PHẦN
MỘT
ƯỚC MUỐN
HÒA HỢP
Phòng
hội của Đại học Middlesex, phía bắc Luân Đôn không có
gì là đồ sộ : nó giới hạn trong một không gian khá nhỏ
bé và chật hẹp với những chỗ ngồi dọc theo chiều dốc,
kêu ọp ẹp khi cử tọa cử động. Những bích chương lớn
viết nắn nót những câu của John Main, treo giữa các cửa
sổ mở ra bầu trời màu xám của nước Anh. Một vài ghế
dựa, một tấm thảm nhỏ và một bó hoa có vẻ bị bỏ rơi
trên một chiếc bục lung lay. Có lẽ người ta sẽ nói rằng
nơi này đã dược xây dựng vội vàng đêm hôm trước và
không có gì quan trọng sẽ diễn ra nơi đây.
Căn
phòng rối lên vì sốt ruột. Trong các dãy ghế dành cho giáo
dân người Anh, Canada và Mỹ, một vài tu sĩ Phật giáo nam
và nữ trong các bộ áo màu vàng nghệ và màu hồng điều
lướt qua, đầu họ nhẵn bóng, bất động giữa sự qua lại
của đám đông. Các tu sĩ và các xơ dòng Thánh Benoit, một
số mặc đồ đen, các tu sĩ dòng Olivétain mặc đồ trắng,
chiếm các hàng ghế đầu. Người ta điều chỉnh các máy
quay và các micrô. Các cánh cửa sáng lên. Không có đàn phong
cầm, và kèn đồng trổi nhạc. Một nhóm nhỏ đi qua cửa
hông và leo lên bục. Đức Đạt Lai Lạt Ma tiến lên ở giữa
nhóm, chân mang giày gọn gàng mặc áo màu hồng điều và màu
vàng, một nụ cười mở rộng trên môi ngài, ngài ra dấu
bằng đầu và hai bàn tay, có đôi chút rụt rè nhưng biểu
lộ niềm hạnh phúc được hiện diện nơi đây.
Ngài
bước vào không cần nghinh đón. Cũng không phải là lần đầu
như thế, Ngài đến như một người Phật tử bình thường
không lễ nghinh đón. Một thoáng Ngài vắng mặt, sau đó lại
hiện ra, và ngài đây rồi.
Nhiều
bài diễn văn Chào mừng được phát biểu trong đó có diễn
văn của Bà Mayor d’Enfield, giới thiệu khu phố của bà như
một nơi “đa dân tộc, đa văn hóa và đa tôn giáo”. Khu
phố này ở phía bắc Luân Đôn, vẫn cố gắng duy trì sự
hòa hợp trong tính đa nguyên, hoàn toàn thích hợp để tổ
chức một cuộc hội thảo quy tụ hai truyền thống tôn giáo
lớn.
Sau
lời phát biểu của thị trưởng, cha Dom Laurence Freeman, O.S.B
đứng lên để tiếp đón ngài. Với tư cách là linh hướng
và giáo sư của World Community for Christian Meditation, cha Laurence
đã ngỏ lời mời đến Đức Đạt Lai Lạt Ma và giờ đây
đón tiếp vị khách quý. Hiền lành và chừng mực trong từng
cử chỉ, cha tỏa ra một năng lực trí thức và tâm linh, làm
cho vị khách danh dự vừa tò mò, vừa thiện cảm. Hội thảo
càng tiến hành thì mối thiện cảm giữa hai nhà tu hành càng
tăng lên thấy rõ. Khi Cha Laurence nói, vị Thánh tăng chăm chú
nhìn, như ngài vẫn thường làm với mọi người đối thoại
khác.
Trong
những lời mở đầu, cha đã triển khai một điểm sẽ trở
thành một chủ đề trung tâm của cuộc hội thảo – Bản
chất hỗ tương của biến cố :
Cha
Laurence Freeman : “Thưa Đức ngài, thật là một vinh dự lớn
cho tôi được đón tiếp ngài. Ngài đã nói với tôi rằng
ngài muốn học hỏi chúng tôi và hôm nay chúng tôi quy tụ
ở đây cũng để học hỏi Ngài. Quả thật, chúng tôi được
đặc ân tiếp đón Ngài như một vị khách danh dự của cuộc
hội thảo John Main, về đề tài mà Ngài đã chọn, Thiện
Tâm và ngài cũng đã chấp thuận với tinh thần cởi mở và
quảng đại lời mời chú giải Phúc Âm của chúng tôi.
“Trong
truyền thống Kitô giáo, các bản kinh được gọi là Kinh Thánh
bởi lẽ chúng tôi tin rằng dù chỉ đọc trên mặt chữ, chúng
tôi có thể khám phá sự hiện diện của Đức Kitô ở đó.
Đây là chữ nghĩa của con người, và do đó, có thể hiểu
được đúng hoặc hiểu sai. Những chữ đó cần được tinh
thần giải thích để con tim có thể nắm được ý nghĩa của
chúng. Chúng tôi biết được rằng ngài đại diện cho một
truyền thống Phật giáo phong phú và tốt đẹp đã biết tinh
luyện những dụng cụ tinh thần áp dụng vào việc nhận thức
chân lý. Chúng tôi mong mỏi được đọc Thánh Kinh của chúng
tôi qua sự chắt lọc của tinh thần Ngài và cùng với Ngài
đem lại cho Thánh Kinh một cái nhìn mới.
“Cũng
giống như chúng tôi là những Kitô hữu chắc chắn sẽ được
phong phú hơn, chúng tôi hy vọng các bạn Phật tử có mặt
nơi đây và tín đồ của mọi tôn giáo sẽ được phong phú
hơn khi rời khỏi cuộc hội thảo này. Chúng tôi biết rằng
việc tìm kiếm tri thức không đơn thuần là việc của lý
trí nhưng ta phải tìm kiếm hiểu biết trực giác chân thật,
vipasyana (soi thấy) tức là kinh nghiệm về ý nghĩa của các
từ ngữ linh thiêng. Một trong các giáo sư thần học Kitô
giáo vĩ đại, Thomas d’Aquin đã nói rằng chúng tôi đặt
lòng tin của chúng tôi không phải trong những phát biểu nhưng
trong những thực tại mà ngôn từ là dấu chỉ. Điều đáng
quan tâm chính là kinh nghiệm, chứ không phải là những ý
tưởng giản lược. Chúng tôi biết rằng con đường trầm
tư mà chúng tôi sẽ được chia sẻ với Ngài trong thinh lặng,
suốt cuộc hội thảo này sẽ là con đường phổ quát và
hiệp nhất đưa chúng tôi vào kinh nghiệm vượt qua ngôn từ
ấy.
“John
Main đã biết sức mạnh hiệp nhất ấy của thinh lặng đưa
chúng ta vượt qua ngôn từ. Chính vì thế, trong cuộc hội
thảo này, những giây phút quan trọng nhất mà chúng ta cùng
trải qua có lẽ là những giây phút thinh lặng. Sau khi Đức
ngài giảng dạy xong, ngài sẽ đưa chúng ta đến thời điểm
trầm tư hay thiền định ở giai đoạn này, chúng ta có thể
vượt qua lý trí biện luận để bước vào chân lý nằm ngay
trung tâm của thực tại. Trầm tư hay thiền định làm cho
chúng ta thêm phong phú bằng nhiều cách. Nhất là nó làm cho
chúng ta có khả năng đọc được Kinh Thánh của toàn thế
giới với nhiều sự khôn ngoan và mẫn cảm hơn.
“Thưa
Ngài, chúng tôi đánh giá cao tặng vật chính là sự hiện
diện của Ngài. Nếu chúng tôi có thể mở rộng lòng mình
ra với thực tại của sự hiện diện – sự hiện diện mà
chúng tôi sẽ cảm nhận trong Kinh Thánh, sự hiện diện mà
chúng tôi sẽ cảm nhận khi Ngài mở lòng trí của Ngài cho
chúng tôi – chúng tôi cũng biết làm cho tinh thần hòa bình
và thân hữu lớn lên trong chúng tôi.
“Nhân
danh Cộng đoàn của chúng tôi có mặt trên toàn thế giới,
tôi muốn bảo đảm với Ngài rằng chúng tôi mang dân tộc
Tây Tạng trong tinh thần và trong trái tim của chúng tôi. Chúng
tôi cảm nhận họ đang hiện diện với Ngài hôm nay. Thánh
giá và sự Phục sinh của Đức Kitô là trung tâm của đức
tin Kitô giáo. Đã hẳn chúng tôi có thể nhìn thấy trong lịch
sử Tây Tạng và trong lịch sử bản thân Ngài rằng Thánh
giá và sự Phục sinh là những thực tại nhân loại thuộc
về mọi dân tộc và không chỉ là đặc tính của một tôn
giáo. Chúng tôi đã là nhân chứng của đất nước Tây Tạng
bị đóng đinh nhưng chúng tôi cũng đã nhìn thấy trong sự
Phục sinh của minh triết, của giáo huấn Tây Tạng mà Ngài
đem lại, một tặng vật cho toàn thế giới.
“Chúng
tôi được khai mở cho mầu nhiệm của thực tại. Chúng tôi
hy vọng và cầu xin rằng trong sự thinh lặng của thiền định
và trong những ngôn từ ngài dùng để hướng dẫn chúng tôi,
chúng tôi có thể bước vào sự viên mãn của thức giác và
ánh sáng.”
Bài
diễn văn của Cha Laurence được vỗ tay nhiệt liệt. Đức
Đạt Lai Lạt Ma rạng rỡ, đón nhận những lời chào mừng
rõ ràng và sự đón tiếp nồng nhiệt mà người ta dành cho
Ngài. Ngài bắt đầu nói bằng tiếng Anh, thỉnh thoảng trở
lại tiếng Tây Tạng nếu thấy cần.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Thưa các anh chị em tinh thần, đối với
tôi, thật là một niềm vui và một sự ưu ái lớn lao cho
tôi có cơ hội may mắn tham gia vào cuộc đối thoại này và
mở ra cuộc hội thảo John Main nhan đề “Thiện Tâm”. Cho
phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn với tất cả những
người đã giúp đỡ tổ chức cuộc gặp gỡ này.
“Tôi
xin cám ơn Bà Mayor vì những lời đón tiếp nồng hậu, và
tôi cảm thấy được khích lệ khi bà nói đến sự hòa hợp
và sự hiểu biết nhau ngự trị ở giữa các cộng đồng
có truyền thống tôn giáo khác nhau của khu phố này mà bà
cho là đa văn hóa, đa dân tộc và đa tôn giáo. Tôi chân thành
cảm ơn bà điều đó.
“Tôi
đã quen biết cha John Main nhiều năm trước đây ở Canada,
và tôi đã ngạc nhiên gặp được một đại diện của truyền
thống Kitô giáo nhấn mạnh đến sự quan trọng của sự trầm
tư trong việc thực hành tâm linh. Ngày hôm nay, khi khai mạc
khóa hội thảo này, tôi nghĩ rằng nhắc lại kỷ niệm về
cha cũng rất quan trọng.
“Tôi
cũng vui mừng được gặp biết bao khuôn mặt thân quen và
có cơ hội gặp gỡ những người bạn cũ và mới.
