Pháp
Lục hoà là pháp được đức Đạo sư nói ra để dạy cho
các đệ tử xuất gia của Ngài lấy đó làm nên tảng căn
bản cho nếp sống cộng đồng Tăng đoàn trong hoà hợp hoà
kinh hạnh phúc và an lạc. Vì sáu pháp hoà kính này có năng
lực hoá giải tất cả mọi xung giữa cá nhân và cá nhân,
cộng động tập thể này và cộng đồng tập thể khác trong
cuộc sống chung đụng với nhau từ vật chất đến tinh thần,
nếu mất hoà khí, bất hoà với nhau thì cuộc sống của mọi
người trở nên địa ngục. Sự bất hoà là đầu mối đưa
đến xung đột đổ vỡ trong cuộc sống, là ung nhọt độc
cần phải được giải phẩu cắt bỏ đi, nếu không muốn
đưa đến chỗ đổ vỗ chia lìa tan rã. Trong một tập thể
cộng đồng Tăng lữ nếu muốn duy trì cuộc sống vô sự
thì trước hết phải vô hiệu hoá bản ngã cá nhân qua việc
tự kính trọng mình và kính trọng mọi người chung quanh và,
phát triển lòng từ đối với chính mình cùng mọi người.
Có như vậy mọi sự ái kính mới được phát triển và cuộc
sống tập thể mới mong trở nên an lạc và hạnh phúc được.
Đó là chúng tôi đề cập đến ý nghĩa pháp Lục Hoà đối
các hàng Thinh Văn cầu Bồ-đề, khi tu tập cần phải ái kính
lẫn nhau, chứ chưa đề cập đến Lục hoà theo ý nghĩa của
Đại thừa dành riêng cho các hàng Bồ-tát đối với chúng
sanh trong việc lợi tha không điều kiện. Sáu pháp hoà kính
này tuy các kinh luân nhiều nơi dùng từ khác nhau hay vị trí
sắp xếp cũng không giống nhau; nhưng trong ý nghĩa thì đồng.
Ở đây chúng tôi xin đưa ra sáu pháp Lục Hoà thông thường
đối với mọi người đã từng đọc qua, đã từng học rồi
cho chúng ta dễ tiếp nhận hơn theo Tổ Đình Sự Uyển thì
sáu pháp Lục Hoà là:
1.
Thân hoà cộng trụ, là trên phương diện sinh hoạt hằng
ngày trong một tổ chức, chúng ta cùng sống chung trong một
tập thể, thường nên chiếu cố giúp đỡ lẫn nhau.
2.
Khẩu hoà vô tránh, đứng trên phương diện giao tiếp chỉ
bảo qua ngôn ngữ lời nói lẫn nhau, luôn luôn thể hiện tinh
thần khuyến khích khuyên bảo cùng nhau làm thiện, dứt trừ
làm ác.
3.
Ý hoà đồng sự, là đứng trên phương diện tư tưởng,
lúc nào cũng tôn trọng và ái kính ý kiến người khác, nếu
tư tưởng ý kiến đó là đúng, còn nếu không thì hãy cùng
nhau bàn bạc cho ra lẽ và vui vẻ chấp nhận.
4.
Giới hoà đồng tu, là chúng ta cùng sống chung trong một
tập thể, lúc nào chúng ta cũng nên tuân thủ cùng nhau tu tập
theo giới luật chung đã được đặt ra.
5.
Kiến hoà đồng giải, là kiến giải có được về chân
lý, hay lý đạo đã thông xin chia sẻ cùng mọi người, cùng
nhau tu tập.
6.
Lợi hoà đồng quân, là tất cả mọi thứ của cải vật
chất có được từ sự hỷ cúng của các thí chủ, được
chia đều cùng nhau một cách bình đẳng một cách hợp pháp,
có nghĩa là bình đẳng trong đồng đẳng.
Đó
là sáu pháp hoà kính thông dụng mà chúng ta thường nghe thấy
hay thọ trì, nhưng nếu chúng ta cũng qua sáu pháp hoà kính
này mà theo các văn bản của các kinh luận khác thì chúng
ta thấy có sự sai khác về cách dụng ngữ cũng như cách sắp
thứ tự của sáu pháp trong mỗi bản văn mỗi khác nhau, có
lẽ đây là do sự san định sau này trong những kỳ kiết tập
kinh điển qua các bộ phái phát triển sau này để cho phù
hợp với quan điểm của họ mà thôi. Rất mừng là tuy khác
nhau trên mặt hình thức và vị trí sắp xếp, nhưng trong các
văn bản khác nhau này về nội dung thì không thay đổi; nếu
chúng có thay đổi đi chăng nữa thì nội dung đó cũng chỉ
khác nhau tuỳ thuộc vào các thuộc tính hành trình theo từng
căn cơ của hành giả mà thôi.
