CHƯƠNG
35
Con
đường Niết Bàn (I)
"Con
đường Trung Đạo này dẫn đến trạng thái vắng lặng, sự
thành tựu, sự giác ngộ và Niết Bàn." Kinh Chuyển Pháp Luân.
Con
đường Niết Bàn là Trung Đạo (Majjhima Patipada) tránh xa hai
cực đoan là lối sống khổ hạnh, làm giảm suy năng lực
trí thức, và lối sống lợi dưỡng, làm chậm trễ tiến
bộ tinh thần.
Trung
Đạo gồm tám chi: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh
Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.
Hai
chi trên là Trí Tuệ (panna), ba chi kế là Giới Luật (sila)
và ba chi cuối cùng là Định (samadhi):
Giới
Chánh
Ngữ
Chánh
Nghiệp
Chánh
Mạng
Định
Chánh
Tinh Tấn
Chánh
Niệm
Chánh
Định
Tuệ
Chánh
Kiến
Chánh
Tư Duy
Theo
đúng thứ tự của lịch trình tiến hóa tinh thần, Giới,
Định và Tuệ là ba giai đoạn trên đường dẫn đến Niết
Bàn. Ba giai đoạn này được cụ thể trong kệ ngôn sau đây:
"Chấm
dứt mọi hành động bất thiện,
Phát
triển những hành động thiện,
Thanh
lọc tâm,
Đó
là lời dạy của tất cả chư Phật" -- Pháp Cú
Ta
gặt hái những gì chính ta đã gieo. Điều bất thiện đem
lại đau khổ. Điều thiện, hạnh phúc. Đau khổ và hạnh
phúc của ta là ảnh hưởng trực tiếp của những hành động
thiện và bất thiện của chúng ta. Người có Chánh Kiến nhận
thức rõ ràng định luật nhân quả - tức hành động và phản
ứng của hành động - và tận dụng mọi khả năng để tránh
xa điều ác, phát triển việc lành.
Làm
như vậy, vì lợi ích riêng của mình và sự an lành của người
khác, người có tránh kiến nhận thấy có bổn phận làm cho
đời sống mình là một phước lành, cho mình, và cho tất
cả những người khác.
Biết
rằng đời sống thật vô cùng quí báu đối với mọi chúng
sanh, và không ai có quyền hủy hoại sự sống của kẻ khác,
người có Chánh Kiến nới rộng tâm Bi và tâm Từ của mình
đến tất cả, dầu là những con vật bé nhỏ, và tránh xa
mọi hành động sát hại hoặc gây thương tích cho bất cứ
người hay thú.
Không
có luật lệ nào bắt chúng sanh này phải làm mồi cho chúng
sanh khác. Tuy nhiên người mạnh vẫn giết kẻ yếu để lấy
thịt bày tiệc tùng. Đó là bản năng của loài thú. Đối
với thú, hành động tương tự còn có chỗ tha thứ vì chúng
không có ý thức được việc của mình làm, nhưng với ai
có đầy đủ lý trí mà còn cố tình làm vậy thì thật là
đáng trách. Dầu để ngon miệng, hay để giải khuây, không
có lý do nào ta tự cho phép, hoặc nhờ tay người khác giết
một chúng sanh. Nếu sát hại thú vật là sai lầm thì giết
người còn đáng ghê tởm đến bậc nào - dầu giết từng
cá nhân hay giết từng đoàn, từng nhóm, dầu dùng những phương
tiện tàn bạo hay những phương pháp gọi là văn minh tân tiến
và nhân đạo, dầu giết để đem lại hòa bình, giết vì
mục tiêu tôn giáo, hay vì mục tiêu nào có vẻ đẹp đẽ
nào khác.
