Hành
giả học Phật điều kiện đủ là phải học qua ba học Giới-Định-Tuệ,
để từ đó hiểu được cốt lõi của sự thực hành tu tập
phải đặt nền tảng căn bản từ đâu mà thanh tịnh hóa
ba nghiệp thân-khẩu-ý đưa đến giải thóat tất cả mọi
thứ phiền não và đạt an vui tịch tĩnh trong cuộc sống?
Ba học này còn gọi là ba thắng học; vì nếu hành giả áp
dụng ba học này trong tu tập thì chúng sẽ thắng tất cả
mọi thứ phiền não nghiệp có được từ trong vô lượng
kiếp chúng ta đã tạo ra nhờ vào việc áp dụng ba học này.
- Cái
học thứ nhất về giới cho chúng ta biết rằng, Giới có
khả năng ngăn ngừa, phòng bị, đình chỉ các tác nghiệp
ác do thân-khẩu-ý sinh ra và, nó cũng có khả năng làm tăng
trưởng nghiệp thiện cho hành giả khi tu tập thực hành giới.
Vì vậy cho nên được đức Đạo sư gọi là Tăng giới học
(adhiśīla).
- Cái
học thứ hai định cho chúng ta biết rằng, Định có
khả năng thâu nhiếp mọi tán loạn, lắng sạch tinh thần,
loại trừ mọi thứ tạp niệm, nhờ đó mà thấy thật tánh
ngộ đạo. Vì vậy nên đức Đạo sư gọi là Định học,
hay tăng Tâm học (adhicitta), còn gọi là tăng ý học, tăng
thượng ý học, hay tăng thượng tâm học.
- Cái
học thứ ba Tuệ cho chúng ta biết rằng, Tuệ có khả năng
hiển bày bản tánh, đoạn trừ phiền não, thấy được thật
tướng của chư Phật. Vì vậy nên đức Đạo sư gọi Tuệ
là tăng Tuệ học (adhiprajñā), hay còn gọi là tăng thượng
Tuệ học.
Tiếp
theo chúng tôi sẽ y cứ vào kinh luận để lý giải về nội
dung cùng ý nghĩa của ba học Giới-Định-Tuệ tùy thuộc vào
thuộc tính của từng đối tượng mà giải thích từng phạm
trù một của chúng một cách rõ ràng hơn.
I
– GIỚI, Sanskrit gọi là Śīla
(Pāli. Sīla) dịch ân là Thi-la, ý chỉ cho hành vi, tập quán,
tánh cách, đạo đức, cung kính, là một trong ba học, là một
trong Sáu Ba-la-mật hay, là một trong Mười Ba-la-mật. Đó là
ý nghĩa được tóm lược ngắn gọn cho hành giả chúng ta
dễ nắm bắt, còn đứng về mặt ý nghĩa rộng thì Giới
được định nghĩa bao gồm mọi thói quen tập quán thiện
ác đều được gọi là Giới cả, như thói quen tập quán
tốt thì gọi là thiện giới hay còn gọi là luật nghi thiện,
còn thói quen tập quán đưa đến phá hoại thì gọi là ác
giới hay còn gọi là luật nghi ác. Ở đây thiện giới còn
gọi là tịnh giới, đặc chỉ cho giới qui được chế định
ra cho hai giới xuất gia và tại gia tín đồ của đệ tử
đức Đạo sư, với công dụng và mục đích là đề phòng
những điều phi pháp, đình chỉ mọi sự tạo tác ác của
thân-khẩu-ý. Theo Bồ-đề tư lương luận 1 thì Thi-la cùng
có sự tiếp cận với mười nghĩa như bản tánh, thanh lương,
an ổn, an tịnh, tịch diệt, đoan nghiêm, tịnh khiết và tán
thán. Trong mười nghĩa này, từ thanh lương trở xuống là
để giải thích trở lại tịnh giới. Giới là cơ sở thực
tiễn của đạo Phật, nên nó cùng với Định học, Tuệ học
được gọi là ba học. Hơn nữa Giới là một trong năm
phần pháp thân (giới thân, định thân, tuệ thân, Giải thoát
thân, giải thóat tri kiến thân), ở đây gọi là Giới thân,
giới phẩm, hay giới uẩn (tức chỉ cho nghiệp thân-khẩu
vô lậu). Đồng thời theo Phật giáo Đại thừa Giới cũng
là một trong sáu Ba-la-mật, mười Ba-la-mật gọi là Giới
Ba-la-mật.
Trong
thời kỳ đức Đạo sư còn tại thế thì giới chỉ được
đem ra áp dụng sau khi Ngài thành đạo năm năm; tức là năm
năm đầu của thời kỳ hoằng hóa của Ngài khi mà đệ tử
xuất gia cũng như tại gia của Ngài càng ngày càng trở nên
đông và mọi sinh hoạt trở nên phức tạp được biểu hiện
qua thân-khẩu của các đệ tử của Ngài nhất là phái xuất
gia, khi đó Ngài mới bắt đầu căn cứ vào những tùy phạm
mà theo đó chế ra Giới theo thuật ngữ chuyên môn thì gọi
là “Tùy phạm tùy chế”, chứ còn trước đó, trong vòng
năm đầu Tăng chưa đông lắm, hơn nữa thời gian này Tăng
sống theo nếp sống “vô sự” nên mọi tác nghiệp ác chưa
xảy ra nên vấn đề chế giới không được đức Đạo sư
đặt ra. Tăng lúc này chỉ sống theo một bài kệ được đức
Đạo sư giáo giới với tinh thần khuyến khích nhắc nhở
nổ lực cá nhân trong việc thực hành:
“Các
điều ác chớ làm
Các
điều lành nên làm
Tự
trong sạch ý mình
Đó
lời chư Phật dạy.”
(Chư
ác mạc tác
Chúng
thiện phụng hành
Tự
tịnh kỳ ý
Thị
chư Phật giáo.)
Bài
kệ này được gọi là Giới Kinh và các Tỳ-kheo vô sự chỉ
nổ lực thực hành đúng bài kệ này thì coi như ba nghiệp
thân-khẩu-ý thanh tịnh, cộng với nếp sống theo pháp Lục
hòa nữa nên cuộc sống của Tăng đòan vào lúc đó luôn thể
hiện được mọi sự an lạc trong cuộc sống hay còn gọi
là nếp sống “Vô sự”. Đó là nếp sống không có Giới
và chưa có mọi luật lệ nào quy định ràng buộc Tăng đòan,
vì vậy trong thời gian này giới và luật không được đức
Đạo sư đặt ra thành vấn đề cho cuộc sống. Nhưng kể
từ khi chúng xuất gia của Ngài càng ngày đông, nên nếp sống
sinh họat Tăng chúng bắt đầu trở nên phức tạp và, cũng
từ đó trong Tăng đòan Tỳ-kheo bắt đầu phát sinh nếp sống
“hữu sự” hay còn gọi là “đa sự”. Từ đây pháp hữu
lậu cũng bắt đầu hiện hữu và, cũng từ đó tùy phạm
tùy chế bắt đầu có mặt trong cuộc sống của Tăng đòan
cho cá nhân và tập thể trong việc hòan thiệc việc thanh tịnh
ba nghiệp thân-khẩu-ý. Đây là giai đoạn bắt đầu cho sự
xuất hiện sự khác nhau giữa Giới và Luật được thể hiện
qua nếp sống cá nhân và cộng đồng. Giới bảo vệ mọi
hành vi cá nhân do thân-khẩu lúc nào cũng trở nên trong sạch
trong việc hòan thiện ba nghiệp cho mỗi người, trong khi Luật
là những phép tắt quy định trong việc xử phạt và điều
hòa cuộc sống sinh họat tập thể của chúng Tăng theo một
quy củ được đặt ra như các phương pháp yết ma an cư, Bố-tát,
Tự tứ, thuyết giới, trị phạt … mà mục đích của nó
là làm nhân duyên để hòan thiện cuộc sống sinh họat của
tập thể chúng Tăng đem lại an vui lợi lạc cho tập thề.
Theo
các nhà Tiểu thừa có sự khác nhau về giới nam nữ dành
cho hai hàng xuất gia và tại gia như đức Phật đã chế định
ra năm giới, tám giới, mười giới, cụ túc giới dành cho
hai hàng xuất và tại gia thuộc Tiểu thừa. Tuy nhiên bên các
nhà Đại thừa vẫn áp dụng giới luật của Tiểu thừa trong
sinh hoạt tu tập của mình, tuy có cộng thêm Giới Bồ-tát
của riêng họ, nhưng giới luật của Tiểu thừa vẫn là pháp
tu chính cho các nhà Đại thừa về Luật tạng. Trong phần
Giới đức Đạo sư chia ra làm hai loại: Một là Tánh giới,
hai là Già giới. Về Tánh giới Ngài y cứ vào bản chất của
tội nếu là tội ác thì cái tội đó thuộc về Tánh tội
và để đối trị lại Tánh tội này đức Phật dùng Tánh
giới để ngăn ngừa; ngược lại nếu bản chất của nó
chẳng phải là tội ác, nhưng chúng khiến cho mọi người
bài báng, hoặc khiến cho tánh tội người khác khởi lên thì
gọi là già giới. Còn nếu ai phạm vào tội ác của già giới
thì cũng gọi là già tội.
Như
vậy Tánh giới và Già giới theo sự phân chia của năm giới,
tám giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới của Tỳ-kheo
và, ba trăm bốn mươi tám giới của Tỳ-kheo Ni thì giới của
bảy chúng đệ tử đức Phật đều có mặt của bốn giới
thuộc về Tánh giới đó là: Giới sát sinh, giới trộm cắp,
giới dâm dật (tà dâm), giới vọng ngữ đều thuộc về Tánh
giới cả. Ngoài bốn giới này ra tất cả đều thuộc Già
giới. Ở đây chỉ có giới của Tỳ-kheo Ni lên đến tám
giới thuộc về Tánh giới và, Bồ-tát giới có mười Tánh
giới và 48 già giới. Nhưng nói chung trong tất cả bảy chúng
đệ từ của đức Phật đều có chung cơ bản bốn giới
này. Bốn giới này theo đức Đạo sư thì dù Phật có ra đời
có chế giới hay không chế giới chúng luôn luôn vẫn là Tánh
giới hay còn gọi là trọng giới, hay chủ giới.
Theo
Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao quyển trung
thì Giới được phân ra làm bốn phần riêng biệt: Giới pháp,
giới thể, giới hành, giới tướng.
- Giới
pháp, là phép tắc của giới được đức Phật chế ra
làm nguyên tắc sống, sinh họat trong một tập thể như là
nguyên tắc luật lệ chung cho tập thể sinh họat của Tăng
đoàn.
- Giới
thể, là chỉ cho tánh thể của giới có tác dụng lợi
ích về mặt vô biểu, do mỗi người nổ lực trong việc phòng
phi chỉ ác (phòng ngừa những điều phi pháp và đình chỉ
không tạo các việc ác).
- Giới
hành, là chỉ cho hành động của mỗi cá nhân trong việc
thực hành giữ giới (trì giới) mà mình đã nhận lãnh.
- Giới
tướng, là chỉ cho tướng mạo của giới mà mỗi cá nhân
phãi trì giữ, tức là chỉ cho tên gọi của tất cả những
giới điều mà mình đã nguyện thọ trì như tên gọi tên
riêng của năm giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới,
ba trăm bốn mươi tám giới hay, năm mươi tám giới v.v…
Về
giới thể vì những tác dụng có được đó chúng ta không
thể nào dùng mắt để thấy được như việc khi một đệ
tử của đức Phật nhận giới và, được gọi là đắc giới
là phải nhờ vào nghi thức thọ giới tức tác pháp yết-ma,
tức là theo luật nghi (nghi thức của luật) mới được gọi
là đắc giới; vì sự đắc giới này chúng ta không thể thấy
cho nên gọi là vô biểu. Luật nghi Phạn ngữ gọi là saṃvara
phiên âm là tam-ba-ra, có nghĩa là đẳng hộ, ủng hộ, phòng
hộ, hộ, cấm giới, tức là giới ngăn ngừa đình chỉ các
việc ác, gồm có phòng chỉ ba ác thân, khẩu, ý, bảo hộ
sự tác dụng của sáu căn. Vì luật pháp nghi tắc có khả
năng sản sinh ra tác dụng đề phòng những sai trái và làm
dừng lại mọi việc ác, nên được dịch là luật nghi. Vì
thế nên Câu Xá luận 14 gọi luật nghi có nghĩa là đề phòng
và đình chỉ các việc ác của thân, miệng, và ý; theo đó
luật nghi được phân ra làm ba: thân luật nghi, ngữ luật
nghi, ý luật nghï; riêng để bảo hộ sáu căn thì gọi là
căn luật nghi. Trong bốn loại luật nghi này, hai loại đầu
lấy vô biểu làm thể và, hai luật nghi sau lấy chánh niệm,
chánh tri làm tự tánh. Nhưng ở đây vô biểu không bị giới
hạn theo luật nghi.
Theo
Nhất thiết hữu bộ chỉ chấp nhận hành vi thiện ác, thế
lực của nó mạnh hay yếu được biểu hiện trên ngôn nữ
hay nơi thân (thân biểu nghiệp, ngữ biểu nghiệp), hoặc do
định sản sinh phòng chỉ tạo ra tác dụng tạo tác thiện
ác, do đây hình thành một loại tính cách hậu thiên, đó
là vô biểu. Chúng tuy là vô biểu nhưng vô biểu này thuộc
một loại sắc pháp, cho nên được gọi là vô biểu sắc.
