truyền thống lâu đời đóng góp vào xã hội
trong lãnh vực giáo dục và y tế. Thật là hết sức kỳ diệu.
Các tu sĩ Phật giáo, không phải chỉ Tây tạng mà ngay cả
Thái lan và Tích lan, khuynh hướng nhập thế theo truyền thống
cũng rất yếu kém.
CÂU
HỎI : Theo ý Ngài tương lai gần nhất cho Tây tạng là gì
và các em học sinh ở Tân tây lan có thể làm được gì để
đóng góp vào nền độc lập cho Tây tạng ?
ĐỨC
ĐẠT LAI LẠT MA : Vấn đề Tây tạng. Nói ngắn gọn,
Tây tạng là quốc gia với một lịch sử dài lâu kèm theo
di sản văn hóa đặc thù. Từ khi Phật giáo du nhập vào, văn
hoá Tây tạng thật sự đã tăng phần phong phú. Hôm nay đây
các em có thể thấy đó là một nền văn hóa tế nhị, đặt
căn bản trên lòng từ bi của con người. Bản chất cơ bản
tự nhiên của nền văn hoá đó là hòa bình. Đất nưóc tôi
với một di sản văn hoá như thế, một môi trường sinh thái
mỹ miều đang phải đối diện với muôn vàn khó khăn và
với một tình trạng nghiêm trọng. Thực sự đôi khi tôi phải
nói quốc gia cổ đại có di sản văn hóa đặc thù đó đang
đi dần vào cõi chết.
Nếu
các em nhìn ở góc cạnh địa phương, mọi sự thực là vô
vọng, hầu hết không có hy vọng
gì. Càng ngày càng có nhiều
người anh em Trung hoa đến, và cả phương cách sinh
sống của người Tây tạng cũng bị thay đổi. Họ đã gây
nhiều hư hại cho lãnh vực môi sinh. Thật là nghiêm trọng.
Nhưng nếu các em nhìn xa hơn,
từ khi Tây tạng có vấn đề
tôi thường nói đùa với mọi người
là vấn nạn Tây tạng không
phải vì nội chiến, không giống
như Đại hàn, Việt nam hay Đông
Đức - Tây Đức, không phải kiểu đó và cũng
chẳng phải là một thiên tai.
Nhưng
chủ yếu là do bởi vị khách
mới đến không có giấy mời chính
thức [cười]. Từ từ những vị khách đó kiểm soát mọi
sự liên quan tới cách sinh sống và lối suy nghĩ của người
Tây tạng. Then chốt là ở chổ này. Vi phạm nhân quyền là
một triệu chứng. Người Trung hoa sống tại địa phương
rất nhạy cảm nên khi bất cứ người dân Tây tạng nào bày
tỏ một chút phẩn uất thì lập tức bị bắt giữ và giam
cầm trong nhà tù hay đôi khi còn bị tra
tấn nữa. Nói cho cùng, đất
nước Tây tạng liên hệ tới
tự chính thể Trung cộng.
Bây
giờ chúng ta hãy nhìn vào Trung
cộng, Cộng hòa nhân dân Trung hoa, đang
trong tiến trình thay chuyển. Hiện nay chúng ta thấy rất nhiều
người Trung hoa từ lục địa sinh sống khắp nơi trên thế
giới. Bốn mươi năm trước, ba mươi năm trước, hầu như
chẳng có ai, ngoại trừ một số nhân viên chính phủ. Sư
liên hệ của Trung cộng với thế giới bên ngoài tiến
triển hằng tháng cũng như theo
nhiều cách khác nhau. Họ đã
có Internet, một phương cách mới để tiếp cận các dữ kiện
thông tin. Mặc dầu có sự kiểm duyệt của chính phủ, nhưng
kỹ thuật mới này đã thâm nhập. Chính lẽ đó
Trung cộng không có cách nào
khác hơn là tham gia vào khuynh hướng
của toàn cầu. Đó là dân chủ, là nguyên tắc pháp trị,
tôn trọng nhân quyền, tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự
do ngôn luận, có một xã hội cỡi mở, tự do truyền thông,
tất cả biểu hiện khuynh hướng toàn cầu. Cho nên Trung cộng
phải chuyển đổi, phải cùng đi với những điều này. Vì
thế một khi Trung cộng trở nên quen thuộc với nguyên tắc
pháp trị, với đường hướng mở
rộng hơn, thì vấn đề của
chúng tôi được giải quyết. Tôi không đòi
hỏi độc lập, nhiều người đã biết điều đó. Tôi chỉ
tìm kiếm một sự tự trị chân chính bởi vì người Tây
tạng có di sản văn hoá đặc thù của riêng
mình và có một môi trường
sinh sống quan trọng. Một trường
hợp khó xử cho một môi trường
tế nhị, thế nên chúng tôi
cần những luật lệ do chính người Tây tạng điều hành
vì chỉ có người dân tôi mới biết đời sống tinh thần
Tây tạng. Ngoại trừ vấn đề ngoại giao và quốc phòng liên
hệ tới phần còn lại của thế giới, các công vụ phải
do người Tây tạng điều hành hay quyền lực phải ở trong
tay người dân tôi. Bây giờ tôi đang cố gắng
giải quyết sự kiện này bằng
cách đối thoại với chính quyền Trung
cộng. Tôi xem mình là phát ngôn nhân vô vụ lợi cho người
Tây tạng. Bởi vì người Tây tạng đã tin tưởng hay đặt
nhiều hy vọng nơi tôi nên tôi có bổn phận và trách nhiệm
đạo đức để phục vụ dân tôi. Tôi không suy nghĩ hay quan
tâm đến việc bảo vệ ngôi vị của Đạt Lai Lạt Ma hay
tương lai của cá nhân mình. Tôi không có gì, không có gì
phải cầu xin chính phủ Trung cộng cả.
Thế
nên giờ đây đối với các em học sinh - tôi thành thật nói
lời biết ơn đến sự quan tâm đó. Trước hết,
các em có thể nói về Văn hóa Tây tạng, về những vấn đề
Tây tạng mà tôi đã đề cập - về triết lý, di sản văn
hóa đặc thù và về môi sinh nữa - như thế vấn đề Tây
tạng không chỉ là quan tâm của sáu triệu người dân mà
là của cả cộng đồng lớn hơn trong một phần thế giới,
vậy thì phương diện giáo dục so ra khá cần yếu. Tôi cũng
cho rằng mỗi khi các em gặp một học sinh người Hoa hãy thảo
luận với họ và nói cho họ nghe thực chất văn hóa Tây tạng
và tình trạng Tây tạng hiện thời. Tôi nghĩ đó là điều
chính yếu. Chúng tôi cũng có những cảm tình viên với người
Tây tạng ở đây đang hoạt động rất hữu hiệu. Xin vui
lòng liên lạc với họ và trợ giúp. Đó là cách các em hổ
trợ chúng tôi. Xin cám ơn các em. ‘Khi khối óc đi kèm với
một trái tim ân cần rộng mở thì tất cả năng lực ta làm
là hữu ích và có giá trị tích cực’
Chuyển
dịch Mai Tuyết Ánh