Vì
vậy cho nên ở đây chúng tôi sẽ trình bày một số ít văn
bản trong nhiều văn bản đại diện cho các trào lưu phát
triển từ nguyên thỉ cho đền các bộ phái sau nay và, trong
hiện tại chỉ còn đại diện hai bộ phái duy nhất là Tiểu
thừa và Đại thừa qua kinh luận sau đây.
Sáu
pháp hoà kính đầu tiên được đức Đạo sư nói ra qua tiêu
đề là Lục trọng pháp trong kinh Trung A-hàm 22, được đức
Đạo sư đem ra day cho Tôn giả A-nan và Sa-di Châu-na nhân hai
người đến để trình lên chỗ thấy nghe của Sa-di Châu-na
về trường hợp Thầy trò Ni-kiền Thân Tử, sau khi ông ta
mất đi và những cảnh tượng đau lòng giữa các đệ tử
của ông xảy ra. Sự phân hoá phát xuất từ những bản ngã
cá nhân được bừng nổ từ sự ần nhẫn dưới sự bao trùm
khép kin của sư phụ họ, những bản ngã cá thể được bùng
vỡ ra từ những ức chế tâm lý đã từng được họ cưu
mang thể hiện qua những hành động chống báng nhau, không
ai nghe ai! Ai cũng cho mình là nhất, sự ái kính lẫn nhau không
còn nữa. Họ tranh đấu, kiện tụng, cột trói nhau, thù nghịch
nhau, tranh luận với nhau rằng, “Ta biết pháp này, ngươi
không biết. Ngươi biết pháp sao bằng chỗ ta biết? Ta nói
tề chỉnh, còn ngươi không tề chỉnh. Ta nói phù hợp, còn
ngươi không phù hợp. Điều đáng nói trước, ngươi nói sau;
điều đáng nói sau ngươi lại nói trước. Ta hơn, còn ngươi
không bằng. Ta hỏi việc ngươi, ngươi không thể trả lời
được. Ta đã chế phục ngươi, ngươi còn hỏi nữa. Nếu
ngươi động thủ, ta sẽ cột trói ngươi lại.” Họ kiêu
mạn và thách đố lẫn nhau. Ai cũng chỉ mong mình nói hơn,
mà không có người nào để khiển trách. Những người bạch
y tại gia, đệ tử của Ni-kiền Thân Tử, thấy những cảnh
tượng như vậy, họ đều chán nản và lãng xa các đệ tử
của Ni-kiền Thân Tử này. Vì những điều các đệ tử của
Thầy họ nói ra đều là ác pháp luật, không phải là pháp
giải thoát, không đưa đến Chánh giác, cũng không phải là
lời dạy của Đấng Thiện Thệ. Nó là sự băng hoại, không
thể đứng vững, không nơi nương tựa và cậy nhờ. Bởi
vì bậc Thầy mà họ tôn sùng không phải là Như Lai, Vô Sở
Trước, Đẳng Chánh Giác.
Lúc
bấy giờ Sa-di Châu-na đã qua ba tháng an cư mùa mưa, sửa vá
lại y áo, rồi mang y cất bát đến thôn Xá-di, rồi qua phía
bắc thôn Xá-di, đến rừng Thi-nhiếp-hòa. Sa-di Châu-na đến
chỗ Tôn giả A-nan. Sau khi đến nơi, đảnh lễ sát chân Tôn
giả A-nan, rồi ngồi qua một bên đem việc này trình lên Đức
Đạo sư.