Vô biểu này có ba loại, chúng do thành lập thệ nguyện quyết
ý thật hành thiện ác nên gọi là luật nghi vô biểu (hình
thái tình cảm của tâm thiện), hoặc bất luật nghi vô biểu
(hình thái tình cảm của tâm ác); nếu mà tùy theo duyên đúng
lúc mà sinh ra tâm thiện ác thì gọi là xứ trung vô biểu
(còn gọi là phi luật nghi phi bất luật nghi vô biểu). Ở
đây, luật nghi vô biểu tức là chỉ cho vô biểu của giới
thể.
Theo
Thành thật luận thì cho rằng vô biểu thuộc pháp phi sắc
phi tâm, và cũng theo đây Luật tông Nam Sơn cũng cho rằng vô
biểu thuộc pháp phi sắc phi tâm. Theo Duy thức tông của Đại
thừa thì chủ trương giới thể là chủng tử của tư tâm
sở chỗ đạt được huân tập vào A-lại-da thức; trong khi
tông Thiên thai thì cho rằng vô biểu thuộc giả sắc dùng
vô biểu giới thể để trình bày. Ngòai ra theo các nhà Tiểu
thừa chủ trương thì giới thể không tương tục, tức là
chỉ hiện hữu trong một thời gian nào đó thôi, sau đó sẽ
biến dịch và sẽ mất đi. Nhưng các nhà Đại thừa thì cho
rằng một khi đã đắc giới rồi thì vĩnh viễn lâu dài không
mất.
Theo
các nhà Nhất thiết hữu bộ thì họ phân luật nghi vô biểu
tức là Giới thể được phân ra làm bốn chủng loại:
A.
Biệt giải thóat luật nghi còn gọi là biệt giải thóat
giới, biệt giải luật nghi, Ba-la-đề-mộc-xoa luật nghi, Luật
nghi giới, dục triền giới (giới lệ thuộc cõi dục) cho
đến lúc được từ tác pháp thọ giới. Ở đây luật nghi
được phân ra làm tám:
1 .
Luật nghi Tỳ-kheo,
2
. Luật nghi Tỳ-kheo Ni,
3
. Luật nghi Chánh học (Thức-xoa-ma-na),
4
. Luật nghi Cần sách (Sa-di),
5
. Luật nghi Cần sách nữ (Sa-di Ni),
6
. Luật nghi Cận sự Nam (Nam cư sĩ),
7
. Luật nghi Cận sự Nữ ( Nữ cư sĩ),
8
. Luật nghi Cận trụ (Nam Nữ cư sĩ thọ bát quan trai giới).
Luật
nghi 1 & 2 thuộc thể Cụ túc giới, 3 thuộc thể của lục
pháp giới, 4 & 5 thuộc thể của thập giới, 6 & 7 thuộc
thể của ngũ giới, 8 thuộc thể của bát giới.
B.
Tịnh lự luật nghi, còn gọi là Tịnh lự sinh luật nghi,
Định cộng giới, hay sắc triền giới ( Giới lệ thuộc cõi
sắc). Cho đến lúc được từ nhập thiền định. Bỡi vì
trong thiền định tự nhiên lìa sai lầm và tuyệt không còn
phi pháp, cũng tự nhiên khế nhập vào luật nghi pháp nhĩ,
cho nên có khả năng phòng phi chỉ ác lỗi thất của bất
thiện dục giới. Hơn nữa tịnh lự luật nghi có nơi gọi
là tùy tâm chuyển giới, lúc ở trong định cùng tâm đồng
khởi, lúc ra khỏi định cùng với luật nghi vô biểu đồng
thời cùng diệt, cùng với định hữu lậu cùng sinh cùng diệt,
nên được gọi là Định cộng giới.
C.
Vô lậu luật nghi, còn gọi là đạo sinh luật nghi, hay
đạo cộng giới. Biệt giải thóat và Tịnh lự luật nghi
ở trên là hữu lậu giới còn vô lậu luật nghi thời thuộc
vô lậu giới đoạn tận phiền não chúng liên hệ đến
các bậc thánh giả đạt được từ kiến đạo trở lên,
tức là luật nghi có được khi vào trong định vô lậu; ở
trong này tự nhiên xa lìa lỗi ác, khế hợp với luật nghi.
Vô lậu luật nghi cũng là giới tùy tâm chuyển cùng với vô
lậu đạo cùng sinh cùng diệt, cho nên gọi là đạo cộng
giới. Ngược lại biệt giải thóat luật nghi thì không luận
trạng thái của tâm như thế nào, chỉ cần không xả giới
thì giới vĩnh viễn tương tục, cho nên gọi là không tùy
tâm chuyển giới.
D.
Đọan luật nghi, còn gọi là đoạn giới, tức cùng với
cửu vô gián đạo chưa đến định cùng sinh với tịnh lự
luật nghi và vô lậu luật nghi, có khả năng đọan trừ ác
giới cùng phiền não của triền phuợc dục, nên gọi là đọan
luật nghi. Đó là bốn chủng loại luật nghi theo các nhà Nhất
thiết hữu bộ phân ra, bốn luật nghi này còn gọi là tứ
giới.
Ngòai
ra, theo Du-già sư địa luận 53 thì lại chia ra tám loại luật
nghi, đó là năng khởi, nhiếp thọ, phòng hộ, hòan dẫn, hạ
phẩm, trung phẩm, thượng phẩm, thanh tịnh. Bảy loại trên
dành cho trạng thái quyết ý ở trong tâm lúc thọ giới thuộc
biệt giải thoát luật nghi, do đó mà có sự sai khác
được phân chia theo thứ tự; còn loại sau cùng thuộc tịnh
lự luật nghi và vô lậu luật nghi.
Trong
thập thiện giới khi hành thập thiện ngoại trừ ba loại
quan hệ cùng tâm ý, bảy loại trước được gọi là thất
thiện luật nghi; cũng giống thập thiện khi hành thập ác
bảy chủng loại trước được gọi là thất bất thiện luật
nghi. Ngoài đây ra, bất luật nghi còn gọi là ác luật nghi
hay ác giới, lại dựa vào chức nghiệp mà phân loại, như
mổ heo, săn bắn, cai ngục v.v… không đồng, theo kinh Niết-bàn
29 của Đại thừa thì có 16 ác luật nghi, còn theo kinh Đại
phương tiện Phật báo ân 6 thì nói có 12 ác luật nghi.
Dưới
đây chúng tôi sẽ phân tích nội dung của Biệt giải thoát
luật nghi:
1.
Năm giới: Đây la năm giới mà hai chúng cận sự nam luật
nghi và, cận sự nữ luật nghi tại gia thọ trì, cho nên được
gọi theo giới tính của từng hệ mà gọi thì gọi là Ưu-bà-tắc
giới, hay Ưu-bà-di giới. Năm giới gồm có: (1) Giới không
sát sinh, (2) Giới không trộm cắp, (3) Giới Không tà
dâm, (4) Giới không nói dối, (5) Giới không uống rượu. Ở
Ấn Độ những tôn giáo khác cũng có năm giới tương tợ,
như pháp điển Mã-nô đưa ra: không sát sinh, không nói đối,
không trộm cắp, phạm hạnh (không dâm), không tham sân; còn
Kỳ-na giáo thì dạy: không sát sinh, không nói dối, không trộm
cắp, không tà dâm, lìa dục. Đó là năm giới điều tương
tợ với giới pháp của đức Đạo sư; ở đây chỉ có những
sắp xếp theo thứ tự có khác nhau.
2.
Bát trai giới: Đây là giới dành cho những vị Ưu-bà-tắc,
Ưu-bà-di nguyện thọ trì trong vòng một ngày một đêm học
tập xuất gia. Những ai thọ trì giới này thì gọi là Ô-ba-bà-sa
((Phạn gọi là upavāsa, nghĩa là sống gần các vị xuất gia
(cận trụ), hay một ngày một đêm sống theo pháp thiện (thiện
túc).)) Bát trai giới còn gọi là bát chi trai, bát quan trai
giới, bát giới trai, Phật pháp trai, bát phần giới, bát giới,
trai giới, nhất nhựt giới, cận trụ giới hay cận trụ
luật nghi. Trong năm giới của các đệ tử nam nữ tại gia
thì trong giới thứ ba là không tà dâm thì giới này được
đổi thành không dâm dục còn bốn giới kia không đổi và
cộng thêm ba giới nữa là: (5) Thân không trang sức tràng hoa,
thoa hương thơm, không ca múa xem nghe; (7) không nằm, ngồi giường
cao rộng đẹp; (8) Không ăn phi thời (tức là không ăn quá
giờ ngọ).
3.
Mười giới: Đây là giới dành cho nam và nữ xuất gia,
ra khỏi nhà thế tục, từ biệt những người thân, cắt đứt
mọi liên hệ tình cảm (ái) đối với người thân, tuổi
không quá hai mươi, còn gọi là mười giới Sa-di, Sa-di Ni,
hay còn gọi là Cần sách luật nghi (cho nam) và Cần sách nữ
luật nghi (cho nữ). Về nội dung của mười giới này được
liệt kê như sau: 1/ Không giết hại sinh mạng. 2/ Không trộm
cắp. 3/ Không dâm dục. 4/ Không nói dối. 5/ Không uống rượu.
6/ Không thoa hương, trang sức tràng hoa. 7/ Không ca múa xem nghe.
8/ Không ngồi nằm giường cao rộng lớn. 9/ Không ăn phi thời.
10/ Không chứa của báu vàng bạc.
Trong
mười giới này đặt biệt là năm giới sau dành riêng cho
Sa-di và Sa-di Ni, nhưng năm giới đầu cũng giống như năm giới
của năm giới nam nữ cư sĩ tại gia. Cũng giống như Bát trai
giới, năm giới đầu tất cả đều giống nhau dành chung cho
cả xụất gia và tại gia nhưng đặc biệt ở đây giới thứ
ba trong năm giới thì giới này khác nhau. Tại gia thì chỉ
giới hạn trong việc vợ chồng không cho vượt qua giới hạn
này nên gọi là không tà dâm, trong khi giới này dành cho Bát
trai giới và nam nữ xuất gia thì hòan toàn nghiêm cấm không
cho phạm phải vào giới dâm dục cho nên được gọi là Không
được dâm dục.
4.
Lục pháp giới: Giới sáu pháp này chỉ đặt biệt dành
riêng cho các vị Sa-di Ni trước khi thọ giới Cụ túc (giới
Tỳ-kheo Ni) thời gian là hai năm phải tuân giữ sáu pháp này,
nên còn gọi là học pháp nữ, học giới nữ, chánh học nữ
được dịch nghĩa từ Śikṣamāṇā tiếng phạn dịch âm
là Thức-xoa-ma-na. Một vị Thức-xoa-ma-na Ni ngoài bốn giới
trọng căn bản là Giới dâm, giới sát, giới đạo (trộm
cắp) giới đại vọng ngữ ra, còn cần phải vâng giữ
sáu pháp. Theo Tứ phần luật 27 thì nội dung của sáu pháp
được ghi như sau: 1/ Giới nhiễm tâm tương xúc (Không vì
tâm ái dục mà xúc chạm vào thân người nam). 2/ Giới đạo
nhơn tứ tiền (Không được trộm bốn tiền của người trở
xuống, trộm bốn tiền trở xuống là giới khuyết rất nặng
đối với người mới thọ giới; nếu trộm năm tiền trở
lên thỉ sẽ bị mặc tẫn (mặc nhiên bị trục xuất). 3/
Giới đọan súc sinh mạng (tức là không được giết hại
mạng sống các loài vật). 4/ Giới tiểu vọng ngữ (Không
được nói dối về tất cả mọi việc đối với mọi người,
không phải đại vọng ngữ.) 5/ Giới phi thời thực (Không
được ăn không đúng giờ). 6/ Giới ẩm tửu (Không được
uống rượu). Đây là sáu pháp theo Luật Tứ phần; nhưng theo
Thập tụng luật thì sáu pháp được liệt kê như sau: Dâm
dục, Thâu đoạt (trộm cướp), Sát sinh, Vọng ngữ, Ma xúc
nam tử khỏa thân (đụng chạm rờ mó khỏa thân của nam tử),
Tróc nam tử chi thủ dữ y nhi cộng ngữ (nắm tay và áo người
nam cùng nói chuyện). Về mặt nội dung ý thì không có sự
sai khác nào, nhưng về mặt hình thức sắp xếp và thuật
ngữ có sự sai khác. Riêng theo Ma-ha Tăng Kỳ luật thì ghi
có mười tám việc (Thập bát sự) chứ không ghi là sáu pháp
giới như các bộ khác như ở trên cũng như luật của Hữu
bộ.