“Mặc
dù đã có nhiều tiến bộ vật chất trên hành tinh chúng ta,
nhân loại phải đối đầu với rất nhiều vấn đề trong
đó có cả những vấn đề do chúng ta gây ra. Phần lớn, chính
thái độ tinh thần của chúng ta – cái nhìn của chúng ta
về cuộc đời và thế giới – sẽ quy định tương lai của
nhân loại, thế giới và môi sinh. Rất nhiều việc lệ thuộc
vào thái độ tinh thần của chúng ta, trong lãnh vực công và
tư. Phần lớn hạnh phúc của đời sống cá nhân hay gia đình
tùy thuộc vào chính chúng ta. Dĩ nhiên, những điều kiện
vật chất của cuộc sống là một yếu tố quan trọng để
có một cuộc sống hạnh phúc tốt đẹp nhưng thái độ tinh
thần của chúng ta cũng quan trọng bằng nếu không muốn nói
là hơn.
“Bước
vào thế kỷ XXI, các truyền thống tôn giáo hơn bao giờ hết,
giữ được sự phù hợp của chúng. Tuy nhiên, cũng như trong
quá khứ, nhân danh những truyền thống tôn giáo khác nhau,
các xung đột và khủng hoảng xuất hiện. Điều này quả
thật rất bất hạnh. Chúng ta phải làm hết khả năng để
làm chủ tình hình đó. Bằng kinh nghiệm của riêng tôi, tôi
đã học được phương pháp hữu hiệu nhất để vượt qua
khủng hoảng là sự tiếp xúc chặt chẽ và trao đổi giữa
những người có niềm tin khác nhau không chỉ ở bình diện
trí thức, nhưng còn bằng kinh nghiệm tâm linh sâu thẳm. Đó
là một phương pháp mạnh mẽ để phát triển sự hiểu biết
và tôn trọng lẫn nhau. Chính trong lúc trao đổi một nền
tảng vững chắc được thiết lập để xây dựng một sự
hòa hợp thật sự.
“Vì
thế, tôi luôn luôn cảm thấy một hạnh phúc lớn lao được
tham dự một cuộc đối thoại tôn giáo. Tôi vui mừng và chuẩn
bị sẵn sàng để nói chuyện với các bạn trong mấy ngày
này và để thực hành tiếng Anh của tôi vốn còn yếu kém
! Sau một vài tuần lễ tịnh tâm ở Dha-ramsala, tôi nhận ra
rằng tiếng Anh của tôi còn tệ hơn trước, mấy ngày này
sẽ cho tôi một cơ hội hoàn toàn thuận tiện để thực hành.
“Vì
tôi tin tưởng mạnh mẽ sự hòa hợp giữa các tôn giáo có
tầm quan trọng và sự thiết yếu cao nhất, nên giờ đây
tôi muốn đề nghị một vài ý tưởng về các phương tiện
để thực hiện. Trước tiên, tôi đề nghị nên cổ vũ các
cuộc gặp gỡ giữa các học giả từ những chân trời tôn
giáo khác nhau để thảo luận các điểm bất đồng và các
điểm tương đồng của những truyền thống ấy để phát
huy sự thông cảm, và cải thiện sự hiểu biết lẫn nhau.
Điểm thứ hai, tôi đề nghị chúng ta nên cổ động các cuộc
gặp gỡ giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau, những
người này có một kinh nghiệm nào đó trong cuộc sống tâm
linh ; họ không cần phải là học giả, nhưng là những người
hành đạo chân chính họp lại để chia sẻ những ánh sáng
đến với họ từ việc thực hành tôn giáo. Theo kinh nghiệm
của tôi, đó là một phương tiện hữu hiệu và mạnh mẽ
để thức tỉnh lẫn nhau một cách trực tiếp và sâu sắc.
“Trong
số các bạn, có người đã biết câu chuyện tôi đến thăm
một tu viện lớn ở Montserrat, Tây Ban Nha và tôi đã gặp
một tu sĩ dòng Thánh Benoit. Đặc biệt ông này đến gặp
tôi, và vì tiếng Anh của ông còn kém hơn tiếng Anh của tôi,
tôi cảm thấy can đảm hơn nên tôi nói trước. Sau bữa ăn
trưa, hai chúng tôi ở lại thêm một thời gian, và tôi được
biết vị tu sĩ ấy đã sống nhiều năm trong núi ngay phía
sau tu viện. Tôi đã hỏi ông thực hành kiểu tĩnh tâm thiền
định nào trong suốt những năm sống đơn độc đó. Câu trả
lời của ông đơn giản : “Tình yêu, tình yêu, tình yêu.”
Thật tuyệt vời ! Tôi nghĩ rằng có lúc ông cũng ngủ. Nhưng
suốt những năm đó, đơn giản ông chỉ trầm tư về tình
yêu và không chỉ trầm tư trên ngôn từ. Trong đôi mắt ông,
tôi thấy bằng chứng của chất tâm linh và một tình yêu
sâu sắc – như tôi đã cảm thấy nơi Thomas Merton.
“Hai
cuộc gặp gỡ ấy đã giúp tôi nẩy sinh lòng tôn kính chân
thành đối với truyền thống Kitô giáo và khả năng của
Kitô giáo tạo nên những con người có thiện tâm như thế.
Tôi tin rằng mục đích của mọi truyền thống tôn giáo lớn
không phải là xây dựng những đền thờ lớn bên ngoài, nhưng
là tạo nên những đền thờ của lòng tốt và lòng thương
xót ở bên trong, trong trái tim của chúng ta. Tất cả những
tôn giáo lớn đều có khả năng đó. Chúng ta càng có ý thức
về giá trị và sự hữu hiệu của các truyền thống tôn
giáo khác thì sự tôn kính mà chúng ta có đối với các truyền
thống ấy càng sâu xa. Đấy là con đường tốt phải theo
nếu chúng ta muốn thăng tiến lòng thương xót chân thật và
tinh thần hòa hợp giữa các tôn giáo.
“Ngoài
những cuộc gặp gỡ giữa các học giả và người hành đạo
có kinh nghiệm, dường như cũng quan trọng nhất là dưới
mắt quần chúng việc các nhà lãnh đạo của các tôn giáo
khác nhau thỉnh thoảng hội họp để cầu nguyện, như cuộc
gặp gỡ năm 1986 ở Assise. Đó cũng là phương tiện thứ ba,
đơn giản dù vậy rất hiệu quả để thăng tiến lòng khoan
dung và sự hiểu biết.
“Một
phương tiện thứ tư là việc tín đồ của các tôn giáo khác
nhau cùng đi hành hương và thăm viếng những thánh địa của
nhau. Cách đây vài năm, chính tôi đã bắt đầu làm điều
đó ở Ấn Độ. Từ đó, tôi đã có cơ hội để đến Lộ
Đức và Giê-ru-sa-lem. Trong những nơi ấy, tôi đã cầu nguyện
với các tín đồ của các tôn giáo khác, đôi khi cùng trầm
tư trong thinh lặng. Những lúc cầu nguyện và trầm tư đó
đối với tôi là những kinh nghiệm tâm linh chân thực. Tôi
hy vọng trường hợp của tôi sẽ được dùng làm gương mẫu,
tạo thành một tiền lệ, để trong tương lai các tín đồ
coi việc cùng đi hành hương đến các thánh địa và chia sẻ
các kinh nghiệm tôn giáo khác nhau là việc hoàn toàn bình thường.
“Để
kết thúc, tôi muốn trở lại đề tài tĩnh tâm thiền định
và về các anh chị em Kitô hữu có thực hành sự tĩnh tâm
thiền định trong cuộc sống mới này. Tôi nghĩ rằng sự
thực hành ấy vô cùng quan trọng. Ở Ấn Độ, người ta đã
biết sự tham thiền của samadhi, “định”, chung cho mọi
tôn giáo ở Ấn Độ như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Kỳ na
giáo. Một vài mô thức của Vipasyana, “trầm tư phân tích”
chung cho nhiều truyền thống của các tôn giáo đó. Người
ta có thể tự hỏi tại sao samadhi lại quan trọng như thế.
Bởi vì samadhi hay sự trầm tư tập trung vào một điểm là
phương tiện động viên tinh thần, khai thông năng lực tâm
linh. Samadhi được coi như một yếu tố chủ yếu của việc
thực hành tâm linh của mọi truyền thống tôn giáo lớn ở
Ấn Độ bởi vì nó cho ta khả năng khai thông mọi năng lực
tinh thần của người hành đạo và định hướng tinh thần
trên một đối tượng đặc biệt, tập trung tinh thần trên
một điểm duy nhất.
“Tôi
xác tín rằng nếu sự cầu nguyện, tĩnh tâm và chiêm niệm
– chiêm niệm thì biện luận và phân tích nhiều hơn – được
kết hợp mỗi ngày, thì hiệu quả trên tinh thần và tâm hồn
của người hành đạo còn lớn hơn nữa. Sự thực hành tôn
giáo ưu tiên nhằm biến đổi nội tâm của người hành đạo,
đưa họ từ một trạng thái tinh thần rối ren, nổi loạn,
phân tán đến một trạng thái có kỷ luật, được chế ngự
và quân bình. Người nào đã phát triển khả năng tập trung
trọn vẹn tinh thần trên một điểm chắc chắn sẽ dễ dàng
đạt đến mục tiêu đó. Khi sự tĩnh tâm thiền định là
một phần trong toàn bộ đời sống tâm linh của bạn, bạn
có thể thực hiện sự biến đổi nội tâm nói trên một
cách hữu hiệu hơn.
“Đạt
tới trạng thái mới đó, trong khi vẫn đi theo truyền thống
tâm linh của mình, bạn sẽ khám phá một tấm lòng khiêm tốn
tự nhiên nở hoa trong bạn, cho phép bạn hiệp thông tốt hơn
với tín đồ của các vũ trụ văn hóa và các truyền thống
tôn giáo khác. Bạn ở trong một vị trí tốt nhất để lượng
định giá trị và sự phong phú của các truyền thống khác
bởi vì bạn nhìn ra giá trị ấy trong khi vẫn đặt mình ở
bên trong truyền thống của riêng bạn. Người ta thường cảm
thấy những tình cảm độc đoán đối với niềm tin tôn giáo
của mình – đạo của tôi là đạo duy nhất đúng – từ
đó họ rất e ngại thiết lập các mối quan hệ với những
người thuộc các tôn giáo khác. Tôi nghĩ rằng phương tiện
tốt nhất để chiến thắng trở lực đó là thực hành kinh
nghiệm về giá trị riêng của đạo mình bằng một đời
sống tĩnh tâm thiền định, điều này cho phép nhìn ra sau
đó giá trị của những truyền thống khác.
“Để
cho một tinh thần hòa hợp chính đáng có thể dựa trên những
kiến thức vững vàng, tôi nghĩ rằng biết được những sự
khác nhau căn bản giữa các truyền thống tôn giáo rất quan
trọng. Đã hẳn có thể biết các tôn giáo khác nhau ở chỗ
nào, đồng thời vẫn thừa nhận giá trị và khả thể của
mỗi truyền thống. Như thế, người hành đạo sẽ phát huy
một nhận thức quân bình và hài hòa. Một số người nghĩ
phương tiện hợp lý nhất để đạt đến sự hòa hợp và
giải quyết vấn đề bất khoan dung trong tôn giáo là lập
ra một tôn giáo toàn cầu có giá trị cho tất cả mọi người.