Liêm
khiết, chân thật và chánh trực cũng là đặc tính của người
có Chánh Kiến. Người có Chánh Kiến tránh xa mọi trộm cắp,
dầu là sự trộm cắp hiển nhiên, lộ liễu, hay trộm cắp
vi tế, kín đáo, ẩn núp dưới một lớp gì khác. Người
có Chánh Kiến cũng tránh xa mọi hành động tà dâm làm giảm
suy giá trị con người. Người có Chánh Kiến tránh vọng ngữ,
không nói thô lỗ đâm thọc và nhảm nhí, mà chỉ dùng lời
lẽ chân thật, nhã nhặn, hiền hòa và bổ ích. Có nhiều
loại thuốc và rượu làm tâm trí xao lãng và lu mờ. Người
có Chánh Kiến cũng tránh xa các loại rượu mạnh, cố gắng
trau giồi và mở mang trí tuệ.
Năm
quy tắc sơ đẳng ấy - nhằm kiểm soát cả hành động và
lời nói - rất cần thiết cho những ai bước chân vào con
đường dẫn đến Niết Bàn. Phạm những giới ấy tạo trở
ngại cho tiến bộ tinh thần.
Đã
vững vàng tiến một bước hướng đến mục tiêu, bây giờ
hành giả cố gắng thu thúc lục căn. Để chế ngự sự thèm
thuồng vật thực và để cho tâm và thân được nhẹ nhàng
khoan khoái, trong mỗi tháng nhịn ăn một ngày là tốt. Đời
sống phải giản dị và thanh đạm. Sống xa hoa dẫn con người
trở lên nô lệ của tham vọng. Nên ở độc thân, vì tất
cả năng lực nhờ đó mà bảo tồn trọn vẹn, để có thể
xử dụng trong việc trau giồi tinh thần và đạo đức, cho
mình và cho người khác. Cũng nhờ đó, ta có thể tách rời
ra khỏi những dây trói buộc của xã hội, những trở ngại
cho mức tiến đạo đức. Hầu hết tất cả những vị giáo
chủ đều có một cuộc sống khiêm tốn, độc thân giản
dị, tự ý nghèo nàn, và tự kiểm soát chặt chẽ.
Trong
khi tiến bộ từ từ và vững chắc, hành giả càng kiểm soát
hành động, lời nói và thu thúc lục căn càng chặt chẽ hơn.
Nghiệp lực của người hành giả tinh tấn bấy giờ thúc
đẩy đương sự từ khước những lạc thú trần gian và chấp
nhận đời tu sĩ. Những ý như sau phát sinh:
"Đời
sống tại gia là sào huyệt củra tranh chấp,
Dẫy
đầy những vất vả, những nhu cầu,
Nhưng
đời sống của bậc xuất gia,
Tự
do và cao cả như trời rộng mênh mông."
Nhận
thấy rằng xa hoa vật chất là ảo huyền và thú vui vật chất
không tạo hạnh phúc thật sự, hành giả tự nguyện bỏ tất
cả sự nghiệp vật chất trên đời để khoác lên mình tấm
y vàng và cố ghép mình vào nếp sống hòan toàn trong sạch.
Tuy
nhiên không phải vì sắc tướng bề ngoài mà chính sự thanh
lọc bên trong đời sống gương mẫu, làm cho con người trở
nên trong sạch. Sự đổi thay từ trong ra ngoài, chớ không
phải từ ngoài trở vô trong. Không tuyệt đối cần thiết
phải rút và ẩn dật nơi hẻo lánh vắng vẻ và sống đời
tu sĩ mới chứng ngộ được Niết Bàn. Đời sống tỳ khưu
chắc chắn giúp sự tiến bộ tinh thần được thành đạt
mau chóng và dễ dàng hơn, nhưng người cư sĩ vẫn có thể
đắc quả Thánh.
Trước
tất cả những quyến rũ của đời sống tại gia, người
tu sĩ mà đắc được Quả A La Hán chắc chắn đáng được
tán dương hơn vị tỳ khưu, cũng đắc Quả A La Hán, giữa
khung cảnh tĩnh mịch an nhàn, không có gì làm cho tâm giao động.
Nhắc
đến một vị đại thần đắc Quả A La Hán lúc ngồi trên
lưng voi, trong một cái bành sang trọng, Đức Phật ghi nhận:
"Dầu
trang sức lộng lẫy, nếu người kia đi trong sự thanh bình
an lạc,
Nếu
giữ tâm yên lặng thu thúc, vững chắc và trong sạch,
Và
nếu người kia tự chế ngự, không làm tổn thương bất luận
chúng sanh nào,
Người
ấy là Bà La Môn, là sa môn, là tỳ khưu." (Kinh Pháp Cú, câu
142).