5/
Cụ túc giới: Phạn ngữ gọi là upasaṃpanna hay upasaṃpadā,
theo ý nguyên ngữ của nó là chỉ cho những người thân cận
ở bên chân Thế tôn, hoặc những ai tham gia vào giáo đòan
trở thành đệ tử của Ngài khoảng năm năm đầu, và ý nghĩa
được dịch là tiến đến chỗ hòan tòan, hay gần tròn đầy
nên được giải thích là “Cận Niết-bàn”. Nhưng sau đó
giáo đòan đông sinh ra nhiều “hữu sự” phức tạp nên
Ngài mới bắt đầu chế giới để cho các đệ tử của Ngài
thọ trì làm thanh tịnh hóa ba nghiệp tùy theo căn cơ hòan
cảnh mà có năm giới, mười giới chưa đầy đủ và hòan
chỉnh cho vấn đề giải thóat, chỉ dành cho tại gia và những
ai tập sự xuất gia chưa chính thức vào Tăng đoàn. Để chính
thức vào Tăng đoàn lúc này những vị xuất gia theo Ngài cần
phải thọ trì giới cấm đầy đủ hơn viên mãn hơn nên Ngài
đã theo tướng phạm hữu sự của các nam nữ xuất gia mà
chế ra Cụ túc giới. Giới cụ túc này còn gọi là Cụ giới,
Tiến cụ giới, Cận viên giới, Đại giới. Đây là giới
dành riêng cho nam nữ xuất gia sau khi đã tác pháp yết-ma lãnh
giới Tỳ-kheo (Tỳ-kheo luật nghi) và Tỳ-kheo Ni (Tỳ-kheo Ni
luật nghi). Giới cụ túc được phân ra thành hai tùy thuộc
vào giới Tính của nam và nữ nên giới điều theo đó mà
có phần khác nhau trong số giới điều. Nhưng trên đại thể
Tánh giới và Già giới vẫn giống nhau dành cho Tỳ-kheo và
Tỳ-kheo Ni. Về nội dung của giới điều thì Tỳ-kheo có 250
giới và, Tỳ-kheo Ni 348 giới. Sự chênh lệch số giới điều
ở đây chúng tùy thuộc vào giới tính đã thể hiện trong
cuộc sống của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo Ni nên đức Phật căn
cứ vào tướng phạm của họ mà chế giới. Do đó chúng ta
không thể căn cứ vào giới tướng nhiều và ít này mà kết
luận rằng đức Phật đã thiên vị, hay không công bằng giữa
nam và nữ.
Theo
Tứ phần luật thì 250 giới tướng Tỳ-kheo và 348 giới tướng
Tỳ-kheo Ni này được chia ra là Năm thiên Bảy tụ:
Năm
thiên gồm: Một, Ba-la-di thiên. Hai, Tăng tàn thiên. Ba, Ba-dật-đề
thiên. Bốn, Ba-la-đề-đế-xá-ni thiên. Năm, Đột-kiết-la
thiên. Trong năm thiên này thêm Thâu-la-giá thì gọi là lục
tụ. Thâu-lan-giá là tội làm chướng ngại rất lớn
đối với con đường đưa đến thiện đạo; tức là giữa
hai tội Ba-la-di và Tăng tàng, nhưng chúng chưa hội đủ điều
kiện để phạm vào hai tội này, nên đức Đạo sư liệt
kê vào Thâu-lan-giá. Và cũng trong năm thiên trên, trong thiên
thứ năm là Đột-kiết-la phát sinh ra tội Ác thuyết nên gọi
nó là Tụ thứ bảy. Vì tội Đột-kiết-la chỉ được giới
hạn do thân tạo ra nên gọi là Ác tác, còn lời nói tạo
ra tội thì chưa đề cập đến nên tội do lời nói tạo ra
thì được thêm vào và gọi nó là Ác thuyết. Như vậy thì
Thất tụ có được chỉ là một sự bổ túc thêm sau từ
sự khiếm khuyết của năm thiên mà ra. Vậy Năm thiên này
chúng ta cũng có thể gọi là năm Tụ cũng được.
Như
vậy mục đích của việc chế ra giới là đức Phật nhằm
vào hai mục đích là phòng phi chỉ ác (cấm kị những việc
làm phi pháp và đình chỉ không tạo ra các việc ác) và, nổ
lực hành thiện như ý nghĩa nội dung bài kệ thông Giới kinh
“Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành …” mà
bảy đức Phật quá khứ đã từng dạy và nay đức Đạo
sư cũng đem ra dạy lại cho các Tỳ-kheo vô sự của mình,
sau khi Ngài thành tựu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác được
áp dụng trong vòng năm năm đầu khi Ngài chưa chế giới.
Giới
với mục đích là đưa hành giả đến chỗ thanh tịnh ba nghiệp
thân, khẩu và ý nên vấn đề thực hành trì giới rất cần
thiết quan trọng. Vấn đề trì giới được giải thích qua
hai phạm trù tiêu cực và tích cực. Về mặt tiêu cực chỉ
cho phòng phi chỉ ác, tức là hành giả luôn hiện quán trong
ý nghĩ trong hành động (thân-khẩu) luôn luôn đề phòng các
việc ác có thể xày ra, theo thuật ngữ chuyên môn thì đây
gọi là “chỉ trì giới”. Về mặt tích cực nổ lực hành
thiện, tức là trong ý nghĩ trong hành động thuộc thân-khẩu
nổ lực thực hành càng nhiều càng tốt, chính vì sự thực
hành này huân tập ba nghiệp thiện chúng ta càng ngày càng
lớn mạnh, là nhân đưa đến sức mạnh (lực) quyết đi cho
con đường tiến đến giải thoát không xa. Trong hành động
tạo thiện này theo thuật ngữ chuyên môn thì gọi là “Tác
trì giới”. Qua hai cách giải thích “Chỉ trì và tác trì”
của hai mặt ác và thiện. Thì chỉ trì ác thì không phạm
giới, và tác trì thiện thì không phạm giới; nhưng hành giả
chúng ta nếu làm ngược lại phương pháp này thì tác dụng
ngược lại và trở thành phạm giới. Nếu hành giả chỉ
trì thiện thì phạm giới, và tác trì ác thì cũng phải phạm
giới. Đây là đặc tính đặt biệt của một hành giả khi
thọ giới và trì giới, cần phải thông hiểu để tránh khỏi
những việc làm không đúng của mình, trong việc trì giới
mà mình đã lãnh thọ. Từ đó chúng đẻ ra câu thuật ngữ
mà bất cứ ai trì giới cũng phải thuộc và hiểu chính xác:
“Chỉ
trì, tác phạm
chỉ
phạm, tác trì.”
Theo
Quảng luật (chỉ cho tất cả các bộ Luật trong luật tạng)
mà nói thì năm thiên, thất tụ thuộc chỉ trì giới, còn
các phần Kiền độ thì thuộc phần tác trì giới.
Ngòai
ra theo luận Du-già Sư Địa 40 thì đưa có ba tụ tịnh giới
có thể đại biểu cho Đại thừa Bồ-tát giới, tức là:
Một, Nhiếp luật nghi giới, tức là tuân thủ những gì Phật
đã chế về việc phòng chỉ mọi lỗi lầm. Hai, Nhiếp thiện
pháp giới, chỉ có việc tất tu trong việc hành thiện cho
mình. Ba, nhiêu ích hữu tình giới hay, còn gọi là nhiếp chúng
sanh giới, đây là việc làm lợi người như giáo hóa chúng
sanh khiến họ được mọi lợi ích. Nhưng theo Đồng luận
42 thì Bồ-tát giữ sáu loại giới: Hồi hướng giới, Quảng
bác giới, Vô tội hoan hỷ xứ giới, Hằng thường giới,
Kiên cố giới, Thi-la trang nghiêm cụ tướng giới. Đó là
Bồ-tát giới của Đại thừa giáo gọi là Trì giới Ba-la-mật.
Qua
những giới dành cho tại gia, xuất gia chưa chính thức vào
Tăng đòan của Sa-di, Sa-di Ni và Thức-xoa-ma-na ra thì giới
của Tỳ-kheo và Tỳ-kheo Ni thuộc giới Thinh Văn của Tiểu
thừa giáo và Giới Bồ-tát thuộc Đại thừa giáo có sự
đồng dị trên mặt ý nghĩa của chúng. Theo giới luật của
Thinh văn thì ý nghĩa của nó không ngoài thanh tịnh ba nghiệp
thân khẩu ý cho chính bản thân mỗi cá thể trong vấn đề
tự lợi còn vấn đế lợi tha họ không để ý đến; trong
khi Giới Bồ-tát kể cả xuất gia và tại gia cả hai đều
được áp dụng một cách đồng loạt trong việc tự lợi
và lợi tha. Đó là nét đặc trưng của Đại thừa giới.
Thật ra đây cũng chỉ là để phù hợp và thích ứng căn
cơ và nguyện lực của hành giả mà thôi. Như Đại Trí độ
luận 46 nói thì Giới Ba-la-mật là tổng nhiếp tất cả các
pháp, mà Thập thiện là giới tổng tướng (tánh giới), còn
tất cả vô lượng giới khác đều là giới biệt tướng
(Già giới). Theo Kinh Phạm Võng luật điển của Đại thừa
thì Năm mươi tám giới của Bồ-tát: Mười giới trọng đầu
gọi là mười trọng cấm thuộc tánh giới, còn gọi là mười
trọng cấm giới, Mười vô tận giới, hay mười trọng Ba-la-đề-mộc-xoa,
hay mười Ba-la-di, mười giới không thể hối và bốn mươi
tám giới khinh sau cùng gọi là khinh giới thuộc khinh cối
tội của già giới dành chung cho các vị nam nữ tại gia và
xuất gia.
Theo
Thiên Thai tông chủ trương thì giới có thể phân ra làm hai
Quyền giới và Thật giới. Theo Pháp Hao huyền nghĩa 4 thì
tất cả những giới được đức Phật chế ra từ năm giới
cho đến cụ túc giới của Tiểu thừa cùng Du-già sư Địa
luận, Bồ-tát thiện giới kinh v.v… của Đại thừa là quyền
giới cộng thông cho cả ba thừa, nhưng đặc biệt đại giới
của Phạm Võng thời thuộc Thật giới của tương đối.
Song theo Pháp Hoa Viên giáo thì “Khai Tam hội nhất”, mở
là nói quyền giáo ba thừa, nhưng hội quy về Thật giáo nhất
thừa, theo Pháp hoa thì tất cả giới luật đều quy hướng
về Thật giới tuyệt đối.
Ngoài
những cách giải thích về giới tướng được nêu ra ở trên
thì theo Ma-ha chỉ quán 4 phần đầu thì Giới được chia ra
làm hai phần: Sự giới và lý giới. Sự giới chỉ cho những
giới tướng mang hình thức cụ thể được qui ra thành những
giới điều như năm giới, sáu giới, bát giới, mười giới,
hai trăm năm mươi giới, ba trăm bốn mươi tám giới, hay năm
mươi tám giới, đó là những giới điều mang hình thức qua
giới tướng thuộc về phần sự giới. Lý giới chỉ cho những
giới tướng của sự giới qua cách hiện quán của ba cách
quán “Không-giả-trung” thì gọi là lý giới hay còn gọi
là ly tướng giới.
Theo
các nhà Thiên Thai tông Trung quốc chủ trương lấy Diệu giới
hay lý giới của đốn giáo tuyệt đối với tất cả giới.
Nhưng cùng giới này, sang Phật giáo Nhật Bản thì cách giải
thích có tiến bộ hơn một bước, Tối Trừng một Tăng nhơn
Nhật bản đã y cứ vào kinh Pháp Hoa chủ trương lập trường
“Khai-Hiển” dùng mười giới trọng và bốn mươi tám giới
khinh của kinh Phạm Võng đem liên hệ với những gì Phật
Tỳ-lô-xá-na đã nói về giới, lấy lợi người làm căn bản,
theo đó giới thể một khi đã đắc thì vĩnh viễn không mất
và, giới cảnh là pháp giới vô biên, không bị giới hạn
đối với ba nghìn đại thiên thế giới, còn giới tướng
chính là ba tụ tinh giới, người trì giới và phạm giới
đều không có một nguyên tắc nào nhất định, việc truyền
trao giới cũng không giới hạn cho cả thông và biệt. Truyền
giới thông cho tất cả xuất gia và tại gia, cùng một luật
lấy Ba tụ tịnh giới tác pháp truyền chung thì đó gọi là
thông thọ. Trong khi truyền trao riêng thì y cứ vào nhất bách
tam yết-ma, hay pháp tam quy truyền riêng cá biệt cho mỗi người
thì đó gọi là biệt thọ. Loại giới này đặc xưng là Viên
đốn giới, hay còn gọi là Phạm võng Bồ-tát giới, hay Thiên
Thai Viên giáo Bồ-tát giới, Bồ-tát Kim cương thật giới,
Nhất thừa giới, Nhất thừa Viên giới, Nhất tâm giới, nhất
tâm Kim cương giới, Đại thừa Viên đốn giới, Viên đốn
Bồ-tát giới, Viên đốn vô tác giới, Viên giới, Đại giới.
Theo
Chân ngôn tông nói về tam-muội-da giới tức ý chỉ cho giới
bình đẳng, chỉ thân khẩu ý của Phật cùng chúng sanh ba
mật bình đẳng tuyệt đối theo lý. Một chân ngôn bí
mật giới này lấy tâm Bồ-đề thanh tịnh, vốn đầy đủ
của chúng sanh làm giới thể và lấy muôn đức vô lượng
pháp giới làm hành tướng. Đại Nhật kinh nói về bốn trọng
cấm hay còn gọi là bốn trọng giới: Một, giới không nên
bỏ chánh pháp. Hai, giới không nên lìa bỏ tâm Bồ-đề. Ba,
giới đối với tất cả pháp không nên bủn xỉn. Bốn, giới
đối với tất cả chúng sanh không nên không tạo hạnh nhiêu
ích. Lại, không thối tâm Bồ-đề, không hủy báng Tam bảo,
không sinh lòng nghi ngờ, không khiến thối lui tâm Bồ-đề,
không khiến phát tâm nhị thừa, không vội nói đại thừa
thâm diệu, không phát tà kiến, không nói ta có đầy đủ
vô thượng đạo giới, bỏ tất cả những việc không lợi
ích, đó là mười giới trọng.