Vả chăng, tôi vẫn luôn nghĩ rằng chúng ta phải có những
truyền thống tôn giáo khác nhau bởi lẽ con người có những
xu hướng tâm lý khác nhau : một tôn giáo thực ra không thể
thỏa mãn các nhu cầu của mọi cá nhân. Nếu chúng ta thử
thống nhất các tôn giáo của thế giới thành một tôn giáo
duy nhất, chúng ta sẽ đánh mất nhiều phẩm chất và sự
phong phú của mỗi truyền thống. Chính vì thế nên mặc dù
còn nhiều xung đột phát sinh nhân danh tôn giáo, tôi nghĩ rằng
tốt hơn là duy trì tính đa nguyên của các truyền thống.
Khổ nỗi, nếu sự đa dạng là cách tốt nhất để thỏa
mãn những nhu cầu của các xu hướng tinh thần vốn đa dạng
của nhân loại thì sự đa dạng ấy tự bản chất là nguồn
gốc tiềm tàng của xung đột và bất hòa. Chính vì thế các
tín đồ của mọi truyền thống phải nỗ lực gấp đôi để
vượt qua sự không khoan dung và không hiểu biết và để tìm
kiếm sự hòa hợp.
“Đó
là một vài điểm mà tôi thấy cần phải xác định ngay từ
đầu cuộc hội thảo này. Giờ đây tôi mong mỏi khai thác
những bản văn có những ý tưởng đối với tôi còn xa lạ.
Các bạn đã trao cho tôi một trách nhiệm nặng nề và tôi
cố gắng làm hết sức mình để đáp lại sự mong chờ của
các bạn. Tôi cho rằng đây quả thật là một vinh dự và
một sự ưu ái lớn lao mà các bạn dành cho tôi khi yêu cầu
tôi chú giải các đoạn văn được chọn trong Kinh Thánh, một
bút tích mà tôi sẵn sàng chấp nhận nhưng chưa hiểu rõ.
Tôi cũng phải thừa nhận đây là lần đầu tiên tôi tham
gia vào một công việc như thế. Sẽ thành công hay thất bại,
tôi không biết được ! Dù sao, tôi cũng sẽ làm hết mình.
Giờ đây, tôi sẽ tụng một vài câu kệ điềm lành, sau đó
chúng ta sẽ trầm tư.”
Sự
từ tốn, cũng như nụ cười, không chút gượng gạo. Về
phần cử tọa, những tiếng cười khi thì diễn tả sự ngạc
nhiên mà một nhà sư Tây Tạng đơn sơ đến thế đã đem
lại cho họ, khi thì diễn tả ước muốn khích lệ của bạn
bè. Đó là bước đầu của một mối quan hệ chỉ trong vài
ngày đã được nâng lên đỉnh cao thông hiệp về tình cảm
và tư tưởng, trong sự tôn trọng và yêu thương.
Người
ta tắt hết đèn điện và trong ánh sáng lờ mờ của bên
ngoài xuyên qua cửa sổ, cử tọa tĩnh tâm trầm mặc trong
khi Đức ngài nhắm mắt lại và ngân nga một bài kệ cổ
xưa của xứ Tây Tạng :
Chất
chứa những điều tốt đẹp như một quả núi bằng vàng.
Các
vị cứu độ của ba cõi đã giải thoát khỏi ba uế trược.
Chính
là các vị Phật, mắt chư vị giống như những hoa sen đang
nở ;
Chư
vị là sự ban phúc lành đầu tiên cho thế gian.
Lời
giáo huấn mà chư vị ban phát thì cao cả và không hề
lay
chuyển.
Vang
lừng trong tam giới, được cả chư thiên và loài người
tôn
vinh.
Lời
thánh giáo ấy ban phát hòa bình cho tất cả chúng sinh,
Đó
là sự ban phúc lành thứ hai cho thế gian.
Giáo
đoàn linh thánh, sở học giàu sang được tôn vinh,
Bởi
chư nhân, chư thiên và chư bán thiên.
Giáo
đoàn cao cả ấy khiêm nhượng, mặc dù ở trong sự
vinh
quang
Đó
là sự ban phúc lành thứ ba cho thế gian
Vị
đạo sư đã đến trong thế giới chúng ta,
Lời
giáo huấn chiếu sáng như tia nắng mặt trời ;
Các
đạo sư giảng dạy,
Như
những người anh trong sự hòa hợp
Cầu
mong có những sự ban phúc lành để cho giáo pháp tồn tại
lâu dài.
Bài
ca :
“Tất
cả sẽ tốt lành. Tất cả sẽ tốt lành. Và tất cả mọi
vật trong sự dị biệt của chúng sẽ tốt lành.”
Sau
ba mươi phút tĩnh tâm thiền định trong thinh lặng, cha Laurence
đã đứng lên và phát biểu :
“Để
kết thúc buổi họp đầu tiên này, chúng ta sẽ yêu cầu ngài
đốt lên một trong các ngọn nến biểu tượng cho sự thống
nhất, và kế đó các vị khách thuộc về những truyền thống
khác sẽ đốt lên các cây nến khác tiếp nối cây nến đã
đốt của ngài. Những cây nến đó sẽ cháy sáng trong suốt
cuộc hội thảo và tượng trưng cho sự thống nhất và tình
thân hữu liên kết các tôn giáo của chúng ta.”
PHẦN
THỨ HAI
NGƯƠI HÃY
YÊU KẺ THÙ NGƯƠI
Phúc
Âm Thánh Matthêô 5, 38-48
Buổi
sáng, Đức ngài đến không chậm trễ. Trước khi chú giải
một đoạn Phúc Âm theo thánh Matthêô, ngài đưa một vài nhận
xét mở đầu. Suốt thời gian hội thảo, ngài đã nhiều lần
nhấn mạnh mục đích của ngài không phải là cải giáo các
Kitô hữu tham dự hội thảo thành Phật tử, nhưng là trình
bày quan điểm của một tu sĩ Phật giáo về những đoạn
văn được đề nghị.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Vì cuộc đối thoại này được World
Community for Christian Meditation tổ chức và vì phần lớn là
các Kitô hữu hành đạo tham gia nghiêm túc trong một tiến
trình của đức tin, nên sự trình bày của tôi ưu tiên sẽ
gởi đến họ. Tôi sẽ thử giải thích thế nào là các kỹ
thuật và phương pháp của Phật giáo có thể được một
Kitô hữu hành đạo chấp nhận mà không cần phải hội nhập
vào triết lý sâu xa của Phật giáo. Những sự khác nhau sâu
sắc về triết lý siêu hình giữa hai truyền thống dĩ nhiên
sẽ xuất hiện trong quá trình thảo luận theo nhóm.
“Mối
quan tâm chính của tôi là như sau : tôi có thể giúp đỡ và
phục vụ Kitô hữu hành đạo như thế nào ? Gieo rắc sự
nghi ngờ và chủ nghĩa hoài nghi trong tâm trí người khác là
điều tôi không bao giờ muốn. Như tôi đã nói trước đây,
tôi tuyệt đối xác tín rằng sự đa dạng của các truyền
thống tôn giáo hiện nay là quý giá và thích đáng. Theo kinh
nghiệm của riêng tôi, tất cả các truyền thống tôn giáo
lớn của thế giới nói một thứ ngôn ngữ và gửi đến
một thông điệp chung mà chúng ta có thể dựa vào để xây
dựng một sự hòa thuận nhau thật sự.
“Nói
chung, tôi muốn rằng người ta không nên rời bỏ tôn giáo
đã trở nên một thành phần của văn hóa và di sản của
họ. Đương nhiên, cá nhân được toàn quyền thay đổi tôn
giáo nếu một tôn giáo khác tỏ ra hiệu quả hơn và thích
hợp hơn với nhu cầu tâm linh của người ấy. Nhưng một
cách tổng quát, tốt hơn vẫn là thực hành kinh nghiệm về
giá trị của truyền thống tôn giáo của mình. Đây là một
ví dụ cho thấy sự khó khăn mà sự thay đổi tôn giáo có
thể gây ra : trong một gia đình Tây Tạng, vào những năm sáu
mươi, người cha của gia đình qua đời, sau đó ít lâu, người
mẹ đến tìm tôi. Bà đã tuyên bố với tôi rằng kiếp này
bà theo đạo Chúa nhưng qua kiếp sau bà không có chọn lựa
nào khác hơn là theo đạo Phật. Sao mà phức tạp như vậy
! Nếu bạn là Kitô hữu, tốt hơn hết bạn nên triển khai
tâm linh trong khuôn khổ của tôn giáo bạn và là một Kitô
hữu tốt lành, chân chính. Nếu bạn là Phật tử, bạn hãy
là một Phật tử đích thực. Đừng nên nửa nạc nửa mỡù
! Như thế chỉ tạo nên sự lộn xộn trong tinh thần của
bạn.
“Trước
khi chú giải bản văn, tôi muốn nói đôi điều về sự tham
thiền. Ngôn ngữ Tây Tạng chỉ sự tham thiền là gom, nó gợi
lên sự phát triển thân quen thường trực với một sự thực
hành hay với một đối tượng đặc biệt. Tiến trình “thân
mật hóa” là chủ yếu bởi vì sự tinh luyện hay khai mở
tinh thần tùy thuộc vào việc gia tăng sự thân quen với đối
tượng được lựa chọn. Bởi thế, chỉ có sự áp dụng
kiên trì các kỹ thuật tham thiền và sự huấn luyện kiên
trì tinh thần mới có thể đưa đến sự biến đổi nội
tâm, thiết lập kỷ luật cho tinh thần. Trong truyền thống
Tây Tạng, một cách sơ lược, có hai loại tham thiền lớn.
Một loại cần mức độ phân tích và lý luận nào đó ; người
ta còn gọi đó là trầm tư chiêm niệm hay phân tích. Loại
thứ hai là một trạng thái hấp thụ và tập trung ; người
ta gọi đó là trầm tư trên một điểm hay hành động tịnh
tâm.
“Chúng
ta hãy lấy một ví dụ như sự tham thiền về tình yêu và
lòng thương xót trong bối cảnh Kitô giáo. Khi tham thiền theo
cách phân tích, chúng ta đi theo những hướng tư duy đặc biệt
như : để thật sự yêu Thiên Chúa, cần phải thể hiện tình
yêu ấy bằng hành động yêu thương chân thật anh em nhân
loại của mình. Người ta cũng có thể suy nghĩ về cuộc đời
và gương sáng của Đức Giêsu Kitô trong bản thân ngài, ngài
đã sống và hoạt động như thế nào để đem lại lợi ích
cho chúng sinh, và các hành động của ngài đã minh họa một
phong cách sống tràn đầy lòng thương xót. Loại tiến trình
suy niệm ấy tạo thành khía cạnh phân tích của thiền định
về lòng thương xót. Người ta có thể tham thiền theo các
tương tự về lòng nhẫn nại và lòng khoan dung.
“Nhờ
có những suy tư đó, các bạn ngày càng xác tín vào sự quan
trọng và giá trị của lòng thương xót và lòng khoan dung.
Một khi đã đạt tới niềm xác tín tuyệt đối về giá trị
và sự thiết yếu của lòng thương xót và khoan dung, các bạn
sẽ có cảm giác được xúc chạm và biến đổi từ bên trong.
