CHƯƠNG
40
Lý
tưởng của Bồ Tát, hay Bồ Tát Đạo
"Tấm
thân bằng thịt bằng máu mà tôi mang đây,
Chỉ
để làm cho thế gian được an lành và hữu phước." -- Sri
Sanghabodhi
Trong
giáo lý của Đức Phật, có ba phương cách, hay ba con đường,
để thành đạt tuệ giác (bodhi). Người có chú nguyện đạt
cho kỳ được mục tiêu phải tùy bản tánh mình, chọn một
trong ba đường ấy là: Thinh Văn Giác (Savaka Bodhi [1]), Độc
Giác (Pacceka Bodhi), và Toàn Giác (Samma Sambodhi).
Thinh
Văn Giác (Savaka Bodhi), cũng được xem là lý tưởng A La Hán
[2], là sự giác ngộ của một đệ tử, hay A La Hán Đạo.
người có nguyện vọng đi theo con đường A La Hán thường
phải tìm sự hướng dẫn của một đạo sư cao thượng đã
chứng ngộ Đạo Quả. Đối với người đệ tử có trình
độ tinh thần tiến bộ đầy đủ, chỉ một lời chỉ giáo
đơn sơ của vị chân sư cũng có thể khai thông trí tuệ và
đưa vào vòng Thánh Đạo. Như Đức Sariputta (Xá Lợi Phất)
chẳng hạn, chỉ được nghe nửa bài kệ của vị A La Hán
Assaji đã chứng đắc tầng Thánh đầu tiên. Bà Patacara, trong
cơn suy sụp tinh thần vì chồng, con, cha, mẹ và em bị tử
nạn thê thảm, được duyên lành đưa đến Đức Phật và
đắc Quả A La Hán trong khi rửa chân dưới ờ suối, bà nhìn
những giọt nước từ chân gieo điểm xuống dòng. Kisagotami
là một người phụ nữ khác, tính tình chân chất, đến van
nài Đức Phật cứu sống cho đứa con của bà vừa mới chết,
cũng đắc Quả Thánh trong khi quan sát những ngọn đèn đang
lụi dần. Vị tỳ khưu Cula Panthaka, không thể học thuộc
một câu kệ trong bốn tháng, cũng đắc Quả A La Hán khi quán
tưởng đến bản chất vô thường của một cái khăn lau tay
sạch.
Sau
khi đã thành tựu nguyện vọng, vị A La Hán dành trọn khoảng
thời gian còn lại của đời mình để tế độ những ai muốn
tìm trạng thái thanh bình an lạc, bằng cách nêu gương lành
trong sạch và ban truyền giáo huấn thâm sâu. Trước tiên Ngài
tự thanh lọc, và sau đó cố gắng giúp người khác gội rửa
bợn nhơ, bằng cách giảng dạy giáo lý mà chính Ngài đã
thực hành. Một vị A La Hán có đủ tư cách để truyền dạy
Giáo pháp hơn các vị đạo sư phàm tục thường, chưa chứng
ngộ Chân Lý, vì Ngài dạy với kinh nghiệm bản thân.
Trong
lý tưởng cao quý của bậc Thinh Văn A La Hán không có chi là
vị kỷ bởi vì Đạo Quả A La Hán chỉ có thể thành đạt
được sau khi hành giả tuyệt trừ mọi hình thức ngã chấp.
Ảo kiến về sự tự ngã và lòng vị kỷ là những dây trói
buộc mà người có chú nguyện noi theo con đường A La Hán
phải cắt đứt cho kỳ được để thành tựu mục tiêu cứu
cánh. Những bậc thiện trí, nam cũng như nữ, trong thời Đức
Phật và về sau, đã được duyên lành gặp cơ hội vàng son
khai thông trí tệ trong kiếp sống hiện tiền.
Độc
Giác Phật (Pacceka Bodhi), là sự khai minh giác ngộ đơn độc
của một người tự lực cố gắng tiến đến Đạo Quả,
không nhờ một ai dạy dỗ hay giúp đỡ. Vì đặc tính đơn
độc giác ngộ, nên chư Phật Độc Giác không dắt dẫn ai
đến nơi giác ngộ bằng lối đơn độc giác ngộ được.
Các Ngài chỉ nêu gương đức hạnh và trí dũng.
