Đây
là bốn phương pháp thu phục, đưa chúng sanh hữu tình từ
vô minh phiền não trở về giác ngộ giải thoát, từ khổ
đau trở về an vui, từ sinh tử trở về Niết-bản, từ tà
kiến sai lầm trở về chánh pháp chánh kiến mà đức Đạo
sư dành dạy cho các hàng đệ tử của Ngài, nhất là đối
với các hàng Bồ-tát. Bốn phương pháp này khiến cho các
hàng đệ tử Thinh Văn Tiểu thừa và Bồ-tát Đại thừa sinh
khởi lên lòng thân ái, để hướng dẫn chúng sanh hữu tình
đi vào Đạo một cách dễ dàng và nhẹ nhàng nhất về cả
hai mặt tinh thần lẫn vật chất, đáp ứng và thõa mãn được
những nhu cầu tình cảm có được của họ mà diều dắt.
Ở đây, cả hai đều có lợi: một bên hoàn thành hanh nguyện
Bồ-tát của mình, một bên xa lánh được tà kiến vô minh
để trở về với chánh kiến giải thoát. Bốn phương pháp
này đều có trong các kinh luận Tiểu thừa và Đại thừa
như Trung A-hàm 33 Thiện Sanh kinh, Tạp A-hàm 26, Tăng Nhất A-hàm
22 và Thành thật luận … và kinh luân Đại thừa như Đại
Tập kinh 29, Đại phẩm Bá-nhã kinh 24, Phạm Võng kinh, quyển
thượng, A-tỳ Đạt-ma Tập dị môn túc luận 9, Đại trí
độ luận 66, 88, Đại thừa nghĩa chương v.v… Theo trong các
kinh luận này cũng tùy theo căn cơ mà đức Đạo sư chỉ dạy
cho các hàng đệ tử của Ngài. Tuy cũng có một vải chi tiết
sai khác nhau, nhưng trên đại thể đều đồng nghĩa, trong
cách thực hành dù là Tiểu thừa chỉ giới hạn trong giá
trị nhân quả phước báo để hoàn thành một kết quả tốt
đẹp cho chính mình và người, trong khi các hàng Bồ-tát thì
vượt qua khỏi giới hạn của nhơn quả trên mặt thực hành,
mà hạnh nguyện của các Ngài qua việc giác tha cần hoàn thành
trong vô nhân vô quả của hạnh Ba-la-mật. Bốn phương pháp
theo cách dịch thẳng của các nhà dịch thuật Trung hoa thi
Catvāri saṃgraha-vastūni là Tứ chủng bả-cá pháp, hay Tứ
nhiếp pháp, còn gọi là Tứ nhiếp sự, Tứ sự nhiếp pháp,
Tứ tập vật, hay gọi đơn giản là Tứ nhiếp, Tứ sự, Tứ
pháp. Bốn pháp đó là:
(1)
Bố thí nhiếp (dāna-saṃgraha)
(2)
Ái ngữ nhiếp (priya-vādita-saṃgraha)
(3)
Lợi hành nhiếp (artha-caryā-saṃgraha)
(4)
Đồng sự nhiếp (samānārthatā-saṃgraha)
1.
Bố thí nhiếp (dāna-saṃgraha),
dùng bố thí để thu phục, còn gọi là Bố thí nhiếp sự,
tức là bao gồm cả tùy thuộc vào phương tiện bố thí mà
thu phục và tùy theo phương tiện huệ thí mà thu phục, tức
là dùng tâm vô sở thí cho và nhận chân lý gọi là pháp thí
để thu phục, cùng với tâm vô sở thí cho và nhận của cải
tiền bạc gọi là tài thí để thu phục. Nếu có chúng sanh
hữu tình nào ưa thích của cải tiền bạc thì dùng tiền
bạc của cải vật chất mà ban cho; nếu ai ưa thích pháp thì
đem chánh pháp tinh thần mà ban cho họ, khiến cho họ khởi
lên tâm thân ái mà nương vào Bồ-tát mà chấp nhận đạo
lý giải thoát. Ngoải hai cách bố thí tài thí và pháp thí
ra còn có một loại bố thí khá quan trọng đối với tất
cả mọi loài chúng sanh hữu tình, đó chính là trao cho họ
sự không sợ hãi tức là vô úy thí đối trước cuộc sống;
bỡi vì sự hiện hữu của chúng sanh là một kết quả tất
yếu của vô minh tà kiến do nghiệp hoặc phiền não do con
người tạo ra, nên con người vô minh đối chính mình, vô
minh đối với mọi loài, vô minh đối với sự vật. Cũng
do từ vô minh này mà chúng sanh hữu tình sợ hãi trước cuộc
sống, sợ hãi trước mọi người, sợ hãi trước thiên nhiên;
từ sự sợ hãi này mà con người đẻ ra mọi thứ mê tín
dị đoan, tin trời, tin thượng đế, tin vào thần linh có quyền
ban phước giáng họa và làm chủ vận mệnh cuộc sống của
con người và, tự con người đánh mất chính mình vì vô minh
sợ hãi vô căn cứ này. Như trong Thanh tịnh đạo luận đức
Đạo sư dạy: "Không thể tìm ra một Tạo hóa, một Brahma,
hay một vị nào khác, làm chủ vòng luân chuyển của đời
sống. Chỉ có những hiện tượng diễn tiến tùy duyên!" Đó
chính là pháp mà Đạo sư đã đem lại lòng tin vô úy nơi
chính mình cho các đệ tử của Ngài; nếu ai đã thấu rõ
bộ mặt thật của các pháp qua định luật Duyên khởi thì
sẽ không còn sợ hãi trong cuộc sống nữa. Đây chính là
pháp vô úy thí cần cho các đệ tử của Ngài trong việc thu
phục chúng sanh đưa về chánh pháp giải thoát.