Ở giai đoạn này, các bạn cần phải tập trung tinh thần
trên xác tín duy nhất đó, không vận dụng đến sự phân
tích khác. Một khía cạnh chính xác hơn, tinh thần phải ở
trong thế quân bình hoàn hảo, tập trung trên một điểm –
đó là khía cạnh đắm mình hay duy trì sự thiền định trên
lòng thương xót. Như thế cả hai loại thiền định đều
được áp dụng trong cùng một buổi tham thiền.
“Tại
sao chúng ta có thể không chỉ triển khai mà còn tinh luyện
lòng thương xót bằng việc áp dụng những kỹ thuật tham
thiền vừa kể ? Bởi vì lòng thương xót là một loại cảm
xúc có tích chứa một tiềm lực để khai mở. Về đại thể
có hai loại cảm xúc. Một loại thì nghiêng về bản năng
và không có nền tảng lý trí. Loại kia như lòng thương xót
và khoan dung thì ít bản năng hơn và dựa vững chắc vào lý
trí và kinh nghiệm. Khi người ta thấy rõ ràng những lý lẽ
hợp lý khác nhau của việc triển khai các đức tính ấy và
khi người ta xác tín vững vàng những lợi ích mà các đức
tính ấy mang lại, lúc bấy giờ các cảm xúc ấy được thanh
luyện. Đồng thời xảy đến sự nối kết giữa trí và tâm.
Lòng thương xót biểu lộ cảm xúc, hay cái tâm, và việc áp
dụng sự trầm tư phân tích thuộc về cái trí. Khi người
ta đã đi đến giai đoạn thiền định lúc lòng thương xót
được tinh luyện, người ta chứng kiến sự hợp nhất đặc
biệt của trí và tâm.
“Nếu
giờ đây người ta khảo sát bản chất của các trạng thái
thiền định ấy, người ta nhận thấy chúng hình thành bởi
các yếu tố khác nhau. Vậy thì, chúng ta hãy lấy ví dụ của
tiến trình phân tích để suy nghĩ rằng chúng ta đều là những
con người, những tạo vật của cùng một Đấng Tạo Hóa
và vì thế thật sự là anh em và chị em của nhau. Trong trường
hợp này, các bạn tập trung tinh thần của các bạn trên một
đối tượng riêng biệt. Nói cách khác, chủ thể phân tích
tập trung trên ý tưởng hay khái niệm được phân tích. Tuy
nhiên, khi đã đạt đến tình trạng tập trung trên một điểm
duy nhất – khi các bạn cảm thấy sự biến đổi nội tâm
ấy, lòng thương xót ấy bên trong các bạn – thì sẽ không
còn một tâm thức trầm tư và một đối tượng được trầm
tư. Thay vào đó, tâm thức trầm tư của các bạn giàn trải
ra dưới hình thức của lòng thương xót.
“Tôi
xin kết thúc những nhận xét mở đầu về sự thiền định.
Giờ đây tôi sẽ đọc bài Phúc Âm.
“Các
ngươi đã nghe bảo rằng : Mắt đền mắt, răng đền răng.
Còn ta, ta bảo các ngươi đừng cự lại người ác. Nếu ai
vả má phải ngươi, thì hãy giơ má kia cho nó nữa. Nếu ai
muốn kiện ngươi để đoạt áo lót, thì hãy bỏ cả áo choàng
cho nó. Nếu ai bắt ngươi đi làm phu một dặm thì hãy đi
với nó hai dặm. Ai xin, ngươi hãy cho ; người muốn vay, ngươi
chớ khước từ.” [Matthêô 5, 38-42]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Những cách thực hành lòng khoan dung và
nhẫn nại mà đoạn Phúc Âm này khuyên làm vô cùng giống
với những cách thực hành lòng khoan dung và nhẫn nại mà
Phật giáo nói chung khuyên làm. Đặc biệt chính đại thừa
Phật giáo trong bối cảnh lý tưởng bồ tát đã khuyến khích
dùng sự bất bạo động và lòng từ bi đáp trả lại người
làm điều ác đối với chúng ta. Trong một chừng mực nào
đó, đoạn văn này có thể được đưa vào trong một sách
luận của Phật giáo mà chắc không ai nhận ra nguồn gốc
Kitô giáo của nó.
“Các
ngươi đã nghe bảo : Hãy yêu mến người thân cận, và hãy
ghét kẻ thù địch. Còn ta, ta bảo các ngươi : Hãy yêu mến
kẻ thù địch [hãy làm điều lành cho những ai ghét các ngươi],
hãy cầu nguyện cho những người [ngược đãi và] bách hại
các ngươi. Như thế, các ngươi sẽ trở nên con cái của Cha
các ngươi ở trên trời, Đấng làm cho mặt trời mọc lên
trên kẻ dữ cũng như trên người lành và làm mưa trên người
công chính và trên kẻ gian tà. Nếu các ngươi chỉ yêu mến
những kẻ yêu mến các ngươi thì các ngươi có công đức
gì ? Há những người thu thuế cũng không làm như thế sao
? Nếu các ngươi chỉ chào hỏi anh em các ngươi, thì các ngươi
có làm gì khác thường đâu ? Há người ngoại (đạo) cũng
không làm thế sao ? Vậy các ngươi hãy nên trọn lành, như
Cha các ngươi trên trời là Đấng trọn lành.” [Matthêô 5,
43-48]
“Điều
này nhắc tôi nhớ đến một đoạn văn trong một sách luận
của Phật giáo đại thừa là Bản trích yếu thực hành trong
đó Shantideva hỏi “nếu các ngươi không thực hành lòng từ
bi với kẻ thù các ngươi thì các ngươi thực hành với ai
?” Người ta còn hiểu ngầm rằng ngay cả súc vật cũng biểu
lộ sự yêu thương, từ bi và một tình cảm cộng thông đối
với những người và vật mà chúng yêu thích. Nếu chúng ta
tự hào mình là những người hành đạo tâm linh, tình nguyện
bước vào con đường tâm linh, chúng ta phải chứng tỏ mình
có thể làm tốt hơn các súc vật.
“Đoạn
trích dẫn Phúc Âm này cũng nhắc tôi nhớ đến những suy
nghĩ của một sách luận đại thừa khác tên là Bồ Tát đạo,
trong đó Shantideva khẳng định có được một thái độ đúng
đắn với kẻ thù là một điều quan trọng. Nếu các bạn
biết vun trồng thái độ ngay lành, kẻ thù của các bạn sẽ
trở thành những người thầy tâm linh tốt nhất bởi vì sự
hiện diện của họ cho các bạn cơ hội thăng tiến lòng khoan
dung, sự nhẫn nại và hiểu biết. Khi đạt được sự nhẫn
nại và khoan dung nhiều hơn, các bạn sẽ dễ dàng phát triển
năng lực của lòng từ bi, và nhờ đó phát triển sự đồng
cảm của mình. Như thế, ngay cả việc thực hành con đường
tâm linh, sự hiện diện của kẻ thù là chủ yếu. Hình ảnh
loại suy mà Phúc Âm sử dụng với “mặt trời chiếu sáng
không phân biệt” rất quan trọng. Đấy là một ẩn dụ tráng
lệ về lòng từ bi. Nó làm cho ta hiểu được lòng từ bi
thì vô tư và toàn diện.
“Khi
đọc các đoạn văn này, tôi thấy Phúc Âm đặt nặng sự
thực hành lòng khoan dung và đề cao tình cảm vô tư, không
thiên vị đối với mọi tạo vật. Theo ý kiến của tôi,
để triển khai năng lực khoan dung đối với mọi người,
và đặc biệt đối với một kẻ thù, điều kiện quan trọng
tiên quyết là tiếp nhận mọi người với tính bình đẳng.
Nếu người ta nói với các bạn rằng không nên thù nghịch
kẻ thù mà phải yêu mến hắn, chỉ khẳng định như thế
sẽ không khuyến khích các bạn thay đổi. Đối với mỗi
người chúng ta, cảm thấy sự thù nghịch đối với những
người làm khổ bạn và có cảm tình đối với những người
yêu thương bạn là hoàn toàn tự nhiên. Đây là một tình
cảm tự nhiên của con người. Vậy chúng ta phải sử dụng
các kỹ thuật hiệu quả để giúp chúng ta vượt qua từ sự
thiên vị nội tại trong bản tính đến một tình trạng bình
đẳng cao nhất.
“Nhiều
kỹ thuật đặc biệt cho phép triển khai tánh bình đẳng đối
với mọi chúng sinh. Trong khuôn khổ Phật giáo, người ta có
thể dùng đến khái niệm tái sinh để giúp chúng ta thực
hiện tính bình đẳng. Tuy nhiên, vì chúng ta đang bàn luận
trong khuôn khổ Kitô giáo, đã hẳn có thể nêu lên ý tưởng
Sáng tạo theo đó tất cả mọi tạo vật đều bình đẳng
vì đều là các tạo vật của cùng một Thiên Chúa. Khởi
từ niềm tin ấy, người ta có thể thăng tiến trong tính bình
đẳng. Ngay trước buổi họp này, tôi đã có một cuộc trao
đổi ngắn với Cha Laurence. Cha đã giải thích với tôi rằng
trong thần học Kitô giáo, người ta cho rằng mọi con người
được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa – Tất cả
chúng ta chia sẻ cùng một bản tính Thiên Chúa. Điều này
theo tôi dường như hoàn toàn tương tự với ý niệm Phật
tánh trong Phật giáo. Niềm tin cho rằng mọi người đều tham
dự vào cùng một bản tính Thiên Chúa, đem lại cho chúng ta
một nền tảng vững chắc, một lý lẽ mạnh mẽ để tin
rằng mỗi người chúng ta có thể thủ đắc một ý nghĩa
đúng đắn về tính bình đẳng đối với tất cả chúng sinh.
“Tuy
nhiên, chúng ta không nên quan niệm sự bình đẳng của tâm
hồn như một mục đích tự thân. Cũng không nên nghĩ rằng
mình phải theo đuổi một tình trạng hoàn toàn vô cảm trong
đó chúng ta không có chút tình cảm hoặc cảm xúc thay đổi
đối với kẻ thù hay bè bạn. Đấy không phải là mục đích
mà chúng ta tìm kiếm. Điều chúng ta tìm kiếm trước tiên
là mong muốn xây dựng nền tảng, sử dụng một cánh đồng
trống để sau đó chúng ta sẽ vun trồng những tư tưởng
khác. Tính bình đẳng là mảnh đất bằng phẳng mà chúng
ta chuẩn bị trước tiên. Rồi trên nền tảng ấy, chúng ta
phải suy nghĩ về giá trị của lòng khoan dung, nhẫn nại,
tình thương yêu, lòng từ bi đối với tất cả mọi người.
Chúng ta cũng phải xem xét sự bất lợi, tiêu cực của tư
tưởng vị kỷ, của những cảm xúc rối loạn giao động
đối với bạn bè và kẻ thù, và các tiêu cực do sự thiên
vị đối với những người khác.