Đức
Đạo sư nhân cơ hội này dạy cho các học trò của Người
về bảy phương pháp đình chỉ mọi sự tranh cãi và pháp
lục hoà, là vì Ngài muốn học trò của Ngài luôn luôn phải
sống trong vô sự thể hiện qua sự ái kinh lẫn nhau trong cuộc
sống nên Ngài đã nhân việc mất hoà khí giữa các đệ tử
của Ni-kiền Thân Tử chia rẽ và phá hoại nhau sau khi ông
qua đời. Đức Đạo dạy về sáu pháp hoà kính như trong kinh
Trung A-hàm 52, kinh 196 Châu-na (T1n26, tr. 755b21) như sau:
“Này
A-nan! Nay ta nói cho ngươi sáu pháp ủy lao, hãy lắng nghe kỹ,
hãy khéo suy nghĩ kỹ.”
Tôn
giả A Nan bạch rằng:
“Kính
vâng, con xin vâng lời lắng nghe.”
Phật
nói:
“Thế
nào là sáu? Thân nghiệp từ hòa hướng đến các vị đồng
phạm hạnh, pháp ấy gọi là pháp ủy lao. Đó là pháp khả
ái, là pháp khả lạc, khiến cho tương thân, khiến cho tương
kính, khiến cho tương trợ, khiến cho cung kính, khiến cho tu
tập, khiến cho đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất
tâm, được sự tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Khẩu
nghiệp nói năng từ hòa, ý nghiệp từ hòa, cũng vậy.
“Có
lợi lộc nào đúng pháp mà nhận được, cho đến miếng cơm
ở chính trong bình bát của mình, với phần lợi như vậy,
mang chia xẻ cho các vị đồng phạm hạnh, pháp đó gọi là
pháp ủy lao, là pháp khả ái, pháp khả lạc, khiến cho tương
thân, khiến cho tương kính, khiến cho tương trợ, khiến cho
cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành
Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc
Niết-bàn.
“Nếu
có giới nào không bị sứt mẻ, không bị hư thủng, không
bị dơ, không bị đen, vững vàng như mặt đất, được Thánh
khen ngợi, đầy đủ khéo thọ trì. Với giới phần như vậy,
cùng chia xẻ với các vị đồng phạm hạnh, pháp đó là pháp
ủy lao, là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho tương
thân, khiến cho tương kính, khiến cho tương trợ, khiến cho
cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho đoàn kết, tác thành
Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự tinh cần, chứng đắc
Niết-bàn.
“Nếu
có kiến giải của Thánh có sự xuất yếu, được thông suốt
bằng tuệ kiến, đưa đến sự chân chánh diệt khổ, với
kiến phần như vậy, cùng chia xẻ với các vị đồng phạm
hạnh, pháp đó là pháp ủy lao là pháp khả ái, là pháp khả
lạc, khiến cho tương thân, khiến cho tương kính, khiến cho
tương trợ, khiến cho cung kính, khiến cho tu tập, khiến cho
đoàn kết, tác thành Sa-môn, tác thành nhất tâm, được sự
tinh cần, chứng đắc Niết-bàn.
“Này
A-nan, Ta vừa nói sáu pháp ủy lao, vì vậy mà Ta giảng giải.
Này A-nan, nếu các ngươi đối với sáu gốc rễ của tránh
sự mà đoạn tuyệt hoàn toàn, và với bảy pháp đình chỉ
tránh sự, khi trong Tăng chúng khởi lên tránh sự, thì chấm
dứt bằng luật đình chỉ tránh sự như quăng bỏ giẻ rách,
rồi lại thực hành sáu pháp ủy lao ấy, thì này A-nan, như
vậy sau khi Ta khuất bóng, các con sống cộng đồng hòa hợp
hoan hỷ không tranh chấp, cùng đồng nhất trong một tâm, cùng
đồng nhất trong một giáo pháp, hòa hợp như nước với sữa,
sống an lạc như lúc Ta còn tại thế.”