Ngoài
ba phương pháp bố thí để thu phục người là tài thí, pháp
thí và vô úy thí trên ra, còn có Báo ân thí nữa, đây là
một cách báo ân người khác đã có công đối với chúng
ta về mọi mặc, mà chúng ta đã mang ân nơi họ, chúng ta cần
thực hành bố thí mà báo ân cho họ. Chính việc bố thí này
cũng giúp cho chúng ta đưa người trở về với chánh pháp.
Đây cũng là đạo lý đền ơn đáp nghĩa, ăn trái hớ kẻ
trồng cây, ân oán phân minh theo đạo lý nhân quả làm người
của chúng ta theo hai chiều thi ân đền báo của ân và oán,
do đó cho phép chúng ta dùng bố thí để thu phục người đưa
về chánh pháp, nên ngoài ba cách trên chúng cộng thêm với
cách này nữa cho chúng ta có bốn cách bố thí để nhiếp
phục.
Ở
đây chúng ta cũng có thể đem Lục độ Ba-la-mật để phối
hợp với bố thí nhiếp của tài thí, vô úy thí và pháp thí
để phân bố theo thuộc tính của mỗi độ trong chức năng
thực hành Bồ-tát đạo trong đó Tài thí thuộc về Đàn-na
Ba-la-mật (dāna-pāramitā) của lục độ, khi hành giả đã
thực hành đến chỗ hoàn toàn ba luân không tịch người cho,
vật cho, người nhận trong việc bố thí thuộc tài vật; còn
Vô úy thí thì thuộc vào Trì giới Ba-la-mật (śīla-pāramitā),
cùng Nhẫn nhục Ba-la-mật (ksānti-pāramitā) khi hành giả hoàn
thành việc trì giữ luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới,
nhiêu ích hữu tình giới đến chỗ thanh tịnh được thân
tâm hành giả cùng hoàn thành việc tu tập nhẫn nại
oán-hại, an nhẫn chịu khổ, thấy rõ sự thật pháp nhẫn
có thể đối trị sân nhuế khiến tâm an tịnh của Lục độ
và, pháp thí là thuộc vào Tinh tấn Ba-la-mật (vīrāya-pāramitā),
Thiền định Ba-la-mật (dhyāna-pāramitā), Trí tuệ Ba-la-mật
(prajñā-pāramitā) khi hành giả hoàn thành được việc tinh
tấn cả hai thân và tâm siêng năng tương tục thân siêng tu
thiên pháp, tâm siêng hành thiện đạo, tâm tâm tương tục
tinh cần tu nhẫn nhục, thiền định cùng trí tuệ. Nhờ tinh
tấn mà hành giả đã đẩy lùi hết tất cả mọi giải đãi
biếng nhác sanh trưởng thiện pháp của Lục độ, cùng việc
hoàn thành thiền định, hiện pháp lạc trú tịnh lự, hiện
tại không còn loạn tâm nữa. giờ đây hành giả hoàn thành
trí tuệ, đạt được trí tuệ thế tục cùng duyên vào trí
tuệ thắng nghĩa, trí tuệ hữu tình mà trừ đi hết mọi
sự ngu si do vô minh di hại, cuối cùng biết rõ được thật
tướng của các pháp hoàn thành Lục Ba-la-mật.
Ở
trên là chúng tôi đem lục Ba-la-mật phối hợp với Bố thí
nhiếp. Tiếp theo chúng tôi sẽ phối hợp Thập địa với
Bố thí nhiếp pháp như trong Địa trì luận thì: Tứ nhiếp
pháp vốn thông khắp trong các vị của Thập địa được
phân ra tùy theo thuộc tính cùng ý nghĩa mà luận Trì
địa phân ra là địa thứ nhất của Thập địa, trước hết
là hành đàn lợi tha, tức là vì người mà thiết lập đàn
bố thí. Bố thí ở đây chỉ chỉ dành cho của cải vật
chất thuộc tài thí đem ra giúp đỡ ban cho những ai cần đến
của cải vật chất mà khiến cho mọi người được lợi
ích, nên làm cho việc Bố thí càng ngày càng tăng lên và,
nhờ tu pháp thí đối với mọi người mà làm cho ái ngữ
cũng tăng thêm.
Qua
Bố thí nhiếp cho chúng ta thấy rằng dức Đạo sư dạy cho
mọi người biết được là thế nào để nhiếp thọ thu phục
người khác để đưa họ vào đạo qua phương cách Bố thí
từ thấp lên cao, từ hữu lậu đến vô lậu, tùy thuộc vào
căn cơ căn tánh và những nhu cần cần thiết của mọi người
mà theo đó thực hiện Tứ nhiếp pháp dẫn dắt mọi người
vào đạo giải thoát cho những người đang cần việc bố
thí cho cả tinh thần lẫn vật chất.
2.
Ái ngữ nhiếp (priya-vādita-saṃgraha),
dùng lời nói từ ái để thu phục, còn gọi là Ái ngữ nhiếp
sự, là phương tiện có khả năng thu phục. Ái ngữ, ái ngôn
là phương tiện để thu phục, có nghĩa là y cứ vào căn tánh
căn cơ của chúng sanh bằng vào lời nói từ ái mà an ủi
phủ dụ, khiến cho họ khởi lên tâm thân ái mà chấp nhận
vào đạo giải thoát hay, khiến cho họ khi nghe những lời
nói từ ái tường thuật chánh giáo chánh lý đủ thu phục
mà dẫn họ đến chỗ khai ngộ chân lý. Ngoài lời nói từ
ái tốt đẹp làm vừa lòng người nghe, để thu phục người
đi vào đạo một cách vui vẻ và tự nguyện, mà lời nói
ra còn phải tránh xa và xa lìa những lời nói có lỗi thuộc
về khẩu nghiệp nữa, tức là không nói lời hư dối, không
nói lời thêu dệt, không nói lời nói thô ác, không nói lời
nói chia rẽ đâm thọc để gây chia rẽ thù hằn với nhau
đưa đến mất lòng tin đối với mọi người đối với chánh
pháp. Hai cách nói trên là hai cách nói làm vừa lòng và, thõa
mãn tình cảm cá nhân hữu tình, sẽ cảm phục được lòng
người để đưa về chánh pháp một cách rất hữu hiệu.