Ngoài
ý nghĩa cùng những giới tướng từ những thuộc tính đưa
đến những sự tướng có được của giới, chúng ta còn
có nghi thức để lãnh thọ giới pháp (giới đàn pháp) được
chúng tôi liệt kê theo đây để cho mọi người cùng biết:
Tiếp
nhận giới pháp thì gọi là nhận (thọ) giới.
Giới
sư truyền cho giới pháp gọi là truyền giới.
Trì
giữ giới pháp gọi là trì giới.
Truyền
giới có một nghi thức nhất định gọi là giới nghi.
Lễ
truyền giới, có Hòa thượng truyền giới (đầy đủ phải
tam sư thất chứng), hoặc là truyền giới sư (Thiên Thai tông
Nhật Bản khi truyền Viên đốn giới, thì lấy Thế tôn là
Hòa Thượng truyền giới, còn hiện tiền những vị sư truyền
giới thì gọi là truyền giới sư) làm giới sư.
Thọ
giới có nhiều loại hình thức, như thọ chung cùng thọ riêng,
tự nguyện thọ (nhận) cùng thọ (nhận) từ người khác,
thọ một phần cùng thọ tòan phần. Ở đây, thọ tự nguyện
là không cần những hình thức tam sư thất chứng, duy chỉ
tự mình đối trước Phật thệ nguyện rằng mình xin nhận
giới, còn nhận giới từ người khác tức là theo hình thức
phải có tam sư thất chứng từ người khác mà nhận giới.
Giới
thể có hai, Khi hành vi của thân, ngữ chúng ta kinh qua nghi
thức thọ giới thì hành vi làm việc này gọi là biểu nghiệp,
lúc mới bắt đầu thọ giới thì gọi là tác giới hay là
giáo giới. Tác giới hay giáo giới không mang tính liên tục
mà chỉ được giới hạn trong thời gian bắt đầu tác pháp
giáo giới để đưa đến yết-ma thọ giới, thời gian này
mang hình thức thể hiện của thân và ngữ nghiệp được
biểu hiện nên được gọi là biểu nghiệp. Sau khi chúng ta
nhận tác pháp yết-ma thọ giới xong được thể hiên qua thân
hành và ngữ hành, nhân đây chúng ta đắc giới được giới
thể. Sau khi chúng ta đắc giới được giới thể và từ đó
trở về sau giới thể này tương tục luôn luôn, chúng có
khả năng tác dụng bảo trì giới một cách liên tục vô hình
trung, nên được gọi là vô tác giới, hay còn gọi là vô
biểu nghiệp; chúng sẽ mất khi thân và ngữ chúng ta được
biểu hiện làm cho người đối diện biết rằng mình muốn
xa lìa giới hay xả giới thì giới liền mất.
Vấn
đề đắc giới thể hay mất giới thể, theo Câu Xá luân 14
& 15 giải thích như sau: Luật nghi biệt giải thóat cần
phải dùng đến các duyên tam sư thất chứng mới đắc giới;
nhưng được gọi là mất giới, hay xả giới thì cần đến
một trong năm duyên mới mất giới: Một, ý lạc (có tâm phạm
giới). Hai, tử vong. Ba, khi mang lưỡng tính (nam & nữ, nhị
hình), Bốn, đọan thiện căn. Năm, qua khỏi thời gian một
ngày một đêm thì giới tự mất (dành cho giới Bát quan trai).
Ngoài
ra muốn đắc Cụ túc giới thì cần phải có một trong mười
duyên này: Một, tự nhiên được, tức do giác ngộ mà được,
như Phật hay Độc giác. Hai, nhờ kiến đế mà được, tức
là nhập vào kiến đạo mà được, như năm anh em Kiều Trần
Như. Ba, thiện lai mà được, tức chỉ cần Phật bảo thiện
lai là được, như Da-xá. Bốn, tự thệ nguyện mà được,
tức là tin nhận Phật là đại sư mà được, như tôn giả
Đại Ca-diếp. Năm, do luận nghị mà được, tức cùng Phật
vấn đáp mà được, như Tô-đà-di. Sáu, tác kính trọng mà
được, tức thọ Bát kỉnh pháp mà được, như Ma-ha-ba-xà-ba-đề.
Bảy, sai tin mà được, tức được Phật sai khiến truyền
trao cụ túc giới mà được, như pháp truyền trao cho Ni. Tám,
tác ngũ nhơn mà được, tức vùng biên giới của nước Tăng
không đủ túc số, nên chỉ cần năm vị truyền giới sư
mà được. Chín, do Yết-ma mà được, tức cần tam sư thất
chứng tác yết-ma để truyền trao giới mà được giới. Mười,
tam quy mà được, tức quy y Phật, Pháp, Tăng Tam bảo mà được.
Lại
nữa, giới phân ra làm năm loại, đây gọi là năm phần giới:
Người thọ trì tam quy và giữ một trong năm giới gọi là
nhất phần giới; người thọ trì tam quy cùng thọ trì hai
giới trong năm giới gọi là thiểu phần giới; nếu thọ trì
hai giới mà phá một giới thời gọi là vô phần giới; thọ
trì ba hay bốn giới gọi là đa phần giới; thọ trì năm giới
thì gọi là mãn phần giới.
Vị
nào thọ Sa-di giới chưa lâu thì gọi là tân giới; nếu người
nào mới thọ (Sa-di) với hy vọng sẽ sinh về chổ lành các
cõi Trời thì gọi là hy vọng giới; người nào sợ người
khác trách mắng mà thọ giới thì gọi là khủng bố giới
hay là bố úy giới; vị nào muốn bày giác chi, trang nghiêm
tâm mình mà thọ giới thì gọi là thuận giác chi giới; vị
nào muốn lìa cấu phiền não mà thọ giới thì gọi là vô
lậu thanh tịnh giới.
Y cứ
vào Tứ phần luật 16 thì nếu phạm các tụ Ba-la-di, Tăng
tàn, Thâu-lan-giá (giới phần) thì gọi là phá giới; phạm
vào các tụ Ba-dật-đề, Ba-la-đề-đề-xá-ni, Đột-kiết-la,
ác thuyết (oai nghi phần) thì gọi là phá oai nghi. Sau khi thọ
giới xong, người thường phạm giới, thế lực của giới
thể ngày càng suy giảm yếu dần, song vẫn chưa xả giới,
thời gian này được gọi là giới luy (sút kém); ngược lại
sau khi đắc giới vị đó càng ngày càng tinh tấn trong việc
thọ trì giới, khiến giới thể càng ngày càng lớn mạnh
hơn lên từ từ thì, gọi là giới phì.
Người
phá giới sau khi chết sẽ đọa vào ba đường ác, theo Tứ
phần luật 29, người phá giới có năm lỗi: Một, tự hại.
Hai, bị người khác quát mắn. Ba, tiếng xấu đồn vang. Bốn,
đến lúc chết sinh hối hận. Năm, sau khi chế đọa vào đường
ác. Nếu đối với giới luật lấy tà kiến mà chấp trước
thì, gọi là giới cấm thủ kiến (là một trong năm kiến).
Như Ngưu cẩu ngoại đạo trì ngưu giới, cầu giới, kê cẩu
giới v.v… tất cả đều thuộc giới cấm thủ kiến. Trường
hợp nếu chưa phá giới nhưng khởi phiền não mà làm nhiễm
ô giới thì, gọi là ô giới. Trường hợp tương đối, với
tịnh giới mà nói thì, giới của nhiễm ô này cũng gọi là
ô giới.
Như
trên chúng ta đã biết, giới với mục đích là làm thanh tịnh
hóa ba nghiệp thân, khẩu, và ý. Nếu ba nghiệp này của chúng
ta thanh tịnh sạch như băng tuyết thì lo gì chúng ta không
giải thoát được những thứ phiền não chướng khổ làm
ngăn trở trên bước đường giải thoát cho chúng ta. Vì giới
theo nhân quả thì nó chính là nhân đưa đến giải thóat khổ
của chúng ta, dù đứng trên mặt tương đối hay tuyệt đối
nó vẫn là nhân và duyên đưa đến giải thoát khổ và, đạt
an vui trong giải thoát ngay trong cuộc sống hiện tại này của
chúng ta; và cũng là bước đầu đưa đến định trong hiện
quán về khổ và xa lìa khổ một cách như thật trong trí tuệ.
II-
ĐỊNH, Sanskrit gọi là Samādhi (Pāli:
Samādhi) dịch âm là tam-ma-địa, có nghĩa là định, tức là
chuyên tâm chăm chú vào một đối tượng nào đó, mà tinh
thần chúng ta không bị chi phối bỡi bất cứ một tác động
nào khác ngoài đối tượng đó; hoặc là chỉ cho trạng thái
ngưng đọng tĩnh lặng. Ngược lại với những trạng thái
này thì chúng ta gọi là tâm bị tám loạn hay gọi là định
tán. Theo Câu Xá tông và Duy thức tông thì định này là một
trong những tâm sở; và Câu Xá tông lấy nó làm một trong
mười đại địa pháp, còn Duy thức tông lấy nó làm một
trong năm biệt cảnh. Đây là một trạng thái tinh thần đặc
thù có được khi hành giả tu hành khiến tâm không bị tán
loạn, mà chúng ta khi tiến đến cảnh này theo tuần tự có
những sai biệt, nhưng dù có sự sai biệt theo sự ổn định
của tâm, chúng vẫn được gọi chung là định. Lại nữa
nhờ vào chỉ (śamatha = xà-ma-địa), quán (vipśyanā = Tỳ-bà-xá-na)
hành giả cũng có thể tuần tự đạt được những cảnh
giới tùy theo căn cơ và lực định nhiều hay ít mà theo đó
có những kết quả sai biệt như tứ thiền, tứ vô sắc, nhị
vô tâm định v.v…, hoặc gọi chung là thiền định, hoặc
dùng một tánh cảnh nghĩa của tâm mà gọi là samādhi (tam-ma-địa),
hoặc còn gọi là tam-muội. Ở đây, định được coi như
là một phạm trù trong ba phạm trù ba học Giới-định-tuệ,
là đại cương của phương pháp học thực tiễn của Phật
giáo. Hơn nữa, định này cũng được gọi là Thiền định,
hay Thiền-na (dhyāna), Tịnh lự theo chánh định trong bát Thánh
đạo hay trong các pháp trợ đạo thì nó là một trong Ngũ
căn, Ngũ lực, Thất giác chi.
Về
ý nghĩa của định thì có rất nhiều thuyết khác nhau, căn
cứ vào Trí độ luận 28 thì, Thiền định và tứ Thiền,
cả hai đều gọi là định hay tam-muội, nhưng theo Thập trụ
Tỳ-ba-sa luận thì, Thiền chỉ cho Tứ thiền, còn định chỉ
cho Tứ vô sắc định, Tứ vô lượng tâm v.v… Theo Thành duy
thức luận liễu nghĩa đăng 5 thì định có những tên khác
nhau: và, được chia ra làm bảy loại:
- Một,
Tam-ma-hứ-đa (samāhida), nghĩa là đẳng dẫn. Đẳng có nghĩa
là xa lìa tâm trôi nổi của trạo cử, hôn trầm mà bảo trì
bình đẳng đến khi nào cả hai thân và tâm đều ở trạng
thái an ổn. Dẫn, có nghĩa là do tự lực mỗi cá nhân mà
dẫn khởi phát sinh mọi công đức. Hành giả nào thường
tu định này thì lìa được các phiền não và đưa đến sự
phát sinh các thứ công đức thù thắng vi diệu. Đẳng dẫn
này thông cả cho hai tâm định hữu và vô, nhưng nó không
thông cho tán lọan.
- Hai,
Tam-ma-địa, hay tam-muội (samādhi), có nghĩa là đẳng trì,
còn gọi là chánh tâm hành xứ. Hành giả nào thường tu định
này thì, tâm sẽ đoan trực, an trụ bất động vào một cảnh,
có nghĩa là tâm bình đẳng nhiếp trì, thông với định, tán
(loạn), nhưng rất ít hạn chế đối với hữu tâm, song sẽ
không thông với vô tâm là bản thể của định.
- Ba,
Tam-ma-bát-để (samāpatti), dịch là đẳng chí. Hành giả nào
thường tu định (chánh thọ) này thì định sẽ hiện tiền,
sẽ phát ánh sáng lớn, vui mừng thù thắng, nơi nhiễm không
bị nhiễm, không bị thối chuyển, có nghĩa là thân tâm bình
đẳng. Đối với cả hai định hữu tâm và vô tâm ít thông
suốt, cũng không thông với tán vị là tự tướng của định.
- Bốn,
Đà-na-diễn-na (dhyāna), Trung hoa dịch là tịnh lự, còn gọi
là thiền nghĩa là ngưng thần xét nghĩ, chuyên nghĩ tưởng
lặng yên, tức là trấn tĩnh nhớ nghĩ, thông cho cả hữu
tâm, vô tâm, hữu lậu vô lậu, nhưng chúng chỉ giới hạn
định của sắc giới, không thông cho định của vô sắc.
- Năm,
Chất-đa-ế-ca-a-yết-la-đa (cittaikāgratā), Trung hoa dịch là
tâm một tánh cảnh, khích lệ siêng năng là chính trong việc
thực hành tu tập, ý nói đem tâm hành giả tập trung vào một
đối tượng là tự tánh của định.