Qua
đoạn kinh mà đức Đạo sư đã dạy cho Tôn giả A-nan, về
mặt hình thức dụng ngữ có những sai hác và, cách sắp xếp
vị trí cũng không có sự đồng bộ nhất trí như Sáu pháp
hoà kính trong Tổ Đình Sự Uyển, nhưng về mặt nội dung
ý nghĩa thì không khác. Tuy những dụng ngữ trong mỗi văn
bản có sự khác nhau, nhưng cuối cùng cũng đưa đến sự
hoà kinh tôn trọng lẫn nhau trong một nếp sống tập thể
không thiếu lòng từ cho việc lợi tha về mọi mặt trong cuộc
sống: Đó là pháp khả ái, là pháp khả lạc, khiến cho mọi
người tương thân với nhau, khiến cho mọi người tương kính
với nhau, khiến cho mọi người cùng tương trợ với nhau qua
cuộc sống, khiến cho mọi sự tu tập tinh tấn hơn, khiến
cho cuộc sống nội bộ cùng chung một tập có sự đoàn kết
thân ái hơn, cũng là nhân đưa đến sự tác thành cuộc sống
Phạm hạnh của một Sa-môn, đưa đến nhất tâm và tinh cần
thật sự cho việc hành giả chứng đắc Niết-bàn. Qua sáu
pháp hoà kinh mỗi một pháp chúng tự có giá trị cho tự thân
chúng tuỳ theo từng thuộc tính một, nếu hành giả theo đó
mà thực hành đúng nhu lời đức Đạo sư đã dạy thì việc
chứng đắc Niết-bàn trước sau gì cũng sẽ đạt được.
Hay
cũng theo Kinh Tăng Nhất A-hàm 29 (Đ. 2, Tăng Nhất A-hàm 29,
Lục trọng pháp,tr. 0708c) thì đức Đạo sư dạy cho cá Tỳ-kheo:
“Các
ngươi hãy suy niệm sáu trọng pháp, kính trọng, tôn trọng,
và ghi nhớ mãi ở trong tâm không cho quên mất. Sao gọi là
sáu? Ở đây, Tỳ-kheo thân hành niệm từ, như soi gương thấy
hình mình, đáng kính, đáng quý, không để quên mất.
“Lại
nữa, khẩu hành niệm từ, ý hành niệm từ, đáng kính, đáng
quý, không để quên mất.
“Lại
nữa, được các thứ lợi lộc đúng pháp thì nên chia cho
các phạm hạnh cùng hưởng, không tưởng tiếc rẻ; pháp này
đáng kính, đáng quí, không để quên mất.
“Lại
nữa, có các giới cấm không hủ, không bại, cực kỳ hoàn
hảo, không sứt,
không
thủng, được bậc trí quí trọng, lại muốn đem giới này
được phân bố cho người khác cũng đồng một vị; pháp
này đáng kính, đáng quí không để quên mất.
“Lại
nữa, chánh kiến của Hiền Thánh dẫn đến xuất yếu; có
kiến giải như vậy, và muốn các vị phạm hạnh đồng tu
cùng đồng pháp này, cũng đáng kính, đáng quí, không để
quên mất.
“Này
Tỳ-kheo, đó gọi là có sáu trọng pháp này, đáng kính, đáng
quí, không để quên mất. Cho nên, này các Tỳ-kheo, hãy thường
xuyên tu tập các hành vi của thân, miệng, ý; nếu được
các thứ lợi dưỡng, cũng nên nghĩ phân đều cho nhau, chớ
khởi tưởng tham.” Kinh này tương đồng với Tăng Chi Bộ
kinh của Pāli qua sáu pháp Ủy lạo Pāli, (M 104 Sāmagāmasutta
(R. iii. 250): cha sārāṇīya-dhammā.)
Giữa
hai bản kinh Trung A-hàm và Tăng Nhất A-hàm về vị trí
theo thứ tự có sự thấng nhất, tuy những dụng ngữ không
giống nhau, nhưng về nội dung thì không khác. Sự khác nhau
trong dụng ngữ để khế hợp với từng căn cơ chủng loại
loại của trình độ người nghe mà đức Đạo sư phương
tiện giảng thuyết. Theo kinh Trung A-hàm thì trước khi Ngài
dạy cho Tôn giả A-nan và Sa-di Châu-na về Sáu pháp hòa kinh
thì, ngải đã nhân việc khởi lên tranh cãi nhau, bất hòa
nhau trong cuộc sống tập thể của các đệ tử ngoại đạo
Ni-kiền Thân Tử về bảy phương pháp để đưa đến việc
chấm dứt mọi việc tranh cãi bất hòa nhau trong cuộc sống,
đó chí là Bảy pháp diệt tránh và, sau đó mới dạy về
Sáu pháp hòa kính. Qua thời gian của hai bản kinh được đức
Đạo sư nói ra là khác nhau, nhưng nội dung ý nghĩa thì đồng
nhau trên cương vị đưa hành giả đến chỗ thanh tịnh hóa
ba nghiệp thân-khẩu-ý. Đây chính là một phương pháp vừa
tự độ và cũng vừa độ tha trong một cộng đồng sống
chung tập thể với nhau, qua việc tự hoàn thiện cá nhân mình
trong việc thanh tịnh hóa ba nghiệp của mỗi người và qua
đó cảm hóa được nhau qua sự giúp đỡ lẫn nhau trong việc
tấn tu đạo nghiệp cũng qua ba nghiệp, nhưng lệ thuộc vào
những hoàn cảnh sống chung quanh với bản thân cá nhân của
mỗi một cá thể được cụ thể hóa qua việc hòa đồng
cùng đem lại lợi ích cho nhau về vật chất cũng như tinh
thần qua giới hòa đồng tu, kiến hòa đồng giải và lợi
hòa đồng quân. Đó chính là những yếu tố cần thiết trong
một tập thể sống nếu muốn trở nên an lạc và hạnh phúc
ngay hiện tại.