Hơn
nữa, chư Phật Độc Giác chỉ ra đời trong lúc không có Phật
Pháp. Số Phật Độc Giác không phải chỉ có một trong một
thời kỳ riêng biệt, như trường hợp của bậc Toàn Giác
(Samma Sambuddho). Như Đức Phật Gotama, mặc dù đã viên tịch
lâu đời, nhưng bao giờ Giáo Pháp của Ngài còn tỏ rạng
và tinh thuần như lúc ban sơ, thì không thể có một vị Phật
Độc Giác ra đời trên thế gian này.
Trong
kinh Khaggavisana Sutta của bộ Sutta Nipata (Kinh Tập) có những
lời dạy của chư Phật Độc Giác như sau:
"1.-
Sống giữa chúng sanh, hãy dẹp lại một bên, gươm đao và
các loại khí giới. Không gây tổn thương cho bất luận ai.
Không làm cho ai phải xót đau vì một đứa con hay một người
bạn. Nhưng, hãy mạnh dạn tiến bước, như chúa sơn lâm,
đơn độc một mình.
2.-
Thân mật sanh trìu mến. Do trìu mến có ưu phiền. Hãy nhận
chân niềm bất hạnh phát sanh do trìu mến và, như chúa sơn
lâm, hãy mạnh dạn tiến bước, đơn độc một mình.
3.-
Chúng ta chắc chắn tán dương giá trị của tình bằng hữu.
Hãy thân cận với bậc cao nhân hoặc người ngang bằng ta.
Nếu không được vậy, hãy sống đời trong sạch không đáng
bị khiển trách và, như chúa sơn lâm, hãy đơn độc mạnh
tiến.
4.-
Khoái lạc vật chất trong đời sống quả thật vô số kể,
vừa êm dịu, vừa ngọt ngào và quyến rũ. Dưới đủ hình
thức, dục lạc làm cho lòng người say đắm. Hãy nhận chân
hiểm họa của nó và một mình, đơn độc, hãy vững tiến
như chúa sơn lâm.
5.-
Trong sương tuyết lạnh lùng và nắng chan nóng bức, khi đói,
lúc khát, nào gió, nào mặt trời, nào muỗi mòng, rắn rít.
Hãy khắc phục tất cả và, như chúa sơn lâm, một mình, đơn
độc, hãy mạnh dạn vững bước.
6.-
Như loài hùm, loài sư tử, không bị tiếng động làm, giựt
mình, run sợ. Như gió thoảng qua, không dính mắc trong màn
lưới. Như hoa sen, từ bùn nhơ nước đục vượt lên, nhưng
không vướng bợn nhơ của bùn của nước, hãy mạnh dạn
tiến bước, đơn độc một mình.
7.-
Rồi đúng lúc, đúng thời cơ, hãy trau giồi tâm Từ, tâm
Xả, tâm Bi, tâm Xuất Gia (tâm từ khước), tâm Hỷ và, không
để thế gian làm hư hỏng, hãy mạnh dạn, như chúa sơn lâm,
đơn độc tiến bước."
Toàn
Giác (Samma Sambodhi) là đỉnh giác ngộ tối cao của bậc đã
thành tựu mức độ trí tuệ tuyệt luân, vô lượng, từ bi,
thông suốt mọi lẽ. Bậc đã chứng đắc Đạo Quả tối
thượng siêu việt này gọi là Toàn Giác Phật hay Chánh Đẳng
Chánh Giác, hoặc Chánh Biến Tri. Phạn ngữ "Samma Sambuddho"
có nghĩa là người tự mình trở nên hoàn toàn giác ngộ.
Tự lực cố gắng khai thông tuệ giác, không thầy chỉ dạy.
Các Đấng Toàn Giác, sau khi chứng quả vô thượng bồ đề
liền đem ra phổ cập trong quần sanh, tận tụy hướng dẫn
chư Thiên và nhân loại đến nơi hoàn toàn trong sạch, giải
thoát khỏi vòng quanh vô tận của định luật tử sanh, sanh
tử. Không phải như chư Phật Độc Giác, trong một châu kỳ
chỉ có một vị Phật Toàn Giác duy nhất ra đời, như đoá
hoa duy nhất chỉ trổ sanh trên một loại cây hy hữu.