- Sáu,
Xà-ma-tha (śamatha), dịch là chỉ, là chánh thọ, là đình chỉ
tất cả các căn ác pháp bất thiện thì có thể diệt hết
tất cả mọi thứ phiền não tán loạn, tức là tưởng nhớ
đến lìa tà loạn, có ý là chúng ta đình chỉ thì tâm tịch
tĩnh, rất ít có giới hạn đối với định tịnh của hữu
tâm.
- Bảy,
Hiện pháp lạc trú (dṛṣṭa-dhama-sukha-vihara), có nghĩa là
tu tập thiền định, lìa tất cả mọi vọng tưởng, thân
tâm vắng lặng, hiện thọ cái vui của pháp hỷ mà an trụ
không động, tức là đối với đời hiện tại chúng ta hưởng
thọ pháp lạc của định, nhờ vào tịnh định, vô lậu định
này, chúng chỉ giới hạn đối với bốn định căn bản của
sắc giới thôi.
Định
có hai loại: Một, là sinh đắc định, là nếu ai sinh ở sắc
giới, vô sắc giới, nhờ vào nghiệp lực đời trước tự
nhiên có được định địa này (hai cõi này còn gọi là định
địa). Hai, tu đắc định, tức là chúng sinh sinh vào cõi dục
giới (nơi này gọi là tán địa), hành giả phải tu tập,
định mới phát sinh. Hai định này hành giả ở trong định
sắc giới thì gọi là sanh tịnh lự, hay định tịnh lự;
còn ở trong định vô sắc thì gọi là sanh vô sắc hay định
vô sắc.
Giai
đoạn mà hành giả nương vào nội dung của định để tu
hành thì chúng ta có thể chia ra là nhiều loại. Theo tông Câu
Xá thì chia ra là hai: Một, hữu tâm định. Hai, vô tâm định.
Hữu tâm định bao gồm cả bốn tịnh lự (tứ thiền, tứ
sắc giới định) cùng với tứ vô sắc giới định hợp lại
gọi là bát định hay còn gọi là bát đẳng chí.
Tứ
tịnh lự, tức chỉ cho Sơ tịnh lự, đệ nhị tịnh lự,
đệ tam tịnh lự, đệ tứ tịnh lự. Ở sơ tịnh lự hành
giả trừ được ngôn ngữ nói năng, đệ nhị tịnh lự trở
lên hành giả trừ được tầm, từ, ưu, khổ, hỷ, lạc cùng
các thọ. Hơn nữa khi hành giả ở trong sơ tịnh lự thì hai
thức của mũi và lưỡi không còn nữa sang đệ nhị tịnh
lự trở lên thì năm thức bắt đầu không còn nữa.
Tứ
vô sắc giới định gồm có: Một, không vô biên xứ định,
ở đây hành giả diệt trừ được sắc tưởng hữu đối
(có đối tượng) có thể nhận thấy được do sự hòa hợp
của nhãn thức cùng sắc tưởng hữu đối có thể nhận thấy
nhờ vào sự hòa hợp của bốn thức tai, mũi, lưỡi, thân
và cuối cùng là sắc tưởng vô đối (không có đối tượng,
vô biểu sắc) không thể nhận thấy do sự hòa hợp của ý
thức mà nhập vào tưởng hư không của vô biên. Hai, Thức
vô biên xứ định, ở đây hành giả xả bỏ duyên không bên
ngoài, chỉ còn duyên vào tâm thức để đi vào thức hành
của vô biên. Ba, vô sở hữu xứ định, ở đây hành giả
chán ghét và lìa cái khổ của tất cả mọi duyên rộng lớn
của thức xứ, diệt trừ luôn thức tưởng, tạo lập hành
tướng vô sở hữu. Bốn, Phi tưởng phi phi tưởng xứ định,
còn gọi là Phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ định, ở đây
hành giả lìa bỏ luôn hành tướng vô sở hữu, tri kiến được
đặt về một hướng duy nhất là phi tưởng (không còn tưởng
thô nữa) và cứ như vậy tiến lên đến lúc xả bỏ hành
tướng của phi tưởng nữa luôn, để đạt được phi phi
tưởng, ở đây chỉ còn có tưởng vi tế mà thôi.
Trong
bát định thì giai đoạn hành giả đã nhập vào định cùng
giai đọan chuẩn bị tiếp cận định thì thời gian nhập
vào định gọi là căn bản định hay còn gọi là căn bản
đẳng chí, giai đoạn chuẩn bị tiếp cận gọi là giai đoạn
cận phân định, song giai đoạn trước sơ tịnh lự thì không
thể gọi là giai đọan cận phận định (gần phần định)
được mà được gọi là vị chí định (chưa đến được
định), nên có ít nhất là bảy cận phận định. Hơn nữa
giai đoạn trung gian cận phận định giữa sơ tịnh lự và
đệ nhị tịnh lự được gọi là trung gian định, hay là
trung gian tịnh lự, nếu như tu tập định này (định trung
gian), tức là sẽ sinh về cõi trời Đại Phạm. Trong đệ
tứ tịnh lự từ hạ, hạ phẩm cho đế thượng, thượng
phẩm, trong đó có cửu phẩm, thượng, thượng phẩm là định
tối cao trong sắc giới định, được gọi là biên tế định.
Các
bát căn bản định, bảy cận phận, trung gian và vị chí đã
nêu lên ở trên chỉ hữu vô của tầm, từ v.v… phân lại
thành ba loại Tam-ma-địa. Tầm, là chỉ cho tầm cầu lựa
chọn, nhưng tác dụng tinh thần vẫn còn thô tạp; trong khi
Từ chỉ cho quán sát tư duy, nên tác dụng tinh thần của nó
là vi tế sâu xa. Ba loại tam-ma-đĩa là: Một, tam-ma-địa có
tầm có từ của vị chí định cùng sơ tịnh lự, tức là
định có giác có quán. Hai, Tam-ma-địa không tầm, không
từ của trung gian định, tức là định không giác không quán.
Ba, tam-ma-địa không tầm không từ của đệ nhị tịnh lự
cận phận trở lên, tức là định không giác không quán, đó
gọi là ba loại định, hoặc gọi là ba tam-ma-địa, hay ba
tam-muội.
Do
tính chất của định nên có thể phân định ra làm ba: Một,
vị định. Hai, tịnh định. Ba, vô lậu định.
1/
Vị định, còn gọi là vị đẳng chí, định này cùng tương
ưng với tham ái phiền não khởi lên đắm vị ái lạc đối
với định của tịnh định niệm trước, thuộc bát căn bản
định cùng trung gian định.
2/
Tịnh định, còn gọi là tịnh đẳng chí, định này tương
ưng với tâm thiện hữu lậu mà khởi lên định. Trong định
này cò phân ra là bốn cấp bậc: (1) Thuận thối phân định,
là thuận theo phiền não địa mà sinh khởi vị định. (2)
Thuận trụ phân định, là thuận theo tịnh định địa. (3)
Thuận thắng tiến phân địa, là thuận theo tịnh định thượng
địa. (4) Thuận quyết trạch phân định, là thuận theo trí
vô lậu mà khởi lên định vô lậu. Tịnh định này ở trong
vị chí định, trung gian định, thất cận phân định, bát
căn bổn định đều sinh khởi.
3/
Vô lậu định, còn gọi là vô lậu đẳng chí, là nơi nương
vào của các bậc Thánh để đạt được định trí vô lậu.
Định này vẫn còn câu hữu với vị chí định, trung gian
định, tứ căn bản định, phần dưới ba vô sắc định,
là để đoạn trừ các phiền não còn sót lại, phần này
tác dụng của nó rất mạnh.
Định
hữu tâm lấy chỉ và quán phân ra làm hai phẩm, mà phân thành
quân (bình) và không quân (bình). Vị chí định và trung gian
định, nếu đem chỉ và quán mà so sánh thì tác dụng của
quán là thù thắng, tức phẩm quán tăng, phẩm chỉ giảm;
còm tứ định vô sắc thì chỉ thù thắng, tức phẩm quán
giảm, còn phẩm chỉ tăng; chỉ có bốn phẩm định căn bản
của sắc giới thì chỉ và quán đều bình đẳng, hòa hợp
cùng chuyển vẩn, cho nên gọi là tịnh lự. Ngoài bốn định
vô sắc thì chỉ và quán cũng không được quân bình đồng
hành v ới nhau, cho nên gọi chung là định.
Căn
cứ vào Du-già sư địa luân 30 thì lấy phẩm Xà-ma-tha (chỉ)
làm chỉ tức là nhiếp tâm ngưng tụ vào một chỗ, dùng phẩm
Tỳ-bát-xá-na (quán) làm quán, tức là dùng tuệ lựa chọn,
quán sát mọi đối tượng cảnh giới rồi dựa vào phẩm
Xà-ma-tha mà khởi lên.
Phẩm
Xa-ma-tha phân thành chín loại trụ tâm: Một, nội trụ, còn
gọi là linh trụ, tối sơ trụ, tức là nhiếp thu nương vào
tất cả mọi cảnh duyên bên ngoài, xa lìa tâm tán loạn bên
trong, mà khiến cho tâm mình chấp chặt vào cảnh. Hai, đẳng
trụ hay là chánh niệm trụ, là nhiếp tâm vào cảnh động
mạnh, khiến tâm mình trụ khắp các cảnh vi tế. Ba, an trụ,
hay là phú thẩm trụ, là xa lìa tán loạn cùng thất niệm,
đem tâm ỉnh trụ vào cảnh bên trong. Bốn, cận trụ, còn
gọi là hậu biệt trụ, là gần gũi niệm trụ, nên lúc nào
cũng tác ý.. Năm, diều thuận, còn gọi là diều nhu trụ,
là đem tâm điều phục không cho tâm tan loãn. Sáu, tịch tĩnh,
còn gọi là tịch tĩnh trụ, thường thấy cái ác tần từ
sâu xa, cùng lỗi lầm của tùy phiền não, cho đến đem tâm
nhiếp phục. Bảy, tối cực tịch tĩnh, còn gọi là hàng phục
trụ, là chế phục do mất chánh niệm mà hiện khởi tầm
từ ác cùng tùy phiền não. Tám, chuyên chú nhứ thú, còn gọi
là công dụng trụ, là nhờ công lực mà định lực được
tương tục. Chín, đẳng trì, còn gọi là bình đẳng nhiếp
trì, hay nhậm vận trì, là từ nơi nhận duyên tu tập luôn
luôn, khiến cho định tâm của dụng vô công chuyển vận liên
tục.
Phẩm
Tỳ-bát-xá-na phân làm bốn loại tuệ hành: Một, chánh tư
trạch, còn gọi là giản trạch chư pháp, dùng tư trạch phân
biệt tịn h hạnh chỗ duyên của bất tịnh, từ bi, duyên
khởi, giới giữ ngưng niệm, năm loại cảnh, khéo leo tích
hợp mọi duyên, giới, xứ, duyên khởi, xứ, phi xứ, năm loại
cnha3, tịnh hoặc chỗ duyên các pháp sai biệt của đạo đời
và đọa xuất thế. Hai, tối cự tư trạch, đối trong các
pháp sai biệt tư trạch thật tánh bình đẳng. Ba, châu biến
tầm từ, là nương vào tác ý phân biệt giữ lấy tướng
các pháp mà biến tầm từ. Bốn, tư biến tư sát, còn gọi
là châu thẩm quán sát, là rõ hết mọi cảnh sở duyên truy
cầu.
Đinh
vô tâm chia làm định vô tưởng và định diệt tận, quân
bình là định diệt trừ tâm, tâm sở; định vô tưởng liên
hệ với phàm phu cùng ngoại đạo, họ ngộ nhận rằng trạng
thái vô tưởng là chân Niết-bàn nên họ đã tu tập định
này. Còn định diệt tận thì liên hệ đến các Thánh giả,
họ đem cảnh giới định làm tĩnh của cõi vô dư Niết-bàn
mà tu tập định. Ngoài vô tưởng định ra, tứ thiền, tứ
vô sắc, diệt tận v.v…. chín định, không mắc dị niệm
gián tạp mà thuận theo thứ tự đó tu hành có được sở
đắc, cho nên còn gọi là cửu thứ đệ định vô gián thiền.
Nhưng đối với A-la-hán giải thoát không cần thời gian mà
định lực được tự tại, nương vào tứ thiền, tứ vô
sắc, bát định, hành giả có thể siêu việt một địa, định
tu có được một tầng gọi là siêu đinh, hay siêu đẳng chí,
hay siêu tam-muội.
Theo
Câu xá luận 28 thì hành giả tu tướng của bát định pha65nh
ra làm hai loại hữu lậu và vô lâu.. Nhưng y cứ vào Du-già
sư địa luận 31 thì gia hành của nhập định có chín loại:
Một, tương ưng gia hành, là đối với tham hành giả siên
tu bất tịnh quán; đối với sân, hành giả siêng tu từ bi
quán; đối với si, hành giả siêng tu duyên khởi quán; đói
với kiêu mạn, hành giả siên tu giới (cõi) sai biệt quán;
đối với tầm, tư, hành giả siêng tu giữ ngưng niệm. Hai,
xuyến tập gia hành, là luôn luôn siêng tu tập chỉ và quán.
Ba, bất hoãn gia hành, là thường thích xa lìa, tu tập cần
mà không dám trì hoãn. Bốn, vô đảo gia hành, là nương vào
pháp cùng nghĩa mà không đắm chấp vào kiến thủ của mình.