Theo
A-tỳ-đạt-ma Tập Dị Môn Túc luận 15 gọi Sáu pháp hòa kinh
này là Sáu pháp khả hỷ và được Tôn giả Xá-lợi-phất
trình bày như sau:
“Sao
gọi là sáu? là nếu có Tỳ-kheo nào ở chỗ Đại sư cùng
người trí đồng Phạm hạnh, khởi nghiệp thân từ bi thì
đó gọi là pháp khả hỷ thứ nhất. Do pháp này nên có thể
phát ra đáng yêu (khả ái), có thể phát ra sự tôn trọng,
có thể phát ra vừa ý (khả ý), và cũng có khả năng dẫn
đạo khả ái, tôn trọng, khả ý, vui ý, nhiếp thọ mọi hoan
hỷ không trái không ngăn đi về một hướng.
Lại
nữa, nếu có Tỳ-kheo nào ở chỗ Đại sư cùng người trí
đồng phạm hạnh, khởi nghiệp khẩu từ bi thì đó gọi là
pháp khả hỷ thứ hai. Do pháp này nên có thể phát khởi khả
ái, nói rộng cho đến không ngăn đi về một hướng.
Lại
nữa, nếu có Tỳ-kheo nào ở chỗ Đại sư cùng người trí
đồng phạm hạnh, khởi nghiệp ý từ bi thì đó gọi là pháp
khả hỷ thứ ba. Do pháp này nên có thể phát khởi khả ái,
nói rộng cho đến không ngăn đi về một hướng.
Lại
nữa, nếu có Tỳ-kheo nào nhờ pháp thu hoạch được những
lợi dưỡng như pháp, thì những thức ăn có được từ những
bát thấp nhất cho đến những bát trung; những lợi dưỡng
này cùng những người trí đồng phạm hạnh cùng nhau thọ
dụng không được phân ra cất dấu, thì đó gọi là pháp
khả hỷ thứ tư. Do pháp này nên có thể phát khởi khả ái,
nói rộng cho đến không ngăn đi về một hướng.
Lại
nữa, nếu có Tỳ-kheo nào đã thọ trì giới có được, không
khuyết, không rỉ, không tạp, không nhơ, ứng cúng không chấp
thiện, cứu cánh thiện, nhận lấy những lời xưng tán không
hùy báng những người trí, đối với những giới như
vậy cùng người trí đồng phạm hạnh, cùng nhau thọ trì
không gì che dấu, thì đó gọi là pháp khả hỷ thứ năm.
Do pháp này nên có thể phát khởi khả ái, nói rộng cho đến
không ngăn đi về một hướng.
Lại
nữa, có Tỳ-kheo nào, những sở kiến có được, về đạo
xuất ly của các bậc thánh mà khéo thông đạt; hoặc khởi
công thực hành chúng có thể đạt đến chỗ hết khỏ. Đối
với những sở kiến như vậy cùng với các bậc trí đồng
phạm hạnh, cùng nhau tu tập không che dấu những sở kiến
của mình thì, đó gọi là pháp khả hỷ thứ sáu. Do pháp
này nên có thể phát khởi khả ái, có thể phát khởi tôn
trọng, có thể pháp khởi khả ý và, có khả năng dẫn đạo
khả ái, tôn trọng, khả ý cùng nhiếp thọp mọi hoan hỷ
không trái không ngăn hành giả đi về một hướng.”