Ngoài
hai cách nói trên nhằm thu phục lòng người đưa về với
đạo, ở đây chúng tôi sẽ đem Lục độ Ba-la-mật phối
hợp với Ái ngữ nhiếp mà liệt kê theo chức năng thuộc
tính phù hợp với ý nghĩa của chúng qua tương ưng trong khi
hành giả thực hành Bồ-tát hạnh của mình thì Ái ngữ nhiếp
thuộc về Trì giới Ba-la-mật (śīla-pāramitā), cùng Nhẫn
nhục Ba-la-mật (ksānti-pāramitā), khi hành giả hoàn thành việc
trì giữ luật nghi giới, nhiếp thiện pháp giới, nhiêu ích
hữu tình giới đến chỗ thanh tịnh được thân tâm hành
giả cùng hoàn thành việc tu tập nhẫn nại oán-hại,
an nhẫn chịu khổ, thấy rõ sự thật pháp nhẫn có thể đối
trị sân nhuế khiến tâm an tịnh như vô úy thí và pháp thí
đã nói ở trên thì, ở đây ái ngữ cũng thuộc Trì
giới Ba-la-mật và nhẫn nhục Ba-la-mật. Vì Ái ngữ thuộc
về khẩu trong việ làm thanh tịnh khẩu nghiệp qua lời nói
của miệng ngoài lời nói từ ái như trên trong việc làm lòng
người thõa mãn bản ngã thu phục mọi người được thì
ở đây vấn đề làm thanh tịnh khẩu nghiệp nhân việc tránh
không nói lời ác khẩu, nói lời thêu dệt, nói lời nói đâm
thọc gây chia rẽ và nói lời hư dối làm phật lòng người
đi ngược lại tình cảm tự ái cá nhân qua những xúc phạm
của lời nói sẽ khiến cho lòng người thõa mãn được
tình cảm thì cũng đưa mọi người đi đến đạo được.
Ở
trên là chúng tôi đem lục Ba-la-mật phối hợp với Bố thí
nhiếp. Tiếp theo chúng tôi sẽ phối hợp Thập địa với
Bố thí nhiếp pháp như trong Địa trì luận thì: Tứ nhiếp
pháp vốn thông khắp trong các vị của Thập địa được
phân ra tùy theo thuộc tính cùng ý nghĩa mà luận Địa
Trì thì, trong mười địa, địa thứ hai trì giới kiên cố,
tức là xa lìa bốn lỗi lầm của miệng thì Ái ngữ sẽ tăng
thêm.
Qua
Ái ngữ nhiếp chúng cũng quan trong không kém gì Bố thí nhiếp.
Ở đây chúng có những giá trị thuộc thuộc tính ý nghĩa
của chúng mà qua đó lời nói được coi như là một công
cụ có công năng thu nhiếp mọi người quay về chánh đạo,
qua phương cách biết sử dụng, dụng ngữ làm sao cho thích
hợp với tâm lý mọi người, có nghĩa là lời nói không đi
ngược lại tình cảm lợi ích của mọi người thì, lời
nói đó có tính cách thiết phục lớn, vì: “Lời nói không
mất tiền mua, nên lựa lời nói cho vừa lòng nhau.”
3.
Lợi hành nhiếp (artha-caryā-saṃgraha),
dùng những việc làm lợi ta lợi người mà thu phục, còn
gọi là Lợi hành nhiếp sự, hay Lợi ích nhiếp, là tạo phương
tiện khiến cho người ta đi vào đạo, tạo phương tiện độ
thoát, đem lại lợi ích cho mình cho người, có nghĩa là tạo
thiện hạnh thân khẩu ý đem lại lợi ích cho mọi loài chúng
sanh, khiến cho họ sinh tâm thân ái mà đi vào đạo. Hay khuyên
mọi người tu tập theo chánh hành, hoặc hành thiện tự ba
nghiệp của chính mình khởi lên khiến cho mọi người cùng
nhau ân triêm lợi ích, tất cả những việc làm trên đều
gọi là lợi hành cả. Nhờ đây mà thu phục hướng dẫn được
mọi người khiến họ phát tâm vào thực hành đạo giải
thoát.
Ngoài
những hình thức hành lợi để nhiếp phục người vào đạo,
quay về với chánh pháp như trên ra, nếu ở đây chúng ta đem
hành lợi này phối hợp với Lục Ba-la-mật thì, theo chức
năng thuộc tính của pháp hành này, nó sẽ tương ưng với
tinh tấn Ba-la-mật (vīrāya-pāramitā) trong lục Ba-la-mật theo
hành pháp của Bồ-tát khi thực hành Lục Ba-la-mật. Vì khi
Bồ-tát muốn hóa độ chúng sanh trước hết là phải tự
lợi điều này chúng ta khỏi bàn, vì nếu tự bản thân của
Bồ-tát không hoàn thành sự nghiệp giải thoát của mình được
thì làm sao có thể hướng dẫn hay thu phục được người
khác theo về với chính Đạo mà mình đang thực hành và, sau
đó Bồ-tát mới thực hành hạnh nguyện độ tha của mình,
thu phục chúng sanh qua việc làm lợi người, có như vậy nguyện
lực của Bồ-tá mới được thành tựu những sở nguyện
được. Khi bồ-tát hành Bồ-tát đạo mà thiếu đi tinh tấn
thì dứt khoát sở nguyện của chúng ta không thành tựu. Trong
mọi phương pháp tu, nếu muốn đạt được kết quả tốt
đẹp mau chóng thì điều kiện tiên quyết của hành giả là
thực hành tinh tấn, nếu trong lúc tu hành mà chúng ta thiếu
đi sự tinh tấn tinh cần thì cho dù pháp tu đó dễ dàng đến
đâu đi nữa, kết quả cuối cùng sẽ không đạt được như
những mong muốn của chúng ta.