Năm, ứng thời gia hành, là biết rõ tướng cùng lúc tu của
chỉ, quán, cử, xả,, v.v… Sáu, giải liễu gia hành, là đối
với trước sau cùng chỉ, quán, cử, xả, biết rõ ràng,
chứng đắc nhập, trụ, xả của định đều tự tại. Bảy,
vô yểm túc gia hành, là đối với tiểu định không thối
lui, tiến lên cầu pháp thượng thắng. Tám, bất xả ách gia
hành, không khiến tâm mình chạy theo ngoại cảnh mà nổ lực
điều hòa nhu nhuyến. Chín, chánh gia hành, là đối với cảnh
sở duyên luon luôn phát khởi hiểu nhiều hơn. Nhờ tu tập
chín loại gia hành này thì có thể khiến tâm mau chóng
đạt định; nếu theo thứ tự tu tập rồi cùng tác ý, thắng
giải tác ý, quả cứu cánh gia hành tác ý cùng bảy loại
tác ý thì sẽ chứng nhập được sơ tịnh lưu địa. Hơn
nữa, người tu định nên xa lìa bốn loại chướng ngại:
Một, chướng khiếp nhược, là không hy vọng giải thoát.
Hai, chướng cái phú, là chỉ cho dục tham, sân, nhuế, hôn
miên, trạo hối, nghi. Ba, chướng tầm, từ, à nhiễm ô của
tầm từ dục … Bốn, chướng tự cử, là tri kiến cử cao
hạ liệt. Ngoài những chướng này ra thì chánh nghĩa của
Thuyết nhứt thiết hữu bộ lấy dục giới làm tán địa
chứ không phải tu địa, lìa dục địa. Định địa
chỉ thuộc trong sắc giới và vô sắc giới. Theo các nhà Đại
chúng bộ thì ở trong dục giới cũng có định.
Theo
Pháp giới thứ đệ quyển hạ thì, Thiền có thế gian thiền
(hữu lậu định), xuất thế gian thiền (vô lậu định).
Thế
gian thiền là chỉ cho thiền định thực hành của người
thế gian, tức chỉ cho tứ căn bản thiền, tứ vô sắc định.
Xuất thế gian thiền có hai:
- Xuất
thế gian thiền gọi là nhị thừa cộng thiền gồm, lục diệu
môn, thập lục đặc thắng, thông minh, cửu tưởng, thập
tưởng, bát bối xả, bát thắng xứ, thập nhứ thiết xứ,
luyện thiền, thập tứ biến hóa, nguyện trí, đảnh thiền,
vô tránh tam-muội, tam mam-muội, sư tử phấn tấn, siêu việt
tam-muội, tam minh, lục thông v.v...
- Xuất
thế gian thượng thượng thiền, còn gọi là bất cộng thiền
như, tự tánh cùng cửu chủng đại thiền, thủ lăng nghiêm
cùng bách bát tam-muội, bất động cùng bách nhị thập tam-muội
v.v...
Định
được thuyết minh trình bày theo kin h điển Nguyên thỉ thì
nội dun g của định là lấy định học trong ba học, chánh
định trong Bát chanh đạo, toàn bộ đều nói đến bốn thiền
định: Một, sơ thiền, lìa các dục, lìa các pháp ác bất
thiện, có tầm, có từ, ly sinh hỷ lạc, rức đầy đủ sơ
thiền. Hai, đệ nhị thiền, tầm và từ đình chỉ, nội tâm
thanh tịnh, tâm thống nhất, không tầm, không từ, định sinh
hỷ lạc, đầy đủ nhị thiền. Ba, đệ tam thiền, lìa bỏ
tâm hỷ, nương lìa bỏ mà trụ, có niệm có chanh tri, thân
thọ lạc, “có xả có niệm mà trụ lạc”, đầy đủ đệ
tam thiền. Bốn, đệ tứ thiền, đoạn hết khổ vui, đã diệt
vui lo, nên không khổ không vui. NHờ nương xả mà niệm thanh
tịnh “xả niệm thanh tịnh” đầy đủ đệ tứ thiền.
Định
là chỉ cho trạng thái tin h thần an tĩnh thống nhất, nhưn
g phương pháp cho tâm ti4nyh thì, có rát nhiều trình độ không
đồng nhau, như tâm tĩnh thường hngay2 của dục giới thì
chưa phải là tâm tĩnh của tinh thần chân chánh, khi nào tinh
thần ở trạng thái thống nhất chân chánh mới gọi là định
căn bản, chúng thuộc về định của sắc giới và vô sắc
giới. Tứ thiền là định căn bản của sắc giới định;
đinh sắc giới nếu nếu đạt đến an tĩnh, tiếp cận với
trạng thái vô niệm, vô tưởng thì gọi là định vô sác
giới. Tóm lại, đinh của sắc giới và vô sắc giới là chỉ
trạng thái của tâm trong thiền định, như sắc giới bị
khu biệt vào trong tứ thiền, vô sắc giới cũng bị khu biệt
vào trong bốn giai đoạn không vô biên xứ, thức vô biên xứ,
vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ, đó là biểu
thị cho trạng thái an tĩnh từ từ trong thứ lớp.
Theo
các nhà Đại thừa thì, có rất nhiều thuyết nói về các
chủng loại định. Theo tông Duy thức cùng Du-già hành quán
của Mật tông, bốn loại tam-muội của Thiên thai tông, cùng
toa thiền của Thiền tông, tất cả đều lấy thiền định
làm nền tảng cơ bản thực tiễn trong phương pháp tu tập
của mình.
Riêng
Thiền của Thiền tông Trung quốc, Nhật bản, Việt nam cùng
Thiền-na (dhyāna) của Ấn dộ không đồng trên mặt ý chỉ,
nó không những chỉ định học trong ba học cùng Thiền Ba-la-mật
trong Ba-la-mật, mà trong ý chỉ toàn thể ba học cùng toàn
thể của lục Ba-la-mật về nội dung đều thống nhất. Vì
Thiền của Thiền tông không những chỉ thống nhất sự vắng
lặng của tâm, mà còn khai ngộ trí tuệ nữa. Mục đích Thiền
của Thiền tông là kiến tánh, tâm địa khai minh, dây cũng
là biểu thị của Thiền truy cầu ngộ nhập trí tuệ, nên
Thiền không còn là Thiền-na tư duy, tịnh lự nữa.
Theo
Đại thừa Nghĩa chương 11, các nhà Phật học đối với địa
sở y bốn thiện căn có nhiều thuyết khác nhau, như tôn giả
Đạt-ma-đa-la cho ra82g, dục giới không có định, nên bốn
thiện căn chỉ sắc giới là chỗ nhiếp, còn tôn giả Đàm-sa
cho rằng dục giới có sáu Thiền định, nên nương vào sáu
thiền định tu tập khởi lên bốn thiện căn và, Ma-ha Tăng-kỳ
bộ cũng chủ trương dục giới có thiền định nên bốn thiện
căn nhiếp đối với dục giới.
Y vứ
vào Nhiếp đại thừa luận thích 11, Thanh tịnh đạo luận
của Tiểu thừa thì lập ra 67 loại định và, Đại thừa
thì lập ra 500 định, mặc dù lập ra nhiều loại định như
vậy, nhưng chúng được bốn loại định Đại thừa quang
định, Tập phước đức định, Giám hộ định và Thủ lăng
nghiêm định tổng nhiếp tất cả. Vì bốn loại định này
chúng thông nghiệp cho tất cả các định, nương vào đó mà
tu tập mười Ba-la-mật, có thể khiến cho hành giả thành
thục Phật địa thanh tịnh.
Y cứ
vào Quán vô lượng thọ kinh, hành vãng anh Tây phương Cực
lạc có hai thiền định và tán. Thiện đạo Tịnh độ tông
đời nhà Đường chủ trương định thiện là đối với thiện
định tâm để làm mọi việc thiện, cũng là dừng nghỉ tạp
niệm; tán thiện là tán tâm để làm mọi việc thiện cũng
tức là bỏ tà t thiện. Hai cách này hợp lại gọi là hai
thiện định và tán. Hành giả nào tu tập hai pháp môn này
thì gọi là định cơ và tán cơ.
Qua
những trình bày ở trên về định, dù chúng mang nhiều hình
thức để tùy thuộc vào căn cơ hành giả, nhưng mục đích
của định học là khiến cho hành gỉa trước hết nắm bắt
hết mọi ách yếu cố lõi. Tùy theo căn cơ mà chúng ta học
và đem ra áp dụng chính nó vào cuộc sống. Dù là Tiểu hay
là Đại thì cốt lõi của thiền định là làm hành giả chuyên
tâm chăm chú vào một đối tượng nào đó, mà tinh thần chúng
ta không bị chi phối bỡi bất cứ một tác động nào khác
ngoài đối tượng đó; từ đây tâm hành giả phát sinh trạng
thái ngưng đọng tĩnh lặng, từ đó tâm trở nên thanh tịnh
và trong sáng; lúc này tâm trí tuệ hành giả tự phát sinh.
Thật ra, nếu về mặt hiện khởi của sát-na sinh diệt thì
định cũng chính là một hình thức của giới chứ không là
gì khác hơn, nhưng ở đây chỉ khác hơn, nhưng ở đây chỉ
khác trong chức năng làm thanh tịnh ba nghiệp. Bỡi định nghiệng
về việc thanh tịnh nghiệp ý nhiều hơn là giới, ngượ lại
giới nghiêng về thân khẩu nhiều hơn. Vì ở đây chúng tùy
thuộc vào thuộc tính của từng phạm trù nên có sự phân
chia như vậy mà thôi.
III
. TUỆ: Sanskrit gọi là prajñā,
Pāli gọi là paññā Trung Hoa dịch âm là Bát-nhã, có nghĩa
là suy lý là chỉ khả năng suy lý phán đoán mọi tác dụng
tinh thần đối với sự vật và lý tính; là tên của tâm
sở; là một trong bảy mươi lăm pháp theo Câu Xá luận, hay
là một trong một trăm pháp theo Duy Thức; là phần học cuối
của ba học. Vì Tuệ có khả năng thứ nhất là hiển lộ
bổn tánh xưa nay của chúng sanh, thứ hai có khả năng lựa
chọn đoạn trừ các loại phiền não vô minh và, cuối cùng
có khả năng thấy rõ thật tướng của chư Phật, cho nên
Tuệ thông cho cà ba tánh thiện, bất thiện và vô ký. Nếu
là ác tuệ thì gọi là ác kiến là nột trong năm kiến, nếu
là thiện tuệ thì gọi là chánh kiến, chánh tuệ.
Theo
Bát Thánh đạo thì tuệ chỉ cho chánh kiến và chánh tư duy.
Hành giả nào phụng hành Bát Thánh đạo thì không bao lâu
sẽ chứng đắc quả A-la-hán, tức là có khả năng đạt được
mười pháp vô học. Mười pháp vô học này ngoài tám pháp
vô học Bát Thánh đạo thì cộng thêm Chánh giải thoát và
Chánh trí thành ra mười pháp vô học. Hai pháp này cũng thuộc
vào tuệ học của vô học. Ngoài ra, nói theo tương đối thì
tuệ cùng với trí cùng chung danh, đối với tướng trí hữu
vi thì gọi là trí, nhưng đôi với lý không của vô vi thì
gọi là tuệ. Theo Câu xá luận 26 thì cũng nói tuệ được
chia ra hai loại hữu lậu tuệ và vô lậu tuệ. Loại tuệ
thứ nhất cùng với pháp phiền não tương quan mật thiết
với nhau không thể nào thoát ly được, chúng hổ tương quan
hệ ảnh hưởng lẫn nhau và tùy thuộc vào nhau mang tính chất
của trí hơn là tuệ nên chúng ta thường nghe đức Phật bảo
những người có đôi chút biện tài trong lý luận câu hữu
với vô minh, tuệ vô ngại tại thế gian gọi là thế trí
biện thông; còn loại tuệ thứ hai được gọi là Thánh tuệ
là do nhờ nghe pháp mà có được nên gọi là văn tuệ, hoặc
do nhờ tư duy khảo xét mà có được thì gọi là tư tuệ,
hay do tu tập theo pháp Phật mà có được thì gọi là tu tuệ;
ba loại này gọi chung là ba tuệ văn-tư-tu. Ba loại tuệ này
nếu đem cộng thêm với tuệ di truyền từ kiếp trước sinh
ra có được gọi chung tứ tuệ. Căn cứ vào Bồ-tát Anh Lạc
Bồn nghiệp kinh quyển thượng nói thì, trong giai đoạn Bồ-tát
hành trí tuệ có thể phân ra làm sáu loại tức là ba tuệ
văn-tư-tu cùng với vô tướng tuệ (đã chứng ngộ Không-vô
tự tánh), chiếu tịch tuệ (dùng tuệ của trung đạo quán
chiếu thấy lý trung đạo) và, tịch chiếu tuệ (là tịch
và chiếu không phải hai, định tuệ bình đẳng). Tùy theo
thứ lớp mà cùng với với sáu vị Thập trụ, Thập hành,
Thập hồi hướng, Thập địa, Dẳng giác, Diệu giác mà phối
hợp nhau trong thực hành. Ngoài ra, trong mười trí thì trí
ban đầu tức là thế tục trí thuộc về tuệ hữu lậu, còn
chín trí kia như Pháp trí, Loại trí, Khổ trí, Tập trí, Diệt
trí, Đạo trí, Tha tâm trí, Tận trí và Vô sanh trí là thuộc
về tuệ vô lậu.