“Điểm
chủ yếu là ở chỗ cách thức sử dụng tính bình đẳng
nền tảng ấy. Điều quan trọng là việc tập trung trên những
tiêu cực của giận dữ, thù hận tạo thành những trở ngại
chính cho sự triển nở năng lực của lòng từ bi và khoan
dung. Chúng ta cũng phải suy nghĩ đến những giá trị và những
đức hạnh khi đào sâu lòng khoan dung và nhẫn nại. Điều
này có thể thực hành trong khuôn khổ Kitô giáo mà không cần
sự hỗ trợ của niềm tin tái sinh : Thiên Chúa đã dựng lên
các bạn là những cá nhân và cho các bạn sự tự do hành
động hài hòa với các ước nguyện của mình – hành động
một cách đạo đức, phù hợp với luân lý và sống một
cuộc sống xứng đáng là một cá nhân thấm nhuần đạo đức
và có trách nhiệm. Khi cảm nhận và thực hành lòng khoan dung
và nhẫn nại đối với đồng loại, các bạn hoàn thành ước
nguyện này : làm hài lòng Đấng Tạo Hóa của các bạn. Mặt
khác : đó là tặng vật đẹp nhất, của lễ tốt nhất mà
các bạn có thể dâng lên Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của
các bạn.
“Trong
Phật giáo, người ta thấy có ý tưởng gọi là của lễ thực
hành (drupai chošpa) theo đó mọi của lễ cúng dường mà người
ta có thể dâng lên một đấng mà người ta tôn kính – của
lễ vật chất, bài ca chúc tụng và tặng vật khác – của
lễ đẹp nhất chính là sống một cuộc sống phù hợp với
những nguyên tắc của đấng đó. Trong khuôn khổ của Kitô
giáo, khi sống một cuộc đời thấm nhuần đạo đức, đặt
nền tảng trên lòng khoan dung và nhẫn nại, trong ý nghĩa đó,
các bạn đã dâng lên Đấng Tạo Hóa của các bạn một của
lễ tuyệt vời. Chắc chắn, điều đó sẽ hiệu quả hơn
nhiều so với việc chỉ đọc kinh cầu nguyện. Nếu các bạn
cầu nguyện mà không sống phù hợp với lời cầu nguyện
thì chẳng có ích lợi gì lớn lao.
“Một
trong những thiền sư lớn của Phật giáo Tây Tạng là Milarepa
khẳng định trong một bài ca kinh nghiệm tâm linh : “Về của
lễ vật chất, tôi chịu trắng tay ; tôi không có gì để
cúng dường. Điều tôi có thể dâng lên dồi dào, đó là
của lễ của sự thực hành tâm linh.” Về đại thể, chúng
ta thấy rõ rằng một người có được nguồn dự trữ to
lớn của lòng nhẫn nại và khoan dung sẽ hưởng được một
mức nào đó của sự bình an và thanh tịnh. Một người như
thế không chỉ hạnh phúc và có cảm xúc ổn định mà còn
có sức khỏe tốt, ít bệnh tật. Con người ấy có được
một ý chí mạnh mẽ, ăn ngon, ngủ yên với một lương tâm
trong sáng. Đó là những lợi ích của lòng khoan dung và nhẫn
nại mà chúng ta có thể nhận thấy trong cuộc sống mỗi ngày.
“Một
trong những xác tín nền tảng của tôi là bản tính nhân loại
căn bản hướng về lòng từ bi và thương yêu. Bản tính nhân
loại căn bản thì hiền lành và không gây hấn, bạo động.
Điều này hoàn toàn phù hợp với điều mà Cha Laurence đã
nói nhân loại chia sẻ cùng một bản tính Thiên Chúa. Tôi
sẽ nói thêm rằng khi xem xét tương quan giữa tinh thần, ý
thức hay thân xác, người ta nhận thấy rằng những thái độ,
cảm xúc và tinh thần lành mạnh liên hệ chặt chẽ với sức
khỏe thể xác và sinh thú. Chúng gia tăng sự thoải mái của
thể xác, trong khi những thái độ cảm xúc tiêu cực hay không
lành mạnh như sự giận dữ, lòng thù ghét, những tình trạng
tinh thần rối loạn làm mòn mõi sức khỏe thân xác. Mối
tương quan ấy cho thấy rõ bản chất nhân loại căn bản rất
gần với những thái độ và cảm xúc lành mạnh.
“Sau
khi đã suy nghĩ về những đức tính như lòng khoan dung, nhẫn
nại và tin chắc vào sự cần thiết phải phát triển và gia
tăng các đức tính ấy nơi bản thân mình, kế đó là phải
xem xét các loại và mức độ của lòng nhẫn nại và khoan
dung. Vì thế, các sách luận Phật giáo mô tả ba loại khoan
dung và nhẫn nại. Loại thứ nhất là trạng thái lãnh đạm
không gì lay chuyển được – người ta có khả năng chịu
đựng mọi đau khổ mà không bị nhấn chìm. Đó là trình
độ thứ nhất. Trong trạng thái thứ hai, hành giả không những
có thể chịu đựng nhiều đau khổ, nhưng nếu cần còn sẵn
sàng kể cả ước mong đảm nhận những thử thách, nhọc
nhằn và đau khổ của con đường tâm linh. Điều đó có nghĩa
là sẵn sàng chấp nhận các thử thách để đạt đến một
mục đích cao hơn. Loại thứ ba là lòng nhẫn nại và khoan
dung sinh ra do một xác tín vững vàng về bản chất của thực
tại. Trong thực hành Kitô giáo, loại nhẫn nại này có nền
tảng là đức tin vững vàng trong mầu nhiệm Sáng tạo. Mặc
dù sự phân biệt giữa ba trình độ của lòng khoan dung là
việc của các tác giả Phật giáo, nhưng cũng có thể chuyển
sang bối cảnh của Kitô giáo. Điều này đặc biệt đúng
với loại nhẫn nại – khoan dung thứ hai – tự do đảm nhận
những thử thách của con đường tâm linh – dường như đây
cũng là vấn đề trong đoạn văn sau đây : các mối Phúc thật
của Phúc Âm Thánh Matthêô.”
PHẦN
THỨ BA
BÀI GIẢNG
TRÊN NÚI :CÁC MỐI PHÚC THẬT
Phúc
Âm của Thánh Matthêô 5, 1-10
“Nhìn
thấy dân chúng, Đức Giêsu leo lên núi. Ngài ngồi xuống và
các môn đồ đến bên Ngài. Bấy giờ Ngài mở miệng dạy
họ rằng :
“Phúc
cho những ai có lòng nghèo khó : nước trời là của họ !
“Phúc
cho những ai hiền lành : họ sẽ được đất làm cơ nghiệp
!
“Phúc
cho những ai khóc lóc : họ sẽ được an ủi !
“Phúc
cho những ai đói khát sự công chính : họ sẽ được no đầy
!
“Phúc
cho những ai có lòng thương xót : họ sẽ được thương xót
!
“Phúc
cho những ai tinh sạch trong lòng : họ sẽ thấy Thiên Chúa
!
“Phúc
cho những ai kiến tạo hòa bình : họ sẽ được gọi là con
Thiên Chúa !
“Phúc
cho những ai bị bách hại vì sự công chính : nước Trời
là của họ !” [Matthêô 5, 1-10]
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : “Đọc những dòng này về các mối Phúc
thật, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là đoạn văn muốn
chỉ về việc những ai muốn dấn thân vào con đường đạo
và chấp nhận những thử thách đau khổ trên con đường đạo
sẽ nhận được phần thưởng của sự dấn thân đó. Về
vấn đề các bản văn giảng dạy lòng khoan dung đòi hỏi
các bạn tự do chấp nhận thử thách, sẽ sai lầm nếu coi
đó là lời khẳng định đau khổ thì tốt, tất cả chúng
ta phải tìm kiếm khổ đau. Khỏi cần phải nói tôi không
chủ trương một quan điểm như thế. Tôi nghĩ rằng mục đích
của cuộc đời chúng ta là tìm hạnh phúc, tìm cách để được
thỏa mãn và sung túc. Tuy nhiên, vì những thử thách và nhọc
nhằn là một phần tự nhiên của cuộc sống nên điều chủ
yếu là phải có một quan điểm cho phép chúng ta đề cập
một cách hiện thực để có thể rút ra một vài lợi ích.
“Khi
xem xét bản chất của sự đau khổ, chúng ta thừa nhận rằng
có một số hình thức đau khổ mà người ta có thể tìm ra
các giải pháp và vì vậy có thể chế ngự được. Một khi
người ta có ý thức về đau khổ người ta phải đi tìm giải
pháp và phương tiện để chiến thắng đau khổ. Nhưng cũng
có những loại đau khổ không thể tránh khỏi và chế ngự
được, cũng là những sự kiện tự nhiên của cuộc sống.
Trong những trường hợp như vậy, điều quan trọng là triển
khai một trạng thái tinh thần cho phép tiếp cận sự đau khổ
một cách hiện thực. Làm được như vậy, chúng ta có lẽ
sẽ đi tới việc chấp nhận những khó khăn ấy một khi chúng
xuất hiện. Một thái độ như thế sẽ bảo vệ các bạn
không chỉ đối với thực tế vật chất của đau khổ mà
còn đối với gánh nặng tâm lý vô ích đi kèm theo vì phải
đấu tranh chống lại đau khổ.
“Một
trong những cách tiếp cận hiệu quả đối với đau khổ được
trình bày trong Bồ tát đạo. Nếu vấn đề đã tìm được
cách tháo gỡ, có lo lắng cũng vô ích. Trái lại, nếu không
có cách tháo gỡ, lo lắng thì có ích gì !
“Những
lời trong các mối Phúc thật, theo tôi cũng đề cập đến
nguyên lý nhân quả. Trong ngôn ngữ Sanskrit, thuật ngữ karma
(nghiệp) dù không thể sử dụng trong khuôn khổ Kinh Thánh,
thì nguyên lý nhân quả tổng quát, nằm bên dưới học thuyết
nghiệp báo theo tôi đã được nêu ra ở đây. Lời Phúc thật
muốn nói rằng tùy theo cách hành động của bạn, bạn sẽ
nhận một hậu quả tương xứng, tùy theo cách bạn không hành
động, bạn sẽ không nhận một hậu quả tương xứng. Nguyên
tắc nhân quả rõ ràng được bao hàm trong lời giảng dạy
đó.
“Mặc
dù tất cả các truyền thống tâm linh lớn của nhân loại
không đề cập đến vấn đề nhân quả dưới góc độ sinh
tử luân hồi (như Phật giáo), dù sao cũng có một sứ điệp
trọng tâm đặt nền tảng trên nguyên lý nhân quả là điểm
chung của mọi truyền thống. Hãy biết rằng nếu các bạn
làm điều tốt, bạn sẽ nhận được các kết quả tốt,
còn nếu bạn làm điều xấu, bạn sẽ nhận được các kết
quả xấu. Sứ điệp đạo đức nền tảng này dường như
nội tại trong tất cả các truyền thống tâm linh lớn.
“Một
điểm quan trọng cũng phải ghi nhận – dù chỉ phụ thuộc
– là sự giống nhau lạ lùng của văn phong giữa Kinh Chúa
và Kinh Phật. Trong lời mở đầu của các mối Phúc thật,
Phúc Âm ghi lại rằng khi nhìn thấy đám đông, Đức Giêsu
leo lên núi, ngồi xuống… Người ta cũng thấy một sự khởi
đầu tương tự trong nhiều sutras (Kinh Phật). Các Kinh Phật
đều ghi lại ở một thời điểm đã định, Đức Phật đến
thăm viếng một nơi nào đó, có một số đông môn đồ vây
quanh, Ngài ngồi xuống rồi bắt đầu giảng dạy. Như thế,
có một sự giống nhau lý thú trong việc giới thiệu các bản
văn đó.