Ở
trên là chúng tôi đem lục Ba-la-mật phối hợp với Bố thí
nhiếp. Tiếp theo chúng tôi sẽ phối hợp Thập địa với
Bố thí nhiếp pháp như trong Địa trì luận thì: Tứ nhiếp
pháp vốn thông khắp trong các vị của Thập địa được
phân ra tùy theo thuộc tính cùng ý nghĩa mà luận Địa Trì
phân. Theo Bồ-tát Địa Trì kinh 3, hay luận Đại Trang Nghiêm
thì lợi hành có nghĩa là khiến cho mọi người đi vào phương
tiện, trước tiên trao cho họ chánh pháp, tức là chỉ dạy
họ thông hiểu những lời dạy của đức Đao sư, sau đó
hướng dẫn họ thực hành đúng chánh pháp và, nhờ họ thực
hành đúng chánh pháp mà họ ra khỏi được nơi bất thiện
trở về nơi thiện, tức là khiến mọi chúng sanh hữu tình
vượt qua khỏi sinh tử hiện chứng Niết-bàn an vui giải thoát.
Theo luận Địa-trì thì, trong mười địa của Bồ-tát, nếu
đem phối hợp với Lợi hành thì địa thứ ba sẽ tương ưng
với nó trong việc chúng sanh tu tập mười loại hạnh cứu
độ; vì cứu độ là thuộc tính của hành lợi, nên càng
cứu độ nhiều chứng nào thì lợi hành càng tăng trưởng
vượt bực chừng ấy. Lợi hành thuộc phạm vi hoạt động
lợi tha nên việc cứu độ tha nhân là mục tiêu hành đầu
của Bồ-tát trong sự nghiệp hoàn thành Phước Tuệ song tu
của mình.
Tuy
nhiên khi chúng ta hành lợi cũng luôn tùy thuộc vào đối tượng
để làm lợi có thể phân ra làm bốn loại: Một, dùng phương
tiện tùy thuộc vào những người thiện không có đức. Hai,
Tán dương khen ngợi những người thiện có đức. Ba, Quở
trách những người ác dễ điều phục. Bốn, dùng thần lực
để hàng phục những người ác khó điều phục, khiến cho
họ bỏ ác. Ở đây, hai loại trước gọi là nhiếp thủ để
tập hợp thiện, hai loại sau gọi là nhiếp thủ để lìa
ác.
Qua
Lợi hành nhiếp cho chúng ta thấy, đối với Bồ-tát muốn
hoàn thành tuệ giác vô thượng của mình thì việc tự lợi
cá nhân trong tu tập giải thoát mới chỉ là một nửa chặn
đường đi đến giải thoátt mà thôi. Ở đây Bồ-tát muốn
hoàn thành sở nguyện của mình một cách rốt ráo thì việc
thực hành lợi tha là điều kiện tiên quyết; nhưng trong hành
lợi tha này muốn thành tựu triệt để thì tinh tấn là đầu
mối quan trong đưa đến sự thành công hạnh nguyện. Nói chung
trong sự nghiệp tu hành của chúng ta điều kiện để thành
tựu chính là tinh tấn siêng năng nổ lực trong mọi lúc trong
mọi nơi, nó là chìa khóa quan trọng để mở toan màng lưới
vô minh cho người tu hành.
4.
Đồng sự nhiếp (samānārthatā-saṃgraha),
dụng cùng sự nghiệp với mình mà thu phục, còn gọi là Đồng
sự nhiếp sự, cùng sự nghiệp ở đây có nghĩa là cùng sự
nghiệp là chúng sanh hữu tình, cùng lợi ích như nhau, cùng
công việc khổ vui (nghiệp), có nghĩa là hành giả khi gần
gũi chúng sanh cùng có cái khổ cái vui như họ, dùng pháp nhãn
thấy rõ căn tánh chúng sanh như thế nào, rồi tùy thuộc vào
những thân căn y báo chánh báo cùng cái khổ cái vui của họ
mà thị hiện (cho các hàng Bồ-tát) thân hình ứng váo những
thân căn đó mà hiện thân cứu vớt đưa họ vào chánh đạo,
khiến cho họ cũng được những lợi ích như chúng ta hay,
hành giả chúng ta đồng sự với chúng sanh hữu tình mà tùy
theo đồng sự nghiệp chúng sanh, cùng có lợi, cùng khổ vui
họa phước mà giúp đỡ hướng dẫn họ thoát khổ được
vui.