Đứng
về mặt tác dụng của tuệ mà nói thì theo Câu Xá luận 26
tuệ có những tác dụng tùy thuộc vào mỗi thuộc tính của
các pháp mà có ý nghĩa tác dụng khác nhau như kiến, nhẫn,
trí. Kiến thuộc nghĩa so sanh lựa chọn, tức là tìm cách
so sánh tác dụng đúng sai của mọi sự vật. Nhẫn, có nghĩa
là chấp nhận, tức là xác nhận mọi sự vật tất cả là
như vậy. Tri, có nghĩa là quyết đoán, tức là chỉ cho tác
dụng quyết đoán hòan toàn dứt hết tâm nghi ngờ. Cũng theo
luận Đại Tỳ-bà-sa 42 thì, tuệ có khả năng phân biệt tự
tướng các pháp, cũng có khả năng phân biệt cộng tướng
của các pháp, nên có sự sai biệt từ Văn thành tuệ, Tư
thành tuệ, Tu thành tuệ cùng Sanh đắc tuệ.
Như
trên chúng ta đã biết tuệ cũng có nhiều giai đoạn để
chúng ta phân biệt từ thấp lên cao từ thế gian ra khỏi thế
gian, từ hữu lậu đến vô lậu vì thế dụng ngữ dành cho
tuệ cũng theo đó mà có tên gọi khác nhau. Thông thường tuệ
chúng ta thường gọi chung là trí tuệ. Trí tuệ này là mục
đích tối hậu của Phật giáo trong việc thực hiện giác
ngộ tuệ giác giải thoát. Không luận là ba học, hay mười
pháp vô học, sáu Ba-la-mật, điều đặt trí tuệ vào phân
vị cuối cùng. Tuy là vậy, nhưng trí tuệ vẫn được phân
ra làm nhiều cấp độ như trí tuệ hữu lậu của cõi dục
thế tục, trí tuệ sơ bộ của các bậc mới chứng ngộ,
trí tuệ của các bậc A-la-hán Thinh Văn, trí tuệ của các
bậc Bích chi Phật (Duyên giác), trí tuệ theo từng giai đoạn
của các cấp vị Bồ-tát, cuối cùng trí tuệ cao tột là
cùa các đức Phật. Như vậy tùy theo thuộc tính của từng
cấp bậc mà chúng ta hình dung được dụng ngữ của trí tuệ
như: Skrt: Prajñā, Pāli: Paññā, tuệ, trí tuê, Bát nhã; Skrt:
Jñāna, Pāli: Ñāṇa, Trí, trí tuệ, Xà-na; Skrt: Vidyā, Pāli:
Vijjā, minh; Skrt: Buddhi, giác; Skrt: Medha, tuệ; Skrt: Bhūri, quảng,
Quảng tuệ; Skrt: Darśana, Pāli: dassana, Kiến, nai-lại-xá-na;
Skrt: dṛṣṭi, pāli: Diṭṭhi, kiến; Skrt: vipaśyanā, Pāli:
vipassanā, quán, tỳ-bát-xá-na; Skrt: anupaśyanā, Pāli: anupassanā tùy
quán; Skrt: parijñā, Pāli: pariññā, biến trï Skrt: abhijñā,
Pāli: abhiññā, chứng trí, thần thông; Skrt: ajñā, Pāli: aññā,
liễu tri, dĩ tri, a-nhã; Skrt: samprajāna, Pāli: sampajāna, chánh
tri; Skrt: mīmāṃsā, Pāli: vīmaṃsā, quán, quán sát; Skrt: parīkṣā,
Pāli: parikkhā, quan, quan sát; Skrt: pratyavekṣaṇa, Pāli: paccavekkhaṇa,
quan sát; Skrt: dharma-vicaya, Pāli: dhamma-vicaya, trạch pháp; Skrt:
pratisaṃvid, Pāli: paṭisambhidā, vô ngại giải, vô ngại biện.
Ngoài những dụng ngữ dành cho cấp bậc tu chứng trên ra,
trí tuệ còn đem ra để làm thí dụ như: Skrt: cakṣu, Pāli:
cakkhu nhãn; Skrt: āloka, quang minh và, trí tuệ còn được
cụ thể hóa sự thể nghiệm qua Bồ-đề (Bodhi), giác,
đạo, tam-bồ-đề (sambodhi), chánh giác, đẳng giác. Đó tất
cả những thể hiện qua ngôn ngữ biểu trưng cho thuộc tính
từng chủng loại riêng biệt, nhưng chúng cũng biểu trưng
cho trí tuệ tùy theo từng thuộc tính của chúng; tuy nhiên
dụng ngữ mà chúng ta thường thấy dùng rất nhiều trong kinh-luật-luận
luôn là prajñā (pñāna) cùng jñāna (ñāṇa), hai từ này dịch
nghĩa là trí tuệ, đó là cách dịch xưa. Theo cách tân dịch
của ngài Huyền Tráng thì prajñā dịch là tuệ, jñāna dịch
là trí. Tuệ trong ba học, trong sáu ba-la-mật hay trong bát-nhã
ba-la-mật đều là tuệ cả. Tuệ (prajñā, paññā) là trí
tuệ mang ý nghĩa rộng lớn. Y cứ vào A-tỳ-đạt-ma thì tác
dụng của tuệ bao gồm có thiện, ác và vô ký trong tất cả
mọi nhận thức, thậm chí nó bao gồm cả liệt tuệ của
phàm phu hữu lậu cho đến tuệ tối cao của vô lậu. Bát-nhã,
về mặc nào đó trí tuệ của Bát-nhã được nhận thức
là trí tuệ tối cao, mà thật ra thì Bát-nhã chỉ là một
loại trí tuệ phổ thông, nhưng nếu cộng thêm từ Ba-la-mật
(pāramitā) vào thì mới thật sự trở thành tối cao, hoàn
toàn mang ý nghĩa trí tuệ của Bát-nhã Ba-la-mật. Trí (jñāna,
ñāṇa) chủ yếu được dụng lại từ hình dung trí tuệ
khai ngộ. Những loại tận trí, vô sanh trí, chánh trí đều
là trí tuệ của các bậc A-la-hán, còn trí ba-la-mật là trí
tuệ tối cao của thập địa Bồ-tát như Thành sở tác trí,
Diệu quang sát trí, Bình đẳng tánh trí, Đại viên cảnh trí
được gọi là Tứ trí, nếu cộng thêm với Pháp giới thể
tánh trí thì gọi là Ngũ trí, tất cả đều thuộc về trí
tuệ giác ngộ của Bồ-tát. Ngoài ra còn có ba trí là Nhất
thiết trí, Đạo chủng trí và Nhất thiết chủng trí, đây
là trí tuệ nói chung chỉ cho trí tuệ giác ngộ từ các vị
Thinh văn, Duyên giác, Bồ-tát cho đến quả vị Phật.
Về
mặt tác dụng của trí tuệ thì chúng ta có thể phân ra làm
hai loại: Hữu phân biệt trí (vsavikalpa-jñana) và vô phân biệt
trí (savikalpa-jñana). Hữu phân biệt trí là trí tuệ có chủ
ý nhận thức đến một đối tượng nào đó; còn Vô phân
biệt trí là trí tuệ là trí tuệ không có chủ ý nhận thức
đến đối tượng, mà nó cùng với đối tượng hợp lai là
một thể, là trí tuệ chứng ngộ tối cao. Vô phân biệt trí
là trí tuệ không của quán sắc tức không. Lý tưởng tước
tiên của phật giáo là trong lý luận, bằng cách nào để
làm sáng tỏ qua nhận thức mọi người biết rằng tất cả
các pháp là không ngã, không có tự tánh; tiếp đến là quán
chiếu đạo lý vô ngã không tự tánh này, tức là phải dùng
thái độ không chấp trước không chỗ được, từ đó biến
hoạt động thường nhật của mỗi chúng ta thẻ hiện trong
công việc vô ngại tự tại. Không dụng lực, nên tâm tự
tại vô ngại, tự nhiên như pháp, đó chính là chính là sự
thể hiện trí tuệ của pháp nhĩ tự nhiện của vô phân biệt
trí. Đây là trí tuệ tối cao còn gọi là Đại trí Bát-nhã
Ba-la-mật.
Trí
tuệ tối cao vô phân biệt này chỉ có đức Đạo sư cùng
các vị Bồ-tát mới đạt được, nó được thể hiện trong
việc cứu giúp chúng sanh trong ba đường khổ qua lòng từ
bi. Tuy là vô phân biệt trí, nhưng lúc này trí vô phân biệt
bao gồm có cả trí phân biệt lấy chúng sanh làm đối tượng
để giác sát cứu tế. Ở đây chúng ta nếu bảo hai loại
trí hữu phân biệt và vô phân biệt là khác chũng không được
mà bảo là hai cũng không được mà chúng là bất nhị, bất
nhất, cho nên có chỗ gọi là hữu phân biệt hậu đắc trí.
Theo
Lục Ba-la-mật mà nói thì năm Ba-la-mật đầu: Bố thí, trì
giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định là tác dụng của
hoạt động hữu phân biệt hậu đắc trí cũng gọi là phương
tiện (upāya) phát xuất từ lòng từ bi; còn trí tuệ (Bát-nhã=
prajñā) thuộc về phạm vi hoạt động của vô phân biệt
trí. Hay phần trước lục Ba-la-mật được gọi là đại bi
của hạ hóa chúng sinh, còn phần sau được gọi là đại
trí của thượng cầu Phật đao. Ở đây hoạt động trí tuệ
đại trí, đại bi chính là là hoạt động lý tưởng Bồ-tát
hành của Phật giáo.
Theo
Phật pháp khái luận tiết ba chương mười tám của ngài Ấn
Thuận thì, thật chứng của vô lậu tuệ có được phải
nhờ vào ba hữu lậu tuệ của văn-tư-tu làm phương tiện
để dẫn khởi. Nếu không văn-tư thời không thể nào dẫn
khởi để có tu tuệ được; tức là nếu không có chúng thì
không thể đạt được vô lậu tuệ. Theo Tạp A-hàm 30
kinh 843 đức Đạo sư đã từng dạy về bốn dự lưu phần
(nhập lưu phần) gồm có: thân cận thiện nam tử, nghe chánh
pháp, bên trong tư duy chân chánh, hướng đến pháp và thứ
pháp hướng. Ở đây theo Thầy mà khởi lên ba tuệ nghe-tư-tu
thì mới có khả năng chứng ngộ chân lý được quà dự lưu
Tu-đà-hoàn và, trong tiến trình tu tập phải theo thứ lớp
tuần tự từ dưới thấp lên cao, không thể vượt cấp được.
Tuy nhiên trong quá trình tu tập này cũng có thể phát sinh ra
những tệ nạn nếu không thực hành theo thứ lớp đúng pháp,
bỡi vậy cho nên đức Đạo sư mới dạy tứ y (catvāri pratisaraṇāni):
“Y pháp bất y nhơn, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa bất
y bất liễu nghĩa, y trí bất y thức.” Làm tiêu chuẩn trong
việc tu học cho các đệ tử của Ngài.
(1)
Mục đích của thân cận thiện tri thức là để nghe Phật
pháp. Nhưng thật ra tri thức không nhất định là thiện tri
thức không thôi mà còn có ác tri thức, nên khó bề mà chúng
ta phán đoán phân biệt được thiện và bất thiện. Vì pháp
của Phật lưu truyền trải qua quá lâu dài theo chiều dài
lịch sử truyền bá, nên không thoát khỏi những sai lầm trong
nhận thức và những dị thuyết xâm nhập vào, hoặc do việc
truyền văn mất đi ý nghĩa sự thật và, cũng không thể bảo
chứng được sự truyền thọ có thể khả tín. Thiện tri
thức ở đây phải kinh qua sự thân cận tiếp xúc lâu ngày
để chúng ta nhận ra được những sự thật quanh cuộc sống
của họ được thể hiện. Từ đó chúng ta đánh giá được
những ưu khuyết của những lời nói và thực hành nếu không
đủ những tiêu chuẩn chân, ngụy của Phật lý mang lại qua
sự thân cận này. Hành giả khi tu tập nên y vào những giáo
pháp nào vừa khế cơ khế lý phù hợp với những lời dạy
của Phật thì chúng ta y vào pháp đó mà tu tập, còn đối
với cá nhân của những vị truyền đạt nếu phù hợp khế
cơ khế lý với pháp Phật thì dù người truyền dạy là phàm
phu tục tử, hay ngoại đạo mà họ nói ra lý của những lời
dạy đó khế hợp với chánh pháp thì chúng ta vẫn có thế
tín thọ phụng hành. Ngược lại những ai cho dù mang trong
người những hình thức đầu tròn, áo vuông, nhân danh
là đệ tử của bậc Thánh, hay tướng tốt đầy đủ như
thân Như lai; nhưng trong những lời thuyết giáo không khế
hợp với chánh pháp của Phật dạy thì chúng ta vẫn không
theo, không y chỉ vào họ, huống chi là những phàm phu tục
tử! Cho nên chúng ta phải y pháp bất y nhơn (dharma-pratisaraṇna
bhavitavyaṃ na pudgala-pratisraṇena). Theo kinh 05 phẩm Thinh
Văn, Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo về bốn đại
nghĩa của Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới. Tỳ-kheo nên biết,
nếu có Tỳ-kheo nào tụng kinh trì pháp, phụng hành cấm giới.