Người
cố gắng tu dưỡng tâm tánh với chí nguyện thành đạt Đạo
Quả Chánh Giác được gọi là Bodhisatta (Bồ Tát). Trong cõi
trần thế đầy ngã chấp và ích kỷ này, thử nghĩ có cái
chi quý đẹp thanh cao bằng hy sinh tất cả để trau giồi cuộc
sống của mình cho được trong sạch, hầu mưu cầu hạnh phúc
cho tha nhân?
Trong
cuộc đi bất định theo vòng luân hồi, những ai phát tâm
muốn phục vụ thế gian và tiến đến mức toàn thiện đều
được hoàn toàn tự do đi theo con đường Bồ Tát. Nhưng không
có sự ép buộc, thúc đẩy tất cả mọi người phải cố
gắng thành đạt cho kỳ được Đạo Quả Phật. Vả lại,
trong thực tế, đó là điều không thể làm được.
Cũng
có lời phê bình rằng Bồ Tát Đạo là con đường có khuynh
hướng đưa hành giả ra khỏi nếp sống gò bó, chật hẹp,
bình thản, êm đềm và yên tĩnh của những tu viện. Luận
như vậy chỉ tỏ ra mình kém hiểu biết Giáo Pháp thuần túy
của Đức Phật.
Sách
Abhisamayalankara-Aloka, một tác phẩm Bắc Phạn (Sanskrit) mới
sau này, và là một án chú giải Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa
(Prajna Paramita) có ghi:
"Những
vị đại đệ tử (Sravakas) đã chứng ngộ hai hạng tuệ giác
(tức hạng Thinh Văn Giác, Sravaka, và Độc Giác, Pratyeka Buddha)
trong khi còn, và sau khi thân ngũ uẩn chấm dứt vẫn còn tâm
sợ sệt, bởi vì các Ngài chưa thành đạt Đại Bi và Trí
Tuệ Cao Thượng (Uru karuna prajna vaikal-yena, Vô Thượng Bát
Nhã Đại Bi). Do sự chấm dứt sinh lực tạo nên bởi những
năng lực trong quá khứ, các Ngài có thể đắc Niết Bàn.
Tuy nhiên, trong thực tế, (các vị Thánh tiểu thừa) chỉ thành
đạt cái gì mường tượng như Niết Bàn, gọi là Niết Bàn,
giống như ánh sáng bị dập tắt. Không còn trở lại tam giới
nữa, nhưng sau kiếp sống trần gian này, chư vị A La Hán sẽ
tái sanh vào cõi thanh tịnh nhất trong cảnh gới hoàn toàn
tinh khiết (anasravadhatu), ở trong một trạng thái xuất thần
nhập hoá, mơ mơ màng màng, bên trong những cánh hoa sen (Padmaphutesu
jayante). Sau đó, Đức Phật A Di Đà (Amitabha) và các vị Phật
khác giống như vầng thái dương, sẽ đem các Ngài lên gội
rửa cho trí tuệ được trong sáng (akilishta nana). Từ đó chư
vị A La Hán tận lực tiến đến Giác Ngộ Tối Thượng và,
mặc dù đã đạt thành trạng thái giải thoát, các Ngài hoạt
động (trong thế gian hữu vi), cũng giống như các Ngài đi
xuống địa ngục. Rồi, tích trữ dần dần những yếu tố
cần thiết của Đạo Quả Chánh Đẳng Chánh Giác, các Ngài
trở thành đạo sư của tất cả chúng sanh (tức thành Phật)."
Trên
đây là một lý luận hết sức lạ lùng, xa hẳn tinh thần
của những lời dạy căn nguyên mà Đức Phật đã ban truyền.
Người
ta còn luận rằng Quả A La Hán là vị ngã, ích kỷ và khuyên
mỗi người phải cố gắng tu hành cho đến qủa vị Phật
để cứu độ chúng sanh. Luận như vậy cũng hữu lý, nhưng
thử hỏi, mục tiêu của Đức Phật là gì? Phải chăng là
dắt dẫn người khác đến Đạo Quả A La Hán và cứu vớt
họ? Nếu quả thật vậy, thì ta phải mặc nhiên kết luận
rằng chính Đức Phật nuôi dưỡng tinh thần ích kỷ nữa
sao? Không thể được.