Ngoài
những hình thức hành lợi để nhiếp phục người vào đạo,
quay về với chánh pháp như trên ra, nếu ở đây chúng ta đem
hành lợi này phối hợp với Lục Ba-la-mật thì, theo chức
năng thuộc tính của pháp hành này, nó sẽ tương ưng với
hai độ Ba-la-mật là Thiền định Ba-la-mật (dhyāna-pāramitā),
và Trí tuệ Ba-la-mật (prajñā-pāramitā) trong lục Ba-la-mật,
theo hành pháp của Bồ-tát khi thực hành Lục Ba-la-mật. Vì
khi Bồ-tát hành Bồ-tát đạo không những chỉ tự lợi cho
mình không thôi mà còn lợi tha nữa; trong khi lợi tha mang lợi
lạc đến mọi người để hoàn thành sự nghiệp giải thát
cho mình thì vấn đề lợi tha cũng quang trọng ngang bằng với
tự lợi. Vì lợi tha không những chỉ vì lòng từ thương
xót chúng sanh mà đưa họ thoát khỏi khổ đau để đạt an
vui Niết-bàn mà còn làm nhân cho việc hoàn thành sứ mệnh
giải thoát cho chính họ nữa, nên việc dùng đồng sự nhiếp
là việc làm tất yếu không thể thiếu đi được. Trong Tứ
nhiếp pháp mỗi pháp chúng có chức năng riêng và chung của
chúng, do đó đồng sự nhiếp ngoài cai nghĩa chung chúng còn
có nghĩa riêng theo thuộc tính của chính nó nữa đó là: việc
hóa độ thu phục những đối tượng chúng sanh cùng chung sự
nghiệp, cùng chung lợi ích, cùng chung y báo, cùng chung khổ
vui, cùng chung công ăn việc làm, mà hành giả có những cái
chung đó và, cũng nhờ những cái chung đó mà hành giả có
những thuận duyên may mắn, những tiếp cận gần nhau, tìm
hiểu tâm tư nguyện vọng, lối sống mà chúng ta dễ dàng
thu phục, hướng dẫn họ trở về với chánh pháp, nếu những
ai đi không đúng với con đường giải thoát. Đó là những
thuận có được của hành giả trong chức năng thu phục đem
người trở về với chánh pháp. Khi mọi người đã được
trở về với chánh pháp rồi thì, chính lúc đó hành giả
cũng hoàn thành sự nghiệp giải thoát cho chính mình theo định
luật Duyên khởi hình thành và hủy diệt của nó. Khi đức
Phật còn tại thế, có Bồ-tát Tinh Danh hiện thân cư sĩ,
với mục đích là để dễ gần gũi và cảm hóa được mọi
người một cách rộng rãi. Ngài đã có gia đình nhưng lại
chuyên cần tu tập phạm hạnh. Bên ngoài tuy luôn luôn bận
rộn với mọi tiếp xúc, nhưng bên trong thì luôn ở trong thiền
định. Ngài giao thiệp rất rộng rãi, hiện thân khắp nơi,
từ sòng bac, các quán nhậu nhẹt cho đến dâm phòng tửu điếm
đều có sự hiện diện của Ngài với mục đích là để
hóa độ, hướng dẫn những kẻ sa đọa, vấp ngã đi về
với chánh pháp. Có đôi khi Ngài tham gia chính trị, làm thầy
dạy học, dạy đời và, làm đủ thứ chuyện trên đời nếu
thấy những đối tượng đó và nơi chốn đó, cần được
độ thì Ngài hóa thân vào những nơi đó ngay. Tuy Ngài hóa
thân vào những nơi triền phược có thể đem đến cho Ngài
mọi rắc rối, nhưng với cuộc sống vô tâm như vậy Ngài
luôn luôn làm chủ chính mình nên không bị nhiễm ô, như hoa
sen trong bùn, tâm hồn Ngài luôn trụ trong cảnh giới thanh
tịnh giải thoát. Sở dĩ Ngài hóa thân mình biến thành những
thuộc tính như vậy là với mục đích Đồng sự với mọi
người mà hóa độ thu phục họ trở về chánh pháp.
Ở
trên là chúng tôi đem lục Ba-la-mật phối hợp với Bố thí
nhiếp, Ái ngữ nhiếp, Lợi hành nhiếp. Tiếp theo chúng tôi
sẽ phối hợp Thập địa với Bố thí nhiếp pháp như trong
Địa trì luận thì: Tứ nhiếp pháp vốn thông khắp trong các
vị của Thập địa được phân ra tùy theo thuộc tính cùng
ý nghĩa mà luận Địa Trì phân. Theo Bồ-tát Địa Trì kinh
3, hay luận Đại Trang Nghiêm thì Đồng sự là luôn tùy thuộc
vào phương tiện theo thuộc tính của đối tượng mà thay
đổi tương ứng với chúng, cùng nhau tu tập sự nghiệp chánh,
thực hành đạo chánh, khiến cho chúng sanh hữu tình tùy thời
mà chuyển hướng về chánh đạo và đạt được đạo an
vui giải thoát ngay đời này. Theo luận Địa-trì thì, trong
mười địa của Bồ-tát, nếu đem phối hợp với Đồng sự
thì địa thứ tư sẽ tương ưng với nó trong việc không bỏ
chúng sanh mà tu tâp phẩm đạo, nên Đồng sự càng ngày được
tăng trưởng. Vì theo luận Địa Trì thì muốn cho Đồng sự
tăng trưởng nhanh thì phải cần có sự phối hợp với địa
thứ tư trong lục địa thì kết quả mới mang lại cho chúng
ta những người thực hành Tứ Nhiếp mới có sự thành công
mau chóng được. Vì thông thường nếu hành giả không theo
Bồ-tát hạnh để thực hành thì Tứ Nhiếp chỉ có giới
hạn trong giá trong nhân quả mà thôi, không đi sâu và xa được.
Qua
Đồng sự nhiếp, chúng ta nhận thấy rằng, cũng như ba pháp
trên cũng từ pháp hữu lậu đến pháp vô lậu Đồng sự
nhiếp là hệ luận cuối cùng để Bồ-tát thực hiện con
đường Bồ-tát hành của mình và, cũng nhờ vào con đường
Bồ-tát hành này mà Đồng sự nhiếp mới hiện hữu những
giá trị của nó qua sự thực hành lợi tha của hành giả.