Vị ấy nói rằng: ‘Tôi có thể tụng kinh trì pháp, vâng
giữ cấm giới, học rộng nghe nhiều.’ thì hãy cùng Tỳ-kheo
kia thảo luận, chiếu theo pháp mà cùng thảo bàn về Khế
kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới. Nếu những điều được hiển
hiện ấy tương ưng với Khế kinh, tương ưng với Luật và
Pháp, khi ấy bèn thọ trì. Nếu không tương ưng với Khế
kinh, Luật, A-tỳ-đàm, thì nên trả lời: ‘Này bạn, nên
biết đây chẳng phải là những lời dạy của Như Lai. Mà
những lời bạn nói, chẳng phải gốc của chánh kinh. Vì tôi
thấy nó không tương ưng với Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm.’
Vì không tương ưng nên phải hỏi về sự hành trì giới.
Nếu không tương ưng với giới hạnh, nên nói với người
kia: ‘Đây chẳng phải là tạng của Như Lai!’ là phủ nhân
lại những lời đức Đạo sư đã dạy.
(2)
Mục đích của hành giả theo thầy là để nghe nhiều chánh
pháp huân tập nghĩa lý sâu xa ở đàng sau những lời dạy
của đức Phật, tức là chúng ta phải giữ lấy phần nghĩa
lý không giữa lấy phần hình thức văn tự, tùy theo nghĩa
lý chứ không tùy theo văn tự. Có nghĩa là từ trong ngôn ngữa
văn tự theo đó mà thể hội thật nghĩa của lời văn qua
người truyền đạt. Nói một cách chính xác là người tu
đạo phải nương vào trung đạo đệ nhất nghĩa mà y cứ,
chứ không nương vào hình thức văn tự bên ngoái mà y cứ
và chấp vào chúng cho là đi đúng đường. Nếu chúng ta một
mực chỉ coi trọng hình thức văn chương ngôn ngữ bóng bẩy
của ngữ âm mà xem nhẹ ý nghĩa của nó rồi chấp vào văn
sẽ hại nghĩa và, trở nên sai lầm cho bước đường tu tập
của mình thì không được, cho nên chúng ta học Phật, muốn
có kết quả thì phải y nghĩa bất y ngữ (artha-pratisaraṇna
bhavitavyaṃ na vyañjana-pratisraṇena). Cũng Theo kinh
05 phẩm Thinh Văn, Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo
về bốn đại nghĩa của Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới.
Tỳ-kheo nên biết, nếu có Tỳ-kheo nào tụng kinh trì pháp,
phụng hành cấm giới. Vị ấy nói rằng: ‘Tôi có thể tụng
Kinh, trì pháp, phụng hành giới cấm, học rộng, nghe nhiều.›
Giả sử Tỳ-kheo ấy có nói những gì, cũng không nên thừa
nhận khi chưa đủ để dốc lòng tin tưởng. Nên cùng với
Tỳ-kheo kia luận nghĩa. Nếu tương ưng với nghĩa, thì nên
bảo người kia rằng: ‹Đây là nghĩa được nói, nhưng không
phải gốc chánh kinh.› Nên chọn lấy nghĩa đó, chứ
đừng nhận gốc chánh kinh. Sở dĩ như vậy là vì nghĩa là
căn nguyên để hiểu kinh. Đây gọi là gốc của đại nghĩa
được diễn thứ hai.
(3)
Nghĩa lý rốt ráo luôn tùy thuộc vào pháp tướng chân lý
mà nói, tùy thuộc vào căn tánh hữu tình mà nói, tức là
chúng ta đề cập đến liễu nghĩa kinh cùng bất liễu nghĩa
kinh. Trong ba tạng giáo điển có liễu nghĩa kinh và bất liễu
nghĩa kinh, vì ở đây đức Đạo sư dựa vào cạn cơ chúng
sanh mà thuyết về nhận quả cùng duyên khởi. Do đó hành
giả phải biết phân biệt và phân định đâu là thế gian,
đâu là xuất thế gian pháp? Đâu là kinh liễu nghĩa, đâu
là kinh bất liễu nghĩa? Và muốn giải thoát khỏi khổ thì
phải chọn và y cứ vào con đường trung đạo mà đi, đó
là liễu nghĩa thật tướng trung đạo, con đường chúng ta
nương tựa vào để đi đến giải thoát, chứ không dựa vào
bất liễu nghĩa kinh mà y cứ. Đây chính là y liễu nghĩa kinh
bất y bất liễu nghĩa kinh (nitārtha-sūtra-pratisaraṇna bhavitavyaṃ
na neyārtha-sūtra-pratisraṇena). Cũng Theo kinh 05 phẩm Thinh Văn,
Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo về bốn đại nghĩa
của Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới. Nếu có Tỳ-kheo nào
nói rằng: ‘Tôi tụng Kinh, trì pháp, phụng hành giới cấm,
học rộng, nghe nhiều.’ Nên nói với Tỳ-kheo kia về Khế
kinh, Luật, A-tỳ-đàm. Nhưng Tỳ-kheo kia chỉ hiểu văn tự,
chứ không hiểu nghĩa, nên bảo Tỳ-kheo kia rằng: ‘Chúng
tôi không rõ những lời này có phải là những lời được
thuyết bởi Như Lai hay không’ Giả sử khi thuyết Khế kinh,
Luật, A-tỳ-đàm chỉ hiểu vị, chứ không hiểu nghĩa. Tuy
nghe những gì Tỳ-kheo kia nói, nhưng cũng chưa đủ để khen
tốt, cũng chưa đủ để nói là dở. Lại phải đem giới
hạnh để hỏi. Nếu cùng tương ưng, thì nên chấp nhận.
Sở dĩ như vậy là vì giới hạnh cùng tương ưng với văn
tự, nhưng nghĩa thì không thể rõ. Đây gọi là nghĩa diễn
giải thứ ba.
(4)
Hướng đến pháp, thứ pháp huớng là nương vào tướng
phân biệt của vọng thức mà tu tập, bất luận là như thế
nào đi nữa thì hành giả chúng ta cũng không thể nào giải
thoát, không thể nào dẫn phát để cho chúng ta đạt
chánh trí vô lậu được. Vì ở đây chúng ta nương vào trí
chứ không nương vào thức trong việc tìm cầu chánh trí vô
lậu giải thoát, nên phải y cứ vào ly tướng, dùng trí tuệ
vô phân biệt mà tu tập mới có thể có sự hiểu biết chính
xác. Đây chính là y trí bất y thức (jñāna-pratisaraṇena
bhavitavyaṃ na vijñāna-pratisaraṇena). Cũng Theo kinh 05 phẩm
Thinh Văn, Tăng Nhất A-hàm, Phật dạy các Tỳ-kheo về bốn
đại nghĩa của Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm, Giới. Nếu có
Tỳ-kheo nào nói rằng: ‘Các Hiền giả có nghi vấn, hãy đến
hỏi nghĩa, tôi sẽ nói cho.’ Nếu Tỳ-kheo kia có nói gì cũng
chưa đủ để chấp nhận ngay, chưa đủ để phúng tụng.
Nên hướng về Tỳ-kheo kia hỏi về Khế kinh, Luật, A-tỳ-đàm,
Giới. Nếu cùng tương ưng, thì nên hỏi nghĩa. Nếu lại tương
ưng cùng nghĩa, thì nên khen ngợi Tỳ-kheo kia rằng: ‘Lành
thay, lành thay, Hiền giả, đây chính là nghĩa Như Lai đã nói,
không nhầm lẫn, tất cả đều cùng tương ưng với Khế kinh,
Luật, A-tỳ-đàm, Giới.’ Sở dĩ như vậy là vì ở đây
phù hợp với nghĩa lý trí vô lậu giải thoát, chứ không
phải nương vào hình tướng khác nhau của vọng thức phận
biệt. Đó là nghĩa diễn giải thứ tư. Qua tứ y mà đức
Đạo sư đã dạy lấy làm tiêu chuẩn trong việc tu học cho
các đệ tử của Ngài, tất cả đều y cứ vào trí tuệ vô
lậu tối hậu, để thực hành trong mục tiêu giải thoát của
mình.
Như
trên chúng tôi đã trình bày về tuệ nhân tu tập văn-tư-tu
để có được trí tuệ từ hữu lậu đến vô lậu giải
thoát, đó là chỉ cho nhân để sanh ra trí tuệ từ phương
tiện theo thứ lớp để có được, cộng với trí tuệ di
truyền từ nhiều đời nhiều kiếp trước đã huân tập dù
là trí tuệ gì đi nữa chúng cũng thuộc về trí tuệ hữu
lậu sinh tử nên sự có được của chúng phát sinh từ nhân
quả của mê lộ do tu tập mà hiện hành có được trong hiện
tại hay quá khứ, chứ không phải trí tuệ có được từ
ngộ tánh sinh ra để trở thành trí tuệ vô lậu giải thoát.
Về mặt tác dụng của trí tuệ thì chúng ta có thể phân
ra làm hai loại: Hữu phân biệt trí (vsavikalpa-jñana) và vô
phân biệt trí (savikalpa-jñana. Hữu phân biệt trí là trí tuệ
có chủ ý nhận thức đến một đối tượng nào đó; còn
Vô phân biệt trí là trí tuệ không có chủ ý nhận thức
đến đối tượng, mà nó cùng với đối tượng hợp lại
là một thể, là trí tuệ chứng ngộ tối cao.
Vì
trí Tuệ có khả năng thứ nhất là hiển lộ bổn tánh xưa
nay của chúng sanh, thứ hai có khả năng lựa chọn đoạn trừ
các loại phiền não vô minh và, cuối cùng có khả năng thấy
rõ thật tướng của chư Phật như trên đã nói. Đó là trí
tuệ Bát-nhã ba-la-mật là quả chứng thật tướng các pháp
của chư Phật và Bồ-tát, là trí tuệ vô lậu giải thoát
của các bậc thượng nhơn đã chứng ngộ, là trí vô phân
biệt. Trí tuệ tối cao vô phân biệt này chỉ có đức Đạo
sư cùng các vị Bồ-tát mới đạt được, nó được thể
hiện trong việc cứu giúp chúng sanh trong ba đường khổ qua
lòng từ bi. Tuy là vô phân biệt trí, nhưng lúc này trí vô
phân biệt bao gồm có cả trí phân biệt lấy chúng sanh làm
đối tượng để giác sát cứu tế. Ở đây chúng ta nếu
bảo hai loại trí hữu phân biệt và vô phân biệt là khác
cũng không được mà bảo là hai cũng không được mà chúng
là bất nhị, bất nhất, cho nên có chỗ gọi là hữu phân
biệt hậu đắc trí.
Ở
trên là những cách giải thích về thuộc tính của ba học,
qua đó cho chúng ta giũa chúng có những liên hệ mật thiết
và làm nhân duyên cho nhau để hoàn thành ba học. Nhưng nếu
ba học này mà hành giả phối hợp với Giải thóat và giải
thóat tri kiến thì sẽ thành “Ngũ phần pháp thân” Theo Đại
Trí độ luận 18, Câu Xá luận 24 thì Học được phân ra làm
ba cấp độ:
- Cấp
thứ nhất dành cho những hàng có học (Hữu học: Śaikṣa),
chỉ cho bốn hướng ba quả. Ở đây có Trí hữu học và Pháp
hữu học. Trí hữu học chỉ cho trí tuệ từ Khổ pháp nhẫn
cho đến trí tuệ kim cương tam-muội trung đạo vô ngại
hướng A La-hán thứ chín. Pháp hữu học chỉ cho pháp ngũ
uẩn hữu học của vô lậu hữu vi.
- Cấp
thứ hai dành cho không học (Vô học: aśaikṣa), chỉ cho quả
A-la-hán. Ở đây có Trí vô học và pháp vô học. Trí vô học
chỉ cho trí giải thóat của các bậc A-la-hán thứ chín. Pháp
vô học, chỉ cho pháp ngũ uẩn vô học của vô lậu hữu vi.
- Cấp
thứ ba dành cho chẳng học chẳng không học (Phi học phi vô
học: naivaśaikṣa-nāśaikṣa), chỉ cho hàng dị sinh (phàm phu).
Ở đây có trí chẳng học chẳng không học và pháp chẳng
học chẳng không học. Trí chẳng học chẳng không học chỉ
chi trí bất tịnh của càn huệ địa, An-na-ban-na, tứ
niệm xứ, pháp noãn, pháp nhẫn, pháp, pháp thứ nhất của
thế gian thuộc dục giới. Pháp chẳng học chẳng không học
chỉ cho pháp vô vi cùng ngũ uẩn của hữu lậu.
Tóm
lại, Ba học này chính là ba cương lĩnh thật tiễn của những
lời dạy đức Đạo sư căn cứ vào luật tắc cơ bản nhân
quả mà ngài thuyết minh về ba học: Nhân Giới sinh Định,
nhân Định phát Tuệ dành cho hành giả Thinh văn thừa khi tu
tập theo ba học này và, cũng từ trên cơ sở ba học này Ngài
triển khai rộng ra ba vô học dành cho Bồ-tát thừa như kinh
Trì Địa Bồ-tát quyển 10 dùng Lục độ để phối hợp với
Ba học thì bốn độ trước (Bố thí, Trì giới, nhẫn nhục
và Tinh tấn Ba-la-mật) thuộc về phạm trù Giới học, còn
Thiền Ba-la-mật thụôc về phạm trù Định học và, Bát-nhã
Ba-la-mật thuộc về phạm trù Tuệ học. Vì ba học này là
ba điều kiện ách yếu quan trọng của đạo Phật, là chỗ
quy về của tất cả mọi pháp môn, cho nên hành giả chúng
ta nên nổ lực học và thực hành tinh cần ba học này tùy
theo căn cơ của mỗi chúng ta trong việc mong cầu giải thóat
để tiến đến an vui vĩnh viễn.
02-11-2008
04:45:23