Trong
ba con đường, dĩ nhiên Đạo Quả Phật là cao siêu hơn cả,
nhưng không phải tất cả ai ai cũng nhất định thành Phật
được, cũng như không phải tất cả những khoa học gia đều
có thể trở thành Einstein hay Newton. Tuy nhiên, mỗi nhà khoa
học đều có thể phục vụ nhân loại tùy khả năng của
mình.
Danh
từ Nam Phạn (Pali) "Bodhisatta", Bồ Tát, gồm hai phần. "Bodhi"
là trí tuệ hay giác tuệ, và "Satta" là "gia công để..., hay
chuyên cần để...". Vậy, Bodhisatta, Bồ Tát, là người gia
công, hay chuyên chú nỗ lực để thành đạt trí tuệ hay giác
tuệ. Đúng ra, hình thức Bắc Phạn (Sanskrit) của danh từ
Bodhisatta phải là Bodishakta, nhưng thường người ta dùng một
danh từ phổ thông là Bodhisattva, "trí tuệ chúng sanh", nghĩa
là chúng sanh có nguyện vọng trở thành Phật.
Danh
từ này thường được dùng để chỉ bất luận ai, cố gắng
thành đạt tuệ giác, nhưng theo đúng nghĩa của nó, Bodhisatta
là người đã có lập lời chú nguyện đi theo con đường
Chánh Đẳng Chánh Giác và đã có được thọ ký [3].
Hiểu
theo một lối, tất cả mọi chúng sanh đều có khả năng trở
thành Phật, bởi vì Đạo Quả Phật không phải là một đặc
ân dành riêng cho hạng người tốt nào.
Người
Phật tử không tin rằng bên trong tất cả mọi người đều
có một điểm linh quang, được thần linh phú cho, mà ta cần
phải trau giồi để trở thành Phật. Phật Giáo phủ nhận
sự hiện hữu của một Thần Linh Tạo Hoá hay một tha lực
bí ẩn nào có thể đặt cái điểm linh quang ấy vào bên trong
ta. Tuy nhiên, người Phật tử thấu hiểu và tin tưởng nơi
những khả năng cố hữu và năng lực sáng tạo của con người.
Phật
Giáo cũng phủ nhận một linh hồn trường cửu chuyển sinh
mãi mãi, từ kiếp này sang kiếp sống khác và, mãi mãi thu
nhận kinh nghiệm. Thay vì một linh hồn bất biến, cái được
gọi là tinh hoa của con người, Phật Giáo chủ trương có
một luồng sinh lực luôn luôn cuộc chảy, không ngừng đổi
thay. Chỉ có tiến trình diễn biến là đồng nhất, trước
cũng như sau.
Thái
Tử Siddhattha (Sĩ Đạt Ta) là một người. Nhờ ý chí dũng
mãnh, trí tuệ cao siêu và từ bi vô lượng, Thái Tử Đắc
Quả Phật, trạng thái toàn thiện đến mức cùng tột, và
Ngài đã vạch ra cho nhân loại con đường duy nhất dẫn đến
nơi chí thiện ấy. Một đặc điểm của Phật Giáo là bất
luận ai cũng có thể có nguyện vọng chính mình trở nên chí
thiện, nếu kiên trì chuyên cần và cố gắng đúng mức. Đức
Phật không bao giờ dành độc quyền thành Phật. Mọi người
đều có khả năng thành đạt, nhưng Đạo Quả Phật phải
được thành tựu bằng chí lực, bằng tinh tấn của chính
mình cơ không phải nhờ sự hỗ trợ nào từ bên ngoài. Đức
Phật không bao giờ lên án, gọi ai là tội lỗi, đáng thương
hại, phải mỗi mãi ở trong khổ cảnh. Thay vì làm nản lòng
hay tạo mặc cảm tự ti cho tín đồ và giữ riêng cho mình
Đạo Quả Phật, Đức Phật vạch ra con đường và khuyến
khích tất cả những ai hoan hỷ lắng tai nghe, theo dấu chân
Ngài để làm được như Ngài, thành đạt Đạo Quả Vô Thượng,
Chánh Đẳng Chánh Giác.