Do đó Đồng sự nhiếp cũng là một trong những thứ duyên
cần thiết để hành giả hoàn thành sở nguyện của mình,
đó chỉ là giá trị của nửa mặt trên mặt thực hành, còn
nửa mặt khác làm lợi lạc cho mọi người, kéo mọi người
trở về với chánh pháp là nguyên nhân đưa thế giới này
đến chỗ hòa bình an lạc. Đây chính là những giá trị sống
động nhất để trả ơn chư Phật đền ơn Tam Bảo đền
ơn chúng sanh trong muôn một của hành giả tu tập Tứ Nhiếp
pháp nói chung và Đồng sự nhiếp nói riêng.
I
. TỨ NHIẾP PHÁP THEO KINH LUẬN TIỂU THỪA.
Theo
các kinh luận Tiểu Thừa thì Tứ nhiếp pháp giá trị của
nó chỉ được giới hạn trong phạm trù nhân quả Nhân Thiên
cho cả tại gia và xuất gia mà thôi. Đối với các hàng Phật
tử tại gia đức Đạo sư dạy về Tứ nhiếp pháp chú trọng
về phần danh và có lợi ngay trong hiện đời này và đời
sau nhân quả hai đời, qua hành Tứ nhiếp pháp như theo Trung
A-hàm 33, kinh Thiện Sanh đức Đạo sư dạy con của một
nhà Cư sĩ:
“Này
con nhà Cư sĩ, có bốn nhiếp sự. Bốn việc ấy là gì? Một
là huệ thí. Hai là lời nói khả ái. Ba là làm lợi cho người.
Bốn là có lợi cùng chia.
Rồi
đức Đạo sư nói bài kệ:
Huệ
thí và ái ngôn,
Thường vì người lợi hành,
Với
tất cả đồng lợi,
Khắp nơi đều vang danh.
Sự
này duy trì đời
Cũng như người đánh xe.
Nhiếp
sự này vắng mặt,
Mẹ không nhân bởi con
Mà
được kính phụng dưỡng
Con đối cha cũng vậy.
Nếu
có nhiếp sự này,
Phước hựu thật to lớn;
Chiếu
soi như ánh nhật,
Tiếng tốt truyền đi nhanh.
Thông
minh, không nói cộc
Như vậy, làm nên danh
Định
vững, không cao ngạo;
Tiếng loan truyền đi nhanh
Thành
tựu tín và giới,
Như vậy làm nên danh.
Hăng
hái, không giải đãi;
Thường cho người uống ăn;
Dìu
dắt vào nẻo chánh;
Như vậy làm nên danh.
Bạn
bè cùng lân tuất,
Ái lạc có giới hạn;
Giữa
người thân, nhiếp sự
Thù diệu như sư tử.
Học
nghề, học buổi đầu,
Kiếm lợi, kiếm sau đó.
Sản
nghiệp đã dựng thành,
Phân chia làm bốn phần.
Phần
cung cấp ẩm thực;
Phần điền giả nông canh;
Phần
kho tàng chất chứa,
Phòng khi hữu sự cần;
Gom
nông tang, thương cổ,
Thu xuất, lợi một phần.
Thứ
năm để cưới vợ;
Thứ sáu làm nhà cửa.
Tại
gia sáu sự này,
Hưng thịnh, sống khoái lạc.
Tiền
tài sẵn càng đầy,
Như nước xuôi biển cả.
Đời
mưu sinh như vầy,
Như ong hút nhụy hoa;
Đời
mưu sinh lâu dài,
Sống an lạc hưởng thọ.
Xuất
tiền, không xuất xa;
Không tản mác tung ra.
Không
thể đem tài vật
Cho hung bạo, ngoan tà.
Phương
Đông là cha mẹ;
Phương Nam là tôn sư
Phương
Tây là thê tử;
Phương Bắc là nô tỳ;
Phương
Dưới bằng và hữu;
Phương Trên bậc tịnh tu;
Nguyện
lễ các phương ấy,
Phước đời này đời sau.
Do
lễ các phương ấy,
Thí chủ sanh trời cao.”
Với
mục đích hướng dẫn người tại gia tu tập lòng từ bi không
những chỉ thương yêu cá nhân mình thôi mà cần phải thương
yêu tha nhân những người sống chung quang dù là có liên hệ
huyết thống giòng họ bà con, hay không có sự liên hệ huyết
thống giòng họ bà con thì lòng từ vẫn được khơi dậy
để đem lại lợi lạc hạnh phúc cho cá nhân và cộng động
xã hội. Vì Tứ nhiếp pháp này là nhân là nền tảng sanh
ra mọi thứ phước đức trong cõi Nhân Thiên, nên nếu hành
giả nào thực hành nhiếp sự này, thì phước đức to lớn
thêm sáng soi như ánh nhật; thông minh, không nói cộc, định
vững, không cao ngạo; thành tựu tín và giới, tiếng tốt
truyền đi nhanh khắp nơi đều nghe tiếng, đó mới chỉ là
cái quả trong hiện tại còn trong tương lai thì sau khi chết
mọi người sẽ được sinh về những cõi trời cao hưởng
thọ mọi khói lạc giàu sang nhờ nhân đã hành Tứ nhiếp
pháp. Và cũng nhân việc đức Đạo sư nói về giá trị nhân
quả của việc thực hành Tứ nhiếp pháp này Ngài cũng dạy
cho các hàng Cư sĩ tại gia sáu cách sống để đem lại hưng
thịnh khoái lạc cho mọi người trong việc thực hành Tứ
nhiếp pháp có lựa chọn khi làm việc. Ở đây chủ yếu là
nêu cao đặc tính nhân quả trong việc thực hành chỉ ác hành
thiện theo tinh thần “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng
hành. Tự tịnh kỳ ý, thị chư Phật giáo.”