Qua
lời trình bày của Tôn giả Xá-lợi-phất trong A-tỳ-đạt-ma
Tập Dị Môn Túc luận 15; đây là những gì chính Tôn giả
đã từng nghe đức Đạo sư dạy và được Ngài trình bày
lại nơi đây, về ý nghĩa không khác với Sáu pháp hòa kính
do Đức Đạo sư dạy, tuy trên mặt dụng ngữ là có khác
về cách sử dụng từ, nhưng về nội dung thì giống nhau về
việc tu tập ba nghiệp để trở nên thanh tịnh từ vật chất
đến tinh thần được kết hợp một cách nhuần nhuyễn trong
việc thể hiện qua cuộc sống tập thể Tăng đoàn, tạo nên
an lạc hạnh phúc trong đoàn kết thân thương hòa hợp đưa
đến nếp sống vô sự an lạc trong giải thoát cuối cùng.
Đó là những văn bản chúng tôi trích ra từ kinh điển đại
diện cho quan điểm của Tiểu thừa về sáu pháp hòa kính
cho thấy có sự đồng nhất trên theo thứ tự của Sáu pháp
này vê 2 hình thứ kể cả nội dung, tuy có việc sai khác trong
cách dụng ngữ của mỗi bản văn.; nhưng điều này không
ảnh hưởng đến nội dung tư tưởng. Dưới dây chúng tôi
sẽ đưa ra Sáu pháp hòa kính theo kinh điển của các nhà Đại
thừa trong nội dung tư tưởng và về cả cách thức sắp xếp
cùng cách sử dụng dụng ngữ nữa.
Theo
Đại Thừa Nghĩa Chương 12 thì ý nghĩa của Lục hòa kính
đồng đưa đến an lạc, không tạo nên phiền não, khởi lên
tạo tác không trái với an lạc nên gọi là hòa; vì lúc hành
giả thực hành hòa hợp đoàn kết trong cuộc sống luôn luôn
cần sự hiện hữu tác động của tình cảm lên nếp sinh
hoạt của chúng ta mới mong mang lại tình thân quý trọng lẫn
nhau. Sự bền vững của hòa hợp luôn phải được thể hiện
nơi lòng chí kính, nếu trong giao thiệp mà không có sự tôn
trọng chí kính lẫn nhau thì sự kết hợp đó sẽ đưa đến
sự tan vỡ. Cho nên sự thành công để đưa đên an lạc phải
có hòa và kính đi đội với nhau. Vì vậy cho nên được gọi
là Sáu pháp hòa kính. Theo Đại thừ Nghĩa chương thì: Một.
Thân nghiệp đồng, có hai: một cùng xa lìa tội lỗi, có nghĩa
là hành giả tu tập đồng xa lìa sát, đạo, tà dâm, …, hai
đồng tạo việc thiện, nghĩa là thực hành tất cả những
việc có liên quan đế thiện nghiệp, như lễ bái …
Hai, khẩu nghiệp đồng, cũng có hai: một cùng đồng xa lìa
tội lỗi, có nghĩa là tất cả đều xa lìa nói dối, hai lưỡi,
ác khẩu, thêu dệt. Hai, cùng đồng làm việc thiện, nghĩa
là cùng làm mọi công việc thiện như tán tụng, khuyến thiện
… Ba ý nghiệp đồng, cũng có hai loại: Một, cùng đồng
lìa tội lỗi, có nghĩa là cùng nhau lìa khỏi tất cả mọi
ý nghĩ về nghiệp phiền não ngay trong ý nghĩ. Hai cùng nhau
tạo việc thiện qua ý nghĩ, cùng nhau tu tín, tấn, niệm, định,
tuệ tất cả mọi pháp thiện. Bốn, đồng giới, cũng có
hai: Một, cùng đồng người thô giới như ngũ giới,
bát giới, mười giới … Hai, cùng đồng trì giới mà
mình đã thọ. Ở đây phân ra làm ba loại giới: Một nhiếp
luật nghi gới, hai, Nhiếp thiện pháp giới, ba, Nhiếp chúng
sanh giới. Năm, Đồng bố thí, cũng có hai: Một, nội thí
hòa đồng gồm những vât nhà mình, tự thân dùng để phụng
cấp cho việc tôn kính. Hai, ngoại thí hòa đồng, những tư
cụ có được ngoài nhà ra. thí này cũng được phân ra là
ba loại: Một, Tài thí hòa đồng, hai, pháp thí hòa đồng,
ba, vô úy thí hòa đồng. Sáu, Đồng kiến, là chỉ co kiến
giải có được, củng có hai loại: một, trong thế đế kiến
giải đồng nhất không khác. hai, trong chân đến có kiến
giải đồng nhất không khác. sựa sai khác ở đây chỉ có
trên măt sắp xếp theo thứ tự thì có khác với ba pháp hòa
kính sau và, trên cách dụng ngữ cũng có khác đối với kinh
điển Tiểu thừa; tuy nhiên về nội dung ý nghĩa thì không
khác, chỉ giải thích sâu rộng thêm về mặt ý nghĩa thôi.