Bồ
Tát không nhất thiết phải là Phật tử. Trong hiện tại ta
có thể gặp nhiều vị Bồ Tát đầy lòng từ bi, bác ái,
mặc dù các Ngài có thể không hay biết gì về lời chú nguyện
thành Phật của mình. Các vị ấy có thể ở trong hàng Phật
tử, cũng có thể không.
Ba
Hạng Bồ Tát:
Theo
Phật Giáo, có ba hạng Bồ Tát là:
a)
Trí tuệ Bồ Tát (Pannadhika),
b)
Tín Đức Bồ Tát (Saddhadhika) và
c)
Tinh Tấn Bồ Tát (Viriyadhika).
Ba
hạng trên đây tuần tự tương đương với ba hạng du dà
(yoga) trong Ấn Độ Giáo: Nana Yogi, Bhakti Yogi, và Karma Yogi.
Trí
Tuệ Bồ Tát ít thiên về lòng nhiệt thành sùng đạo nhưng
kiên trì tinh tấn chuyên cần hơn trên đường phát triển
trí tuệ. Tín Đức Bồ Tát sùng mộ, tin tưởng nơi lễ bái
thờ phượng, mà ít chú trọng về công trình trau giồi tâm
trí và bồi đắp công đức vị tha. Tinh Tấn Bồ Tát thì
tập trung vào tinh thần phục vụ. Thật hy hữu nếu không
phải là không bao giờ - ba đặc điểm trên điều hòa kết
tụ vào một người. Đức Phật Gotama được xem là hạng
Trí Tuệ.
Theo
kinh sách, con đường của bậc Trí Tuệ Bồ Tát ngắn nhất.
Tín Đức Bồ Tát phải trải qua một thời gian dài hơn; và
Tinh Tấn Bồ Tát, càng dài hơn nữa.
Trí
Tuệ Bồ Tát chú trọng về công phu phát triển trí tuệ và
hành thiền nhiều hơn là nhiệt thành với những hình thức
lễ bái cúng dường bề ngoài. Các Ngài luôn luôn đi theo sự
hướng dẫn của lý trí và không chấp nhận điều gì một
cách mù quáng. Không tự bó tay qui hàng một lý thuyết nào,
cũng không làm nô lệ cho một quyển sách, một bộ kinh, hay
một cá nhân nào. Trí Tuệ Bồ Tát thích trầm tĩnh, yên lặng
để trau giồi thiền tập. Từ nơi vắng vẻ tịch mịch ấy,
Ngài rải ra những tư tuởng an lành, tuy trầm lặng nhưng hùng
dũng, bủa khắp thế gian, để đem lại sự hỗ trợ tinh thần
cho nhân loại đau khổ.
Tín
Đức Bồ Tát đặt trọn niềm tin nơi hiệu lực của tâm
thành, Saddha, hay niềm tin chân thành là đặc điểm chánh yếu
của ngài. Cùng với Saddha (niềm tin nơi Tam Bảo) như người
bạn đồng hành trung tín, Ngài thành tựu mục tiêu. Tất cả
các hình thức về lễ bái, thờ phượng bụt tượng, là sở
trường của vị Tín Đức Bồ Tát. Tượng Phật là một nguồn
gợi cảm quan trọng đối với Ngài.
Nên
hiểu rằng người Phật Tử không sùng bái pho tượng vì chính
cái pho tượng bằng đồng hay bằng gỗ ấy, người Phật
Tử bày tỏ lòng kỉnh mộ tinh thần cao cả mà pho tượng
tượng trưng, và suy niệm về phẩm hạnh, và ân đức của
đức Từ Tôn. Càng suy tưởng đến Đức Phật, càng kỉnh
mộ Ngài. Đó là lý do tại sao mà Phật Giáo không khi nào
phủ nhận các hình thức ngưỡng mộ bề ngoài (amisa puja)
mặc dầu pháp hành (patipatti puja) đáng được khuyến khích
hơn và chắc chắn là bổ ích hơn. Vả lại, để đi đến
thành quả thỏa đáng, đôi khi trí thức khô khan cũng cần
được hưởng chút ít hương vị của Bhakti (đức tin). Nhưng
Bhakti, đức tin, quá đáng thì cũng phải nhờ trí tuệ kềm
hãm để khỏi phải sa vào cuồng tín.