“Một
trong những ý niệm khó khăn nhất đặt thành vấn đề ở
đây, nhất là đối với Phật tử, là vấn đề Thiên Chúa,
một hữu thể thần thiêng. Dĩ nhiên người ta có thể đề
cập đến Thiên Chúa như nói về một hữu thể “bất khả
tư nghị”. Nhưng phải thừa nhận rằng trên bình diện lý
thuyết, ý niệm về một Thiên Chúa Sáng Tạo (Thượng Đế
– Tạo Hóa) là một điểm dị biệt giữa Phật tử và Kitô
hữu. Tuy nhiên, tôi tin rằng những lý lẽ và quan niệm dẫn
đến một niềm tin như thế thì phổ biến ở cả Phật tử
lẫn Kitô hữu.
“Nếu
người ta xét kỹ bản chất của mọi hiện tượng tự nhiên,
lương tri nói với chúng ta mọi biến cố phải có một nguyên
nhân. Phải có những nhân duyên sinh ra một sự cố. Điều
này không chỉ đúng cho hiện hữu của mỗi cá nhân chúng
ta, mà cũng đúng cho toàn thể vũ trụ. Đối với lẽ thường,
chấp nhận một sự vật không có nguyên nhân – dù cho đó
là vũ trụ hay hiện hữu cá nhân – thì không thể chấp nhận
được – Từ đó vấn đề tiếp theo là : nếu hiện hữu
chúng ta phải có một nguyên nhân và vũ trụ ở bình diện
của nó phải có một nguyên nhân, nguyên nhân này từ đâu
mà có ? Bởi thế cho nên nguyên nhân này chính nó phải có
một nguyên nhân, vậy thì chúng ta thụt lùi mãi đến vô tận.
“Để
vượt qua khó khăn phải thụt lùi vô tận, thật có ích khi
yêu cầu một sự khởi thủy, một Đấng Tạo Hóa và chấp
nhận một số chân lý liên quan đến bản chất của Đấng
Tạo Hóa : ngài độc lập, tự hữu, toàn năng và không cần
một nguyên nhân nào khác. Chấp nhận một khởi thủy như
thế giúp chúng ta giải quyết vấn đề phải thụt lùi vô
tận.
“Nếu
người ta yêu cầu có một Đấng Tạo Hóa, và nếu người
ta xét kỹ quá trình tiến hóa kể từ vụ Nổ Lớn (Big-Bang)
và mọi mầu nhiệm của vũ trụ, người ta có thể hoàn toàn
tin có một Đấng Tạo Hóa toàn năng. Ngoài ra, nếu người
ta xét kỹ bản chất của vũ trụ, người ta nhận thấy vũ
trụ vận hành hoàn toàn không có sự lộn xộn hoặc ngẫu
nhiên, dường như có một trật tự nội tại, một nguyên
lý nhân quả đang làm việc. Bởi thế còn phải tin Đấng
Tạo Hóa toàn tri như thể mọi tiến trình, mọi thể thức
hoạt động đã được kế hoạch hóa. Nhìn dưới góc độ
ấy, mọi tạo vật đều là biểu hiện một cách nào đó
sức mạnh của Thiên Chúa. Từ quan điểm đó, người ta còn
có thể nói Đấng Tạo Hóa là cùng đích, còn tạo vật thì
tương đối, phù du. Theo nghĩa này, người ta có thể nói rằng
Đấng Tạo Hóa là chân lý tuyệt đối và tối hậu. Nhưng
tôi không biết các nhà thần học Kitô giáo nghĩ gì về điều
đó !
“Cá
nhân tôi, khi tôi xem xét ý tưởng về sự Sáng tạo và niềm
tin vào một Thiên Chúa Sáng tạo, tôi tự nhủ hậu quả chính
của niềm tin ấy là tác động một động lực, một tình
cảm khẩn cấp dấn thân vào việc hành đạo để trở thành
một người tốt, thấm nhuần đạo đức. Khi các bạn được
trang bị ý niệm và niềm tin đó điều ấy làm cho cuộc đời
các bạn có một mục tiêu và thật là hữu ích để triển
khai những nguyên tắc đạo đức.
“Tôi
hiểu thần học Kitô giáo như thế đấy !”
Lời
chú giải về bài đọc Phúc Âm
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài, tôi xin chân thành cảm ơn Ngài về
sự giảng dạy sáng nay. Tôi nói nhân danh tôi và cũng để
thay mặt mọi người có mặt nơi đây. Là một Kitô hữu,
tôi rất cảm động được nghe đọc những lời của Đức
Giêsu với sự rõ ràng và hiểu biết ý nghĩa sâu xa đến
thế. Bây giờ chúng ta bước vào giờ dành cho buổi thảo
luận nhóm đầu tiên, tôi muốn giới thiệu với các bạn
những vị tham gia góp ý. Robert Kiely là tu sĩ dòng Biển Đức
của cộng đoàn chúng tôi và là giáo sư văn học của Đại
Học Harvard ; Isabelle Glover cũng là nữ tu sĩ dòng Biển Đức
của cộng đoàn chúng tôi, giảng dạy tiếng Sanskrit. Ý hướng
của cuộc thảo luận này cho phép lắng nghe kỹ hơn Lời đã
đánh động chúng ta sáng nay. Chúng ta không tìm tòi những
điểm dị biệt nhưng suy nghĩ một cách đơn sơ trong tinh thần
thật quảng đại và cởi mở cả những điểm tương đồng
và dị biệt thú vị giữa hai tôn giáo chúng ta. Tôi xin đề
nghị Bob Kiely bắt đầu bằng một vài lời mở đầu kế
đó chúng ta sẽ tiếp nối cuộc thảo luận.
Robert
Kiely : Thưa Đức ngài, tiếp theo cha Laurence, tôi cũng muốn
nói lên lời cám ơn. Được biết rõ cuộc đời ngài và lịch
sử dân tộc ngài trong suốt thế kỷ này, tôi đặc biệt
cảm động khi ngài đã đọc các mối phúc thật và nhất
là : “Phúc cho những ai khóc lóc, vì sẽ được an ủi”
và “Phúc cho những người bị bách hại vì sự công chính,
vì họ sẽ thấy được nước Trời”. Theo niềm tin Kitô
giáo nếu lời Chúa được một người có thiện tâm đọc
lên, lời Chúa sẽ đem lại sự phục sinh cho mọi người.
Đối với tôi cũng như phần đông chúng tôi ở đây, tôi
nghĩ những lời mà ngài đọc đã có hiệu quả ấy.
Một
vấn đề mà tôi muốn đề cập với các bạn có liên quan
đến ý tưởng Do Thái giáo và Kitô giáo về tuyệt đối thể
(Absolu) đang bước vào trong lịch sử, trong thời gian. Các
bản văn mà ngài đã đọc và mọi giáo huấn của Đức Kitô
một cách tổng quát, các Kitô hữu đặt chúng trong một bối
cảnh bao gồm ít nhất ba tiến trình lịch sử. Thứ nhất
là lịch sử cuộc đời Chúa Giêsu. Không một Kitô hữu nào
tiếp nhận giáo huấn Đức Giêsu mà không nhớ rằng Đức
Giêsu sinh ra khó nghèo, là một người Do Thái sống trong một
quốc gia bị chiếm đóng cuộc sống công khai, thời kỳ Người
giảng dạy công chúng rất ngắn ngủi, Người bị bách hại
bị đóng đinh như một tội phạm bởi luật đời và sau đó
Người đã sống lại từ cõi chết. Đối với các Kitô hữu
đó là bối cảnh đầu tiên.
Trong
bối cảnh thứ hai, chúng tôi không tách rời Phúc Âm với
lịch sử của dân tộc Do Thái mà sự trần thuật lại là
một phần của Kinh Thánh. Đó là một lịch sử được đánh
dấu bởi sự nô lệ của dân Do Thái ở Ai Cập, sự giải
phóng do Moise lãnh đạo, sự công bố Lề Luật mà chính ông
đã nhận từ Thiên Chúa, và sau cùng là sự phân tán dân Do
Thái trên toàn thế giới. Lịch sử thứ ba luôn luôn là lịch
sử của mỗi cuộc đời chúng ta. Như thế, lời của Đức
Giêsu mà chúng ta suy tư đến với chúng ta xuyên qua các trình
thuật diễn tiến trong thời gian và trong lịch sử – cá nhân,
quốc gia và thần học trong chính cuộc đời Đức Giêsu. Tôi
tự hỏi, là một tu sĩ Phật giáo, ngài suy nghĩ gì về khía
cạnh thời tính của Kitô giáo, và nếu có thể xin ngài so
sánh với Phật giáo.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Sự so sánh giữa hai truyền thống tâm linh
cổ xưa như Phật giáo và Kitô giáo làm hiện rõ sự giống
nhau đáng ngạc nhiên giữa các trần thuật của những tôn
sư sáng lập đạo – Đức Giêsu Kitô trong trường hợp Kitô
giáo và Đức Phật đối với Phật giáo. Tôi nhận thấy một
điểm chung rất quan trọng : chính trong đời sống của các
giáo chủ sáng lập, yếu tính của lời huấn giáo được
biểu hiện. Như thế, trong cuộc đời của Đức Phật, tứ
diệu đế trình bày yếu tính của lời giảng dạy : Chân
lý về sự khổ, chân lý về nguồn gốc của khổ, chân lý
về sự chấm dứt sự khổ và chân lý về con đường đưa
đến sự chấm dứt ấy. Tứ diệu đế hay bốn chân lý cao
cả đó rõ ràng và minh thị đã được biểu lộ trong cuộc
đời của giáo chủ sáng lập là chính Đức Phật. Tôi nghĩ
Đức Kitô cũng thế. Khi quan sát cuộc đời của Đức Giêsu,
người ta nhận thấy nó minh họa những thực hành và lời
giáo huấn chủ yếu của Kitô giáo. Tôi nhận thấy một sự
tương tự khác trong cuộc đời hai vị : Bằng những thử
thách, sự chuyên cần, dấn thân và gắn bó chặt chẽ với
những nguyên tắc của mình mà người ta mới có thể thăng
tiến tâm linh và đạt đến sự giải thoát. Điều này đối
với tôi dường như tạo nên một sứ điệp chung và chủ
yếu.
Isabelle
Glover : Thưa Đức ngài, ngài đã nói đến sự “tái sinh”.