Riêng
theo Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn phần cuối của quyển hạ
thì về mặt hình thức ba pháp dưới đổi lên trên và ba
pháp trên đổi xuống dưới và, trong các sử dụng dụng ngữ
cũng theo đó mà có sự sai khác; nhưng trên mặt ý nghĩa thì
đồng nhau. Ở đây chỉ có pháp thứ ba Đồng hành hòa kính,
không những khác nhau về dụng ngữ mà còn khác nhau về hiện
tượng. Trong các bản kinh văn khác đều lấy quả để nêu
lên ý nghĩa của háp hòa kính này, nhưng ở đây lấy nhận
đê làm tiền đề cho pháp này. tuy nhiên nếu đi sâu vào hơn
nữa thì giữa nhân và quả không khác nhau trên nghĩa cứu
cánh, do đó chúng cũng không ảnh hưởng cho lắm trong việc
tu tập cho hành giả nếu chúng ta thực hành đúng đường.
Theo Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn thì Sáu pháp hòa kính này
theo thứ tự như sau:
Một,
Đồng giới hòa kính, Bồ-tát thông đạt thật tướng các
pháp biết rằng tội bất khả đắc, vì muốn an vị chúng
sanh đối với lý thật tướng nên dùng Giới làm phương tiện
thiện xảo đồng với tất cả qua việc thọ trì các giới
phẩm mà mình đã thọ, không có nghịch trái và, cũng biết
rằng tất cả chúng sanh cùng đồng giới thiện này, không
đoạn không thường, đời vị lai ắt được quả lớn Bồ-đề,
Bồ-tát vì kính giới như Phật cho nên nói đồng giới là
hòa kính.
Hai,
Đồng kiến hòa kính, Bồ-tát thông đạt thật tướng các
pháp, đối các pháp không được không biết không thấy, vì
muốn an vị chúng sanh, đối với các pháp chánh kiến làm
phương tiện thiện xảo hòa đồng với tất cả. Mọi thứ
tri kiến không trái nghịch và, cũng nên biết rằng chúng sanh
nhân tri kiến nầy mà phân biệt được chánh kiến tà kiến;
tăng tiến giải mở, tất được chủng trí viên minh. vì kinh
tri kiến như Phật, cho nên nói đồng kiến là hòa kính.
Ba,
Đồng hành hòa kính, Bồ-tát thông đạt thật tướng các
pháp, vô niệm vô hành, vì muốn an vị chúng sanh đối với
thật tướng chánh hành nên dùng hành làm phương tiện thiện
xảo đồng với tất cả qua việc tu tập các loại hành, không
có nghịch trái và, cũng biết rằng tất cả chúng sanh cùng
đồng các hành này, không có trái nghịch, cũng nên biết rằng
chúng sanh đồng các hành này, dần dần tích tụ công đức,
tất cả sẽ thành phật đạo, Bồ-tát vì kính giới như Phật
cho nên nói đồng hành là hòa kính.
Bốn,
Thân từ hòa kính, Bồ-tát trụ vào vô duyên đại từ bình
đẳng, nhờ tu thân mình, căn lực hiền từ, có khả năng
không khởi diệt định, hiện các oai nghi, cùng vui với tất
cả, cho nên thân cùng với chín đường hòa đồng; cũng nên
biết rằng trước được vui chúng sanh, tất cả có tánh Phật,
đời vị lai ắt được thân kim cương. vì kinh thân như Phật,
cho nên nói thân từ là hòa kính.