Tinh
Tấn Bồ Tát thì luôn luôn tìm cơ hội để phục vụ kẻ
khác. Không có gì làm cho vị Bồ Tát hoan hỷ bằng tích cực
phục vụ. Đối với các Ngài, "làm việc là hạnh phúc và
hạnh phúc là làm việc". Không tích cực hoạt động thì các
Ngài không có hạnh phúc. Như đức vua Sangha-bodhi xứ Sri Lanka
nói: "Ta mang tấm thân bằng thịt và máu này là chỉ để
đem lại trạng thái tốt đẹp và an lành cho thế gian."
Bồ
Tát không chỉ sống cho riêng mình mà còn sống cho kẻ khác
nữa.
Luôn
luôn hoạt động luôn luôn làm việc, không ngừng, không biết
mệt, không chán, không phải làm việc như người nô lệ,
mà như một chủ nhân. Các Ngài không ham muốn, không bám vào
danh thơm tiếng tốt. Các Ngài chú trọng đến việc làm, đến
sự phục vụ. Ai biết, ai không biết mình làm gì, điều ấy
không quan trọng. Chẳng màng được khen, không bị sợ chê,
Bồ Tát thản nhiên trước lời tán dương hay khiển trách.
Bồ
Tát quên mình trong khi phục vụ kẻ khác, có khi phải hy sinh
mạng sống của mình để cứu mạng chúng sanh khác, những
người bạn đồng hành trên bước đường dài dẵng của
vòng luân hồi.
Muốn
quên mình để hiến thân cứu mạng cho một chúng sanh khác,
Bồ Tát phải hành tâm Bi và tâm Từ đến mức độ đặc
biệt.
Bồ
Tát ước mong sự tốt đẹp và an lành của thế gian. Ngài
thương chúng sanh như bà từ mẫu thương đứa con duy nhất
của bà. Bồ Tát hòa mình với tất cả mọi người như anh,
như chị. Thương yêu tất cả như mẹ, như cha, như bạn, như
thầy.
"Tâm
Bi của Bồ Tát nhằm thực hiện tánh cách bình đẳng giữa
Ngài và người khác (para atma samata) và cũng đặt mình trong
kẻ khác (para atma parivartana)".
Trong
khi thực hành như vậy, BồTát mất dần ý niệm về cái "Ta"
và không còn thấy sự khác biệt giữa Ngài và người khác.
Ngài tự đồng hóa với tất cả, lấy tốt trả xấu, lấy
thiện trả ác lấy, lành trả dữ, giúp đỡ tất cả, chí
đến những người chủ tâm hại mình, bởi vì Bồ Tát hiểu
rằng "lực lượng của người dẫn đạo là pháp nhẫn".
Bị
nhục ma nhưng không nhục mạ lại, bị đánh đập nhưng không
đánh đập lại, bị làm phiền nhưng không gây phiền nhiễu
ai, Bồ Tát một mực giữ đức khoan hồng. Tựa như đất
mẹ trầm lặng, Bồ Tát âm thầm chịu đựng tất cả những
lỗi lầm của kẻ khác.
Chú
thích:
[1]
Savaka, Thinh Văn: Đúng theo nghĩa đen là "người nghe".
[2]
Theo đúng ngữ nguyên, Arahant (A La Hán) là bậc Ứng Cúng, hay
người đã dập tắt mọi khát vọng.
[3]
Giáo sư Rhys Davids viết như sau trong quyển Buddhist Birth Stories
(trang xxxiv): "Một quyển tiểu thuyết có tính cách tôn giáo
tựa đề "Barlaam and Joasaphat" kể lại câu chuyện một hoàng
tử Ấn Độ được Barlaam cảm hoá và trở nên đạo sĩ ẩn
dật. Người đọc sẽ lấy làm ngạc nhiên được nghe rằng
chuyện này là một đoạn trong tiểu sử của Đức Phật,
và (nhân vật) Joasaph là Đức Phật dưới một tên khác."
Chữ
Joasaph, hay Joasaphat chỉ là biến thể của danh từ "Bodhisattva".
Joasaphat trong tiếng Á Rập, cũng được viết là Yudasatf, và
đó là do sự lẫn lộn giữa hai mẫu tự "Y" trong tiếng Á
Rập, và "B". Bodhisat trở thành Yudasatf. Xem "Encyclopaedia of Religion
and Ethics", tập 6, trang 567.