Có
rất nhiều trường hợp người tu sĩ sống tại gia cũng chứng
ngộ Niết Bàn. Vị thiện tín giàu lòng quảng đại và tâm
đạo nhiệt thành của Đức Phật, Anathapindika (Cấp Cô Độc)
là một vị Tu Đà Huờn (Sotapanna). Mahanama dòng Thích Ca là
một vị Tư Đà Hàm (Sakadagami). Người thợ lò gốm Ghatikara
đắc quả A Na Hàm (Anagami) và Đức Vua Suddhodana (Tịnh Phạn)
nhập diệt với Đạo Quả A La Hán.
Một
vị Tỳ khưu phải giữ bốn loại Giới Luật Cao Thượng:
1)
Patimokkha Sila - Giới luật căn bản
2)
Indriyasamvara Sila - Giới luật có liên quan đến công trình
thu thúc lục căn
3)
Ajivaparisuddhi Sila - Giới luật có liên quan đến đời sống
trong sạch
4)
Paccayasannissita Sila - Giới luật có liên quan đến sử dụng
"tứ vật dụng", những vật cần thiết cho đời sống.
Bốn
loại giới luật ấy gọi chung là Sila Visuddhi (Tứ Thanh Tịnh
Giới, sự trong sạch của giới hạnh), là tầng đầu tiên
trong bảy tầng trong sạch, Thanh Tịnh Đạo, dẫn đến Niết
Bàn.
Giới
tử đã thọ lễ xuất gia và thọ trì Upasampada (Cụ Túc Giới
) được gọi là Bhikkhu (Tỳ khưu). Tu sĩ hành khất có lẽ
là gần nhất của danh từ "Bhikkhu", không phải trong ý nghĩa
người đi xin, mà trong nghĩa đời sống bằng vật thực được
tặng, bằng lòng quảng đại, bằng tâm trong sạch bố trí
của người khác.
Một
vị tỳ khưu không có lời thề phải sống bằng đời sống
xuất gia cho đến chết. Giới tử tự nguyện để xin ghép
mình vào giới luật để sống đời sống trong sạch, đời
sống thiêng liêng cao thượng của vị tỳ khưu cho đến ngày,
nếu muốn, cũng tự ý, bước chân ra khỏi Giáo Hội mà không
bị một sự bị ràng buộc nào.
Nhưng
ngày nào còn đắp trên mình bộ y vàng, vị tỳ khưu phải
giữ trọn 220 giới chánh [1] và nhiều giới phụ khác. Bốn
trọng giới có liên quan đến đời sống độc thân, đến
sự trộm cắp, sát nhân và khoác loác khoe khoang rằng mình
đã đạt đến một mức cao thượng mà thật ra mình không
có, phải được gìn giữ trang nghiêm. Vị nào phạm một trong
bốn trọng giới kể trên phải chịu tội Parajika (Bất Cộng
Trụ) và đương nhiên không còn là tỳ khưu nữa. Nếu muốn,
vị ấy có thể xuất gia Samanera (Sadi) trở lại.
Ngoài
bốn trọng tội ấy, nếu vị tỳ khưu phạm nhầm giới nào
khác, phải tùy nặng nhẹ mà sám hối chịu tội.
Những
đặc điểm chánh của một vị tỳ khưu là trong sạch, hoàn
toàn độc thân, tự ý sống nghèo nàn, khiêm tốn, đơn giản,
vị tha phục vụ, tự kiểm soát, nhẫn nại, bi mẫn và thanh
tao nhã nhặn.
Đời
sống của một tỳ khưu, hay nói cách khác, sự từ bỏ những
thú vui và những tham vọng của thế gian, chỉ là một phương
tiện hữu hiệu để thành tựu quả Niết Bàn. Sự xuất gia
tự nó không phải là cứu cánh.
Chú
thích:
[1]
Ngoài ra, còn bảy điều diệt tránh (adhikaranasmatha dhamma),
cộng lại là 227.