Đối
với các hàng xuất gia thì, chú trọng về tinh thần nhiều
hơn là chú trọng về vật chất như Phật tử tại gia. Cũng
trong bố thí, nhưng chú trọng đến bố thí pháp và bố thí
vô úy nhiều hơn trong khi thực hành Tứ nhiếp pháp. Đây chính
là chức năng lợi tha có điều kiện theo luật nhân quả hai
đời nên mục đích cuối cùng cũng mang lại cho tự lợi là
chính trong việc hành lợi tha này qua kết quả được hưởng
sau đó hoặc gần hoặc xa trong dời này hay đời sau, cùng
những nhiếp pháp khác, như trong kinh Tạp A-hàm quyển 26 kinh
636 đức Đạo sư dạy các Tỳ-kheo:
“Bố
thí tối thắng, đó là pháp thí. Ái ngữ tối thắng, là khiến
thiện nam tử thích nghe, nói pháp đúng lúc. Hành lợi tối
thắng là đối với người không có tín khiến có tín, xác
lập trên tín; đối với người hoc giới thì xác lập bằng
tịnh giới; đối với người bỏn sẻn thì bằng bố thí;
đối với người ác trí huệ thì bằng chánh trí mà xác lập.
Đồng lợi tối thắng, là nếu A-la-hán thì trao cho người
quả A-la-hán. A-na-hàm thì trao cho người quả A-na-hàm. Tư-đà-hàm
thì trao cho người quả Tư-đà-hàm. Tu-đà-hoàn thì trao cho
người quả Tu-đà-hoàn. Người tịnh giới thì trao người
khác bằng tịnh giới.”
Đối
với các hàng Tỳ-kheo xuất gia đức Đạo sư dạy rộng và
sâu hơn hàng tại gia tùy thuộc vào thuộc tính chức năng
tự lợi, lợi tha khi thừa hành Phật sự có điều kiện trong
việc chuyển vận bánh xe chánh pháp của họ mà có khác hơn
thuộc tính chức năng của các hàng Cư sĩ tại gia. Phương
pháp thực hành trong Tứ Nhiếp pháp được đức Đạo sư
gọi là tối thắng thì phần này được dành cho các vị xuất
gia trong chức năng của họ là: Pháp thí đối với bố thí
nhiếp. Nói pháp đúng lúc đối với ái ngữ nhiếp. Xác lập
lòng tin với người không lòng tin, xác lập tịnh giới với
người học giới, xác lập bố thí với người bỏn sẻn,
ba cách này dành cho lợi hành nhiếp. Nếu A-la-hán thì trao
cho người quả A-la-hán; A-na-hàm thì trao cho người quả A-na-hàm;
Tư-đà-hàm thì trao cho người quả Tư-đà-hàm; Tu-đà-hoàn
thì trao cho người quả Tu-đà-hoàn; người tịnh giới thì
trao người khác bằng tịnh giới, đối với Đồng lợi nghiếp.
Cũng
kinh Tạp A-hàm quyển 26, nhưng kinh 637 thì đức Đạo sư dạy
các Tỳ-kheo có một vài sai biệt trong vấn đề thời gian
ba đời, khi đề cập đến Tứ nhiếp pháp trong lúc nhiếp
thủ đại chúng, có thể tùy thuộc vào một trong bốn pháp
này, nếu thấy thích hợp để nhiếp thủ đại chúng:
“Nếu
như có pháp nào để nhiếp thủ đại chúng thì tất cả đều
ở trong bốn nhiếp sự. Hoặc một nhiếp thủ là bố thí,
hoặc một nhiếp thủ là ái ngữ, hoặc một nhiếp thủ là
hành lợi, hoặc một nhiếp thủ là đồng lợi. Ở trong thời
quá khứ, những pháp nào đã nhiếp thủ đại chúng trong thời
quá khứ cũng không ngoài bốn nhiếp sự. Những pháp nào sẽ
nhiếp thủ đại chúng trong thời vị lai cũng không ngoài bốn
nhiếp sự. Hoặc một pháp nhiếp thủ là bố thí, hoặc một
pháp nhiếp thủ là ái ngữ, hoặc một pháp nhiếp thủ là
hành lợi, hoặc một pháp nhiếp thủ là đồng lợi.”
Bấy
giờ Thế Tôn liền nói kệ rằng:
Bố
thí cùng ái ngữ,
Hoặc hành vi hành lợi,
Đồng
lợi các hành vi,
Mỗi tùy chỗ thích hợp.
Nhờ
đây nhiếp thế gian,
Như xe lăn nhờ gang.
Đời
không bốn nhiếp sự,
Quên ơn mẹ nuôi con.
Cũng
không tôn trọng cha,
Không khiêm tốn phụng sự.
Vì
có bốn nhiếp sự,
Và tùy thuân pháp này.
Cho
nên có Đại sĩ,
Đức trùm cả thế gian.“
Qua
đoạn kinh này chúng ta thấy cũng Tứ nhiếp pháp nhưng ở
đây nội dung chúng tùy thuộc vào thuộc tính từng cách nhiếp
phục hoặc là Bố thí, hoặc Ái ngữ, hoặc là Hành lợi hoặc
là Đồng sự, đối với đối tượng của đại chúng mà
các hành giả thi thiết đối pháp để hàng phục đưa họ
về với chánh pháp. Và ở đây cũng tùy thuộc vào thuộc
tính của thời gian quá khứ hay tương lai mà nhiếp thủ đối
với đại chúng. Nhờ vậy mà hành giả nhiếp phục được
cả thế gian và, có các bậc Đại sĩ xuất hiện, đức bao
trùm cả thế gian.