Năm,
Khẩu từ hòa kính, Bồ-tát trụ vào vô duyên đại từ bình
đẳng, nhờ tu khẩu mình, căn lực hiền từ, có khả năng
không khởi diệt định, phát ra khắp tất cả mọi thứ âm
thinh ngôn ngữ, cùng vui với tất cả, cho nên miệng cùng với
chín đường hòa đồng; cũng nên biết rằng trước được
vui chúng sanh, tất cả có tánh Phật, đời vị lai ắt được
khẩu nghiệp vô thượng. vì kính khẩu như Phật, cho nên nói
khẩu từ là hòa kính.
Sáu,
Ý từ hòa kính, Bồ-tát tâm thường trụ vào vô duyên từ
tam-muội, nhờ tu tập ý, căn lực hiền từ, có khả năng
không khởi diệt định, hiện các tâm ý, cùng vui với chúng
sanh, cho nên ý cùng với chín đường hòa đồng; cũng nên
biết rằng trước được vui chúng sanh, tất cả có tánh Phật,
ý tàng Như Lai, đời vị lai ắt được tâm như tâm Phật,
vì kính ý như Phật cho nên nói ý từ là hòa kính. Qua Pháp
Giới Thứ Đệ Sơ Môn ngoài thứ tự Sáu pháp hòa kính ra,
đặc biệt Sáu pháp này dành cho các hàng Bồ-tát khi hành
Bồ-tát hạnh của mình lấy Sáu pháp này với mục đích là
để an vi chúng sanh, tức là sáu pháp này thể hiện nơi chính
bản thân các Ngài để làm gương cho mọi người tin theo qua
thân giáo cùng chính cuộc sống của quý Ngài qua hòa kính
trong cùng một cộng đồng vô duyên từ là yếu tố quan trong
đưa đến thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu ý và, khiến mọi
chúng sanh cũng đồng tội bất khả đắc, các pháp không được,
không biết, không thấy, vô niệm, vô hành. Đây chính là pháp
môn bất nhị của Sáu pháp hòa kinh dành cho các hàng Bồ-tát.
Do vì thuộc tính của đối tượng nên sáu pháp hòa kính theo
Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn ý nghĩa chúng sâu xa và vi diệu
hơn nhiều so với Sáu pháp hòa kính danh cho các hang tại gia
và Tiểu thừa; nhưng ý nghĩa sáu phap hòa kinh cứu cánh của
chúng vẫn đưa hành giả đến an vui giải thoát.
Tóm
lại, về ý nghĩa của pháp Lục hòa như phần đầu chúng
tôi đã trình bày và, theo đó chúng tôi đưa ra những bản
kinh văn thuộc hai hệ Tiểu và Đại Thừa để chúng ta thấy
rõ được những chỗ đồng dị của chúng; nhưng đó chỉ
là những đồng dị tùy thuộc vào thuộc tính của từng căn
cơ các loải hữu tình mà đức Đạo sư đã phương tiện
dạy cho chúng ta về cả hai phương diện khế cơ và khế lý,
nên dù có những khác nhau trong dụng ngữ hay kết hợp theo
thứ lớp không đồng bộ thì việc này cũng nằm trong việc
tùy duyên của Ngài lúc ra hóa đạo mà thôi. Mục đích là
giảng dạy cho các hàng đệ tử của Ngài trong nếp sống
cộng đồng, sống thế nào để đem lại an vui phúc phúc và
những điều kiện cần phải nổ lực thực hành những pháp
ấy cùng, sống thế nào để đưa đến oán đối tan rã, đưa
đến đau khổ lẫn nhau. Một tập thể Tăng lữ nếu muốn
duy trì cuộc sống vô sự trong một cộng đồng thì trước
hết phải vô hiệu hoá bản ngã cá nhân của mỗi người
qua việc tự kính trọng mình và kính trọng mọi người chung
quanh và, phát triển lòng từ đối với chính mình cùng mọi
người. Có như vậy mọi sự ái kính mới được phát triển
và cuộc sống tập thể mới mong trở nên an lạc và hạnh
phúc được. Qua đó Pháp Lục hòa được đức Đạo sư chỉ
dạy cặn kẽ cho các đệ tử của Ngài, từ tại gia cũng
như xuất gia qua việc thanh tịnh hóa ba nghiệp thân khẩu ý
là chính của mỗi cá nhân và những giải quyết mọi ràng
buộc trong sinh hoat hằng ngày trong từng tập thể qua việc
thể hiện lòng từ là chính trong việc hướng dẫn dìu dắt
nhau nhau tiến về đạo giải thoát.
02-11-2008
05:12:23