Có nhiều dấu hiệu làm người ta phải nghĩ rằng trong những
thời kỳ đầu tiên của Giáo Hội Kitô giáo sự đầu thai
lại là một niềm tin được chấp nhận, nhưng ngày nay không
còn sử dụng trong tư tưởng Kitô giáo. Ngài có thể nói thêm
vấn đề này cho chúng tôi không ? Đâu là sự quan trọng của
lời giáo huấn về sự tái sinh và nghiệp báo ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Thật vậy, người ta đã nói với tôi rằng
trong những lời giáo huấn đầu tiên của Giáo Hội, người
ta có thể giải thích một số đoạn của Kinh Thánh theo cách
chứng tỏ rằng niềm tin vào sự tái sinh không nhất thiết
trái với đức tin Kitô giáo. Từ sự kiện ấy, tôi cảm thấy
thoải mái khi tranh luận vấn đề này với các linh mục và
các nhà lãnh đạo Kitô giáo – dĩ nhiên tôi đã không có
cơ hội để hỏi chính Đức Giáo Hoàng. Tuy vậy, tôi đã
hỏi nhiều Kitô hữu hành đạo và các linh mục ở mọi chân
trời. Tất cả đều đồng thanh cho tôi rằng học thuyết
Kitô giáo không chấp nhận niềm tin ấy, cũng không đưa ra
lý do đặc biệt tại sao quan niệm đầu thai lại không tìm
được chỗ đứng trong bối cảnh cởi mở của đức tin và
sự hành đạo. Tuy nhiên, cách đây khoảng hai năm trong lần
mới nhất gặp cha Bede Griffiths (tôi đã gặp cha nhiều lần
và quen biết cha), tôi cũng đã hỏi cha câu hỏi ấy. Tôi vẫn
còn giữ một kỷ niệm chính xác và rất cảm động về cuộc
gặp gỡ ấy. Cha mặc một bộ y phục của người saddhu màu
vàng nghệ. Cha nói rằng theo quan điểm Kitô giáo, niềm tin
vào sự tái sinh sẽ hủy hoại dần đức tin vào sự thực
hành đạo Chúa. Khi bạn chấp nhận cuộc đời này, cuộc
sống cá nhân của mình do Đấng Tạo Hóa trực tiếp tạo
dựng, cuộc đời ấy là một tặng vật trực tiếp, tức
thời tạo nên một dây liên kết rất đặc biệt giữa bạn,
một tạo vật cá thể với Đấng Tạo Hóa. Mối tương quan
ngôi vị trực tiếp đem lại một tình cảm gần gũi, thân
mật với Đấng Tạo Hóa của bạn. Tin vào sự tái sinh làm
tổn hại đến dây liên kết đặc biệt ấy với Đấng Tạo
Hóa. Tôi thấy rằng lời giải thích ấy hoàn toàn thuyết
phục.
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài, tôi thấy một mối quan hệ giữa
câu hỏi của Robert Kiely với câu hỏi của Isabelle, vì rằng
đó là quan hệ giữa thời gian và vĩnh cửu, tương đối và
tuyệt đối. Đối với các Kitô hữu, Thiên Chúa còn có tên
là Chân Lý. Vả lại, mọi người bằng kinh nghiệm, biết
rằng chân lý là điều người ta khám phá từng chút một.
Chân lý được hiển lộ ; được vén màn từng giai đoạn
theo dòng đời của mỗi cá nhân, dù đó là một cuộc đời
hay nhiều cuộc đời. Chúng ta cũng thấy rõ tôn giáo có sự
tiến hóa trong lịch sử. Có một cái nhân tuyệt đối tồn
tại trong những lời giảng dạy của Đức Phật và Đức
Giêsu nhưng chân lý của chúng hiển lộ ra trong lịch sử bằng
tư duy. Nếu không, chúng ta không có lý do gì gặp gỡ nhau
trong cuộc hội thảo như vầy. Luôn luôn có thêm chân lý cần
khám phá. Xin ngài nói cho chúng tôi ngài suy nghĩ gì về ý
tưởng chân lý như một cái gì viên mãn ở-đây-và-bây-giờ,
nhưng đồng thời, chúng ta thể nghiệm từng chút một, qua
nhiều giai đoạn ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Học thuyết Phật giáo cũng quan tâm đến
vấn đề chân lý tối hậu biểu hiện qua từng giai đoạn
và trong tiến trình lịch sử, đồng thời vẫn là tuyệt đối
hay tối hậu. Có một đoạn trong kinh Prajnõaparamitasutra (Kinh
Bát Nhã Ba la mật đa) là một phần của các bản kinh gọi
là Kinh Trí Huệ viên mãn đặc biệt bàn về ý tưởng đó.
Theo đoạn kinh ấy dù các vị Phật quá khứ hay vị lai có
đến thế gian hay không, dù có một vị Phật tồn tại ở
thế gian hay không, chân lý tối hậu của hữu thể mọi vật
và mọi sự cố luôn luôn là một. Chân lý hiện diện vĩnh
hằng và luôn luôn ở đó. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa
là mọi chúng sinh đều sẽ có phần trong chân lý – nói cách
khác đạt đến sự giải thoát – một cách tự phát hay không
cần một nỗ lực tinh tấn nào, bởi lẽ các cá nhân phải
thể nghiệm chân lý theo từng cấp độ. Vậy thì chúng ta
phải phân biệt một mặt là sự hiện hữu thật của chân
lý và mặt khác là kinh nghiệm về chân lý ấy. Ở đây, người
ta có thể tìm thấy điểm tiếp xúc giữa sử tính và bản
chất tuyệt đối của chân lý.
Các
bạn đã nêu ra một câu hỏi thú vị. Làm thế nào mà một
nguyên lý tuyệt đối như Thiên Chúa Sáng tạo có thể thị
hiện trong một khuôn mặt lịch sử là Đức Kitô ? Đâu là
bản chất đúng của mối quan hệ ấy và động lực nào giải
thích mối liên kết giữa tuyệt đối vô thời gian và một
khuôn mặt lịch sử trong thời gian ? Trong bối cảnh Phật
giáo, vấn đề này được đề cập theo quan điểm học thuyết
Tam Thân (Kayas), ba biểu hiện của hữu thể giác ngộ. Trong
bối cảnh này, các biểu hiện vật lý và lịch sử của các
hữu thể giác ngộ, trong một ý nghĩa nào đó được xem như
những thị hiện tự phát của trạng thái tối hậu và vô
thời gian của dharmakaya hay Pháp thân của một vị Phật.
Robert
Kiely : Một phương tiện khác để đề cập vấn đề này
dưới góc độ hành đạo và phụng tự mỗi ngày có lẽ đó
là nhắc đến các danh xưng mà các Kitô hữu dành cho Đức
Giêsu và Phật tử dành cho Đức Phật. Một trong những nghịch
lý thấy rõ trong Kitô giáo là ở chỗ chúng tôi gọi Đức
Giêsu là Anh và Đấng Cứu Chuộc. Bằng từ ngữ cá nhân,
điều đó có nghĩa là chúng tôi được mời gọi yêu mến
Đức Giêsu như một con người, một người anh hay một người
chồng. Đồng thời, chúng tôi tin rằng Ngài là Đấng cứu
độ chúng tôi, chúng tôi tôn thờ Ngài như Thiên Chúa (Thượng
Đế). Các danh xưng ấy nhắc chúng tôi rằng Đức Giêsu đã
ban cho chúng tôi khả năng yêu mến Ngài theo hai cách trên và
đổ rót thiên tính của Ngài vào trong lòng chúng tôi. Điều
này có giống chút nào với tình cảm mà các Phật tử cảm
nhận đối với Đức Phật không ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Bởi lẽ có sự khác nhau của các truyền
thống trong Phật giáo, nên các bạn đừng tưởng tượng một
truyền thống Phật giáo thuần nhất, một con đường độc
đạo nếu có thể nói như vậy. Cá nhân tôi, tôi thích gắn
bó mình với Đức Phật như một khuôn mặt và một nhân cách
lịch sử – một người đã đưa nhân tính của mình lên
đến mức hoàn hảo và trở thành Đấng Giác ngộ viên mãn.
Tuy nhiên, theo một số trường phái tư tưởng Phật giáo,
Đức Phật không chỉ là một khuôn mặt lịch sử, mà còn
có bản tính thuộc chiều kích vô thời gian và vô tận. Trong
bối cảnh đó, mặc dù Đức Phật là một khuôn mặt lịch
sử, sử tính của Đức Phật Thích Ca được coi như một
minh chứng khéo léo hành động từ bi của Phật thể hiện
từ tình trạng vô thời gian và hoàn hảo của dharma-kaya hay
Pháp thân. Đức Phật Thích Ca trong vai trò lịch sử là nirmanakaya
nghĩa là Hóa thân : một sự hiển lộ được cảm nhận tương
ứng với những khuynh hướng và nhu cầu tâm linh của một
thời đại, một nơi chốn và một bối cảnh riêng biệt.
Sự hiển lộ ấy khởi phát từ một tình trạng thuần khiết
gọi là sam-bhogakaya (Báo thân), trạng thái hân hoan viên mãn,
chính nó thị hiện từ trường độ vô thời gian của Pháp
thân. Tuy nhiên, nếu chúng ta đề cập mọi đặc trưng của
tam thân, chúng ta chỉ thêm nhức đầu và bối rối !
Phương
tiện đơn giản nhất để quan niệm Đức Phật Thích Ca dưới
góc độ lịch sử là như sau. Đối với các Phật tử, nhất
là những người xuất gia, Đức Phật là Đấng đã sáng lập
truyền thống tu hành. Ngài là cội nguồn của các dòng tu
hành trong Phật giáo. Các tăng và ni đã được thọ giới
đầy đủ trong các dòng truyền thừa này phải kiên trì tuân
thủ toàn bộ các lời nguyện khi thọ giới. Muốn trở thành
một tỳ kheo (bhiksu), một vị sư đã thọ đầy đủ giới,
hay một tỳ kheo ni (bhiksuni), một vị ni đã được thọ đầy
đủ giới, phải là một con người. Vậy thì, khi bạn liên
kết với Đức Phật với tư cách một vị sư được thọ
đầy đủ giới có nghĩa là bạn liên kết với Ngài như một
con người (một nhân cách) trong lịch sử.
Isabelle
Glover : Thưa Đức ngài, tôi mong ngài giải thích thêm về một
cụm từ ngài thường dùng : “các bạn hãy xem xét bản chất
của…” Tôi nghĩ rằng phần đông chúng ta không có phương
pháp để “xem xét bản chất của các sự vật”. Ví dụ
như bằng cách nào chúng ta có thể “khảo sát bản chất
của” lòng từ bi hay sự khiếm khuyết lòng từ bi ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Để cho tiện lợi, cách tiếp cận mẫu
mực của Phật giáo sắp xếp và phân chia các hiện tượng
thành nhiều lớp và phạm trù khác nhau. Ví dụ như những
hiện tượng tâm lý được phân chia thành nhiều lớp : theo
ý niệm và không theo ý niệm, biến dạng và không biến dạng
và cứ như thế. Do vậy, trong văn chương Phật giáo, các bạn
sẽ tìm thấy những bảng danh sách đầy đủ các mô thức
và khía cạnh khác nhau của tâm thức, tùy theo những chức
năng khác nhau của nó. Để lấy một ví dụ khác, nếu bạn
xem xét kỹ bản chất của lòng từ bi, trước tiên các bạn
định nghĩa nó để biết người ta hiểu từ bi chính xác
là gì. Kế đó các bạn có thể tự đặt những câu hỏi
đặc biệt để sự phân loại được tinh tế. Lòng từ bi
có những sự phân nhánh nào theo mọi kinh nghiệm khả thể
của trạng thái con người, hiện tượng luận của nó ? Đâu
là những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tình trạng
cảm xúc ấy ? Những phản ứng cảm xúc đặc trưng nào khi
bạn cảm nhận lòng từ bi ? Những hiệu quả nào của lòng
từ bi trên người khác ?… Qua những sự phân tích ấy, bạn
bắt đầu hiểu rõ hơn lòng từ bi có thể là gì hay nó đang
làm gì.
Khi
đi sâu vào văn chương Phật giáo, các bạn cũng tìm thấy
những cuộc tranh luận về những loại từ bi khác nhau. Ví
dụ như có một loại từ bi làm người ta không chỉ cảm
thấy cảm thông đối với đối tượng của lòng từ bi, mà
còn có một tình cảm trách nhiệm tức là chính các bạn muốn
làm vơi bớt sự đau khổ đó. Đó là một lòng từ bi mạnh
hơn sự cảm thông hay đồng cảm đơn thuần. Hơn thế nữa,
những mức độ từ bi thay đổi theo những tình trạng tâm
thức đi kèm theo. Như thế, trong bối cảnh Phật giáo, nếu
các bạn đã hiểu được tính chất tạm bợ của cuộc đời
một cách sâu sa thâm trầm thì lòng từ bi của các bạn sẽ
càng mạnh hơn lên nhờ tri kiến đó. Cũng thế, nếu trong
thân tâm các bạn, sự khống chế của lòng ích kỷ bị hạn
chế, thì tự nhiên lòng từ bi của các bạn sẽ mạnh hơn
lên.
Để
thực hiện những sự phân biệt như thế, trước tiên phải
triển khai một mức độ phán đoán lành mạnh đủ để nhận
ra những sự khác nhau tinh tế. Hơn thế nữa, nếu các bạn
xét kỹ một hiện tượng như lòng từ bi không nên giả định
nó là một thực thể đơn nhất. Một điều kiện tinh thần
tương ứng với nhiều khía cạnh. Ví dụ như lòng từ bi là
một trạng thái cảm xúc, có bản chất là ý thức. Nó không
phải là một đối tượng vật lý mà là một trạng thái
tình cảm. Vì vậy nó thuộc lãnh vực kinh nghiệm và như thế
có cùng bản chất với mọi trạng thái cảm xúc khác. Để
lấy một ví dụ khác, chúng ta hãy xem xét tính đồng nhất
của một cá nhân cá biệt. Khi các bạn bắt đầu lượng
giá, lập tức các bạn nhận ra sự phức tạp của con người
đó. Một phần nhỏ của tính thống nhất nơi con người ấy
do môi trường văn hóa mà ra có thể là văn hóa Châu Âu hay
Châu Mỹ. Trên bình diện giới tính là đàn ông hoặc đàn
bà. Tính thống nhất cũng xuất phát từ quê quán hay tôn giáo
của người đó. Các bạn thấy đó có nhiều sự phân biệt
phải làm để nắm được tính thống nhất của một con người.
Người ta cũng làm như thế để khảo sát bản chất của
mọi vật.
Cha
Laurence : Sự tu hành trong Phật giáo một phần lớn đòi hỏi
sự phân tích duy lý và ngài có nói trí óc là tặng vật to
lớn mà con người nhận được khi mới sinh ra. Tuy nhiên, người
ta có thể từ bi mà không cần phải thông minh. Ngài có thể
giúp tôi hiểu được điều đó ? Có cần phải rất thông
minh và có một tâm thức được tôi luyện, nhiều kiến thức
và chính xác mới đạt đến sự giác ngộ ?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Đương nhiên là không. Trong mọi việc, sự
cực đoan nào cũng sai lầm. Kinh Phật phân biệt ba loại người
tùy theo khả năng thực hành tâm linh của mỗi người, đồng
thời chỉ ra loại người nào là ưu việt rút tỉa được
ơn ích tối đa trong việc thực hành tâm linh sâu sắc. Xin
các bạn bỏ qua nếu tôi không trích dẫn câu văn chính xác,
nhưng chủ yếu như sau : Thông thường, những người có tư
chất tốt nhất để hành đạo không chỉ được phú bẩm
ở bình diện trí thức mà còn có một đức tin và sự tập
trung trên một điểm cũng như có sự thông tuệ. Những người
này tiếp nhận mau lẹ nhất trong sự thực hành tâm linh. Trong
nhóm thứ hai, ta thấy có những người trí tuệ không hẳn
cao siêu nhưng có chỗ dựa vững vàng trong đức tin. Thuộc
nhóm thứ ba là những người khốn khổ. Mặc dù họ có thể
rất thông minh nhưng luôn luôn bị sự hoài nghi ngờ vực tác
hại, họ rất cơ xảo nhưng thường tỏ ra ngần ngại, hồ
nghi và thật sự không bao giờ có thể định tâm trên một
vật. Những người này được coi như tiếp nhận đạo kém
nhất.
Khi
chúng ta nói về trình độ trí tuệ, chúng ta chỉ muốn nói
một hiện tượng tương đối. Một người thông minh hơn so
với một số người, nhưng ít thông minh hơn so với những
người khác. Nhìn chung, rõ ràng là mọi đức tin hay xác tín
căn cứ trên sự lãnh hội bắt nguồn từ lý luận thì rất
vững chắc. Một xác tín như thế thì vững vàng bởi lẽ
các bạn tin chắc vào hiệu quả và giá trị của ý niệm
qua đó bạn đã đặt niềm tin. Và xác tín này bởi thế là
một động lực mạnh mẽ của hành động. Chính vì thế Phật
giáo khẳng định rằng trí tuệ rất quan trọng trên lộ trình
tâm linh. Trong truyền thống này, trí tuệ cộng tác với con
tim tức khía cạnh cảm xúc. Khi đức tin và lòng từ bi –
mà bản chất đúng ra là một trạng thái cảm xúc – được
nâng đỡ bởi một xác tín mạnh mẽ, hoa quả của tư duy
và tìm tòi, thì quả thật chúng bất diệt, còn một đức
tin hay lòng từ bi không căn cứ trên một lý luận vững chắc
nhưng nặng về cảm tính và bản năng, không thật sự vững
chắc. Nó có thể bị lung lay khi đối mặt với một số hoàn
cảnh hay tình huống. Theo một câu châm ngôn Tây Tạng : “Một
người có đức tin không cắm rễ trong lý trí giống như một
dòng suối mà người ta có thể khơi dòng hướng nào cũng
được.”
Robert
Kiely : Để tiếp tục vấn đề tác động của cảm xúc và
lý trí, ngài có thể soi sáng cho chúng tôi về vị trí của
nghi lễ trong tôn giáo. Trong nhiều thế kỷ, nghi lễ là đối
tượng những của bất hòa trầm trọng trong các Kitô hữu.
Một số người có ý kiến nghi lễ, lời ca, hương trầm,
đèn nến, y phục lóng lánh và sự tôn trọng các tập quán
nhất định tạo nên sự khác nhau thật sự trong cách chúng
ta tôn thờ Thiên Chúa. Những người khác nhìn nghi lễ như
một trở ngại của việc tôn thờ. Ngài có thể nói cho chúng
tôi biết vị trí của nghi lễ trong truyền thống của ngài
?
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Khi suy nghĩ về vai trò và sự quan trọng
của nghi lễ trong sự thực hành tâm linh, điều quan trọng
là xem xét môi trường ảnh hưởng đến con người như thế
nào ? Như thế, rõ ràng một số thực hành nghi thức giúp
chúng ta tạo được một bầu không khí đặc biệt thuận
lợi cho trạng thái tinh thần tâm linh mà chúng ta muốn đạt
đến và theo nghĩa đó, chúng có một vai trò quan trọng. Chúng
ta hãy lấy một ví dụ có một người mong ước thực hiện
một điều gì đó, và một người khác làm nghi lễ tuyên
thệ phải hoàn thành công việc sẽ được động viên mạnh
mẽ hơn, điều này sẽ mang lại hiệu quả lớn hơn trong hành
động. Cũng thế, bằng các nghi thức, bạn tạo nên khoảng
không gian hay bầu không khí tinh thần mà bạn tìm kiếm, phương
pháp ấy sẽ mang lại một hiệu quả mạnh mẽ trên cuộc
sống của các bạn. Còn nếu các bạn thiếu chiều kích nội
tâm của kinh nghiệm tâm linh mà các bạn ao ước, nghi lễ
lúc đó đơn thuần chỉ là nghi lễ, những chế tác bên ngoài.
Trong trường hợp này, rõ ràng nó đánh mất ý nghĩa và trở
thành các tập tục vô ích – một lời bào chữa cho sự phí
phạm thời gian. Đại thiền sư Tây Tạng Milarepa đã thường
xuyên phê phán nghi lễ và nghi thức. Các bài viết của ngài
đầy những lời bình phẩm châm biến nhiều khía cạnh của
nghi thức và nghi lễ !
Cha
Laurence : Thưa Đức ngài, tôi muốn đặt ra một câu hỏi phát
sinh từ việc tranh luận về nghi thức như sự biểu hiện
vật chất của đức tin, đồng thời như phương tiện để
diễn tả niềm tin bằng giác quan và thân xác. Ngày xưa Kitô
giáo Tây phương rất nhị nguyên. Người ta thừa nhận thân
xác và tinh thần xung đột lẫn nhau ; thân xác phải được
tinh thần chế ngự và điều khiển. Ngày nay chúng tôi bắt
đầu quay lại tình cảm của Kitô hữu thời sơ khai với sự
thân thiện của thể xác và tinh thần. Trong đời sống, chúng
tôi không thể tách biệt xác, hồn và tinh thần, chúng phải
sống thân thiện với nhau. Ngài có thể giúp chúng tôi hiểu
mối quan hệ giữa thân xác và tinh thần theo quan điểm của
Phật giáo. Tôi có thể lầm nhưng đôi khi tôi nhận thấy
trong Phật giáo sự đối lập giữa tinh thần và thân xác
còn căng thẳng hơn trong Kitô giáo.
Đức
Đạt Lai Lạt Ma : Cha có lý. Trong một số đoạn kinh Phật
giáo, người ta thấy có những lời tuyên bố của Đức Phật
cho ta ấn tượng về một quan niệm nhị nguyên của thể xác
và tinh thần. Trong một bộ kinh, Đức Phật khẳng định ngũ
uẩn là một gánh nặng và con người phải vác gánh nặng
ấy. Vậy thì Đức Phật là người phát ngôn của một thuyết
nhị nguyên giữa cá nhân với các thành tố tâm vật lý. Nhưng
không vì thế mà nhị nguyên là quan điểm của Phật giáo.
Theo cách chú giải truyền thống, đoạn kinh đó gởi đến
người bị triết học lôi cuốn tin có một atman (ngã), một
linh hồn bất tử và trường tồn. Vả lại quan điểm của
Phật giáo về bản chất mối quan hệ thân xác và tinh thần
đối với tính đồng nhất của ngã vị là học thuyết anatman
(vô ngã). Nguyên tắc này khẳng định ngoài ngũ uẩn hay skandhas
tạo thành hữu thể, không có linh hồn hiểu như một thực
thể tách biệt, độc lập và trường tồn. Học thuyết này
chung cho mọi trường phái Phật giáo.
Mặc
dù lời giáo huấn tổng quát ấy, Phật giáo đã kinh qua các
trào lưu triết học khác nhau ở quan điểm giải thích cái
gì tạo thành bản chất của cái tôi hay ngã vị. Một số
trường phái Phật giáo đồng nhất ngã vị với chỉ một
trong các uẩn, đó là thức, các trường phái khác đồng hóa
ngã vị với toàn bộ các uẩn,… Những trường phái tư tưởng
khác nữa, chấp nhận một lập trường duy danh hơn, cho rằng
ngã vị hay cái tôi thuần túy chỉ là tên gọi.
Cha
Laurence : Có lẽ đến lúc thích hợp cho chúng ta ngừng lại
để tĩnh tâm thiền định. Khi Đức ngài đốt nến, chúng
ta sẽ đứng dậy. Kế đó, chúng ta sẽ bắt đầu tĩnh tâm
thiền định.