Riêng
theo kinh Tăng Nhất A-hàm quyển 22, đức Đạo sư đã kể lại
cho các Tỳ-kheo nghe chuyện quá khứ lâu xa trong hiền kiếp
này: Có Phật Ca-diếp ra đời tại nước Ba-la-nại, đi hóa
đạo tại nước này cùng với chúng hai vạn đại Tỳ-kheo
thì, bấy giới có một người con gái con vua Ai Mẫn tên là
Tu-ma-na có tâm kính ngưỡng hướng về Như lai Ca-diếp vâng
giữ cấm giới, thường thích bố thí và hành bốn việ dó
là Bố thí, ái kính, làm lợi người, đồng lợi. Cô thường
ở chỗ Phật Ca-diếp tụng Pháp cú. Ở trên lầu cao thường
lớn tiếng tụng tập và phát nguyện rộng lớn: “Con hằng
có pháp Tứ nhiếp này, lại ở trước Như lai mà tụng Pháp
cú. Trong đó nếu có chút phước nào, cầu cho con sinh vào
chỗ nào, không rơ vào ba đường ác, cũng không sinh vào nhà
nghèo; đời vị lai cũng sẽ gặp đươc bậc tối tôn như
vầy. Khiến cho thân nữ của con không bị chuyển đổi và
được pháp nhãn thanh tịnh.” Sau khi nhân dân trong
thành nghe vương nữ thề nguyện như vậy, họ liền đến
chỗ vương nữ nói: “Hôm nay, Vương nữ rất là chí tín,
tạo các công đức, bốn sự không thiếu: Bố thí, kiêm ái,
lợi người, đồng lợi. Lại phát thệ nguyện, mong đời
sau gặp bậc như vậy, thuyết pháp cho nghe để được pháp
nhãn thanh tịnh. Hôm nay, Vương nữ đã phát thệ nguyện, cùng
với nhân dân cả nước chúng tôi đồng thời được độ.”
Lúc ấy vương nữ đáp: “Tôi đem công đức này cùng thí
đến các người. Nếu gặp đượcNhư lai thuyết pháp, sẽ
cùng lúc được độ.
“Tỳ-kheo,
các ông há có điều nghi ngờ sao?chớ nghĩ như vậy. Vua Ai
Mẫm lúc đó nay chính là trưởng giả Tu-đạt. Vương nữ
lúc ấy nay chính là Tu-ma-đề. Nhân dân trong thành lúc ấy,
nay chính là tám vạn bốn nghìn chúng. Do thề nguyện kia nên
nay gặp Ta, nghe pháp đắc đạo; cùng nhân dân kia đều đươc
pháp nhãn thanh tịnh. Hãy ghi nhớ phụng hành ý nghĩa này.
Vì sao vậy? Vì Tứ nhiếp pháp này là ruộng phước tốt nhất.
Nếu có Tỳ-kheo nào thân cận bốn sự này thì liền được
bốn đế. Nên cầu phương tiện thành tựu bốn sự việc
này.” Đây là một kết quả thực tại được đức Đạo
sư lấy đó mà kể lại tác nhân quá khứ được thể hiện
như thế nào để có được một kết quả như hôm nay. Đó
chính là những giá trị có được khi thực hành Tứ nhiếp
pháp này cho dù ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào vẫn
có những giá trị phổ quát như nhau qua việc hành trì nó
để khuyến khích thúc đẩy các Tỳ-kheo thực hành nó để
dạt được Bốn sự thật (Tứ đế) ngay trong hiện tại nếu
thực hành đúng pháp và tinh cần.
Theo
luận Thành Thật thì, ngoài những giá trị nhân quả có được
như các kinh đã nói qua, Tứ nhiếp pháp còn có giá trị vĩnh
cữu không gì có thể phá hoại nó được nếu hành giả kiên
cố trong pháp hành của mình đối với Tứ nhiếp pháp: “Như
trong kinh đã nói, có Tứ nhiếp pháp đó là Bố thí, Ái ngữ,
Lợi hành, Đồng lợi. Bố thí là, lúc nào cũng dùng quần
áo, đồ ăn thức uống cùng mọi đồ vật kiên trì không
ngơi nghỉ đem bố thí để nhiếp phục chúng sanh. Ái ngữ
là, lúc nào cũng kiên trì dùng lời nói tùy thuận tình ý
đối với chúng sanh để nhiếp phục. Lợi hành là, lúc nào
cũng kiên trì vì người khác mà cầu lợi cho họ, nếu có
điều kiện giúp đỡ họ hoàn thành công việc. Đồng lợi
là, lúc nào cũng kiên trì ở trong hoàn cảnh, cùng chung một
thuyền, có khổ cùng lo, có vui cùng mừng với mọi người.
Nếu người nào dùng pháp Bố thí, Ái ngữ, Lợi hành, Đồng
lợi mà nhiếp phục chúng sanh thì, kết quả đưa đến bất
khả hoại.”
Qua
kinh luận Tiểu thừa về Tứ nhiếp pháp được đức Đạo
sư đem dạy cho các đệ tử tại gia cũng như xuất gia của
Ngài, tuy có những sai khác tùy thuộc vào thuộc tính của
từng đối tượng về cách hành sử, nhưng trên mặt đại
thề chúng cùng đưa đến kết quả lợi mình lợi người
theo luật nhân quả một đời, hai đời, ba đời lệ thuộc
vào tác nhân tại gia hay xuất gia như những gì đức Đạo
sư đã dạy qua các kinh luận Tiểu thừa mà chúng tôi đã
trích dẫn như trên.
II
. TỨ NHIẾP PHÁP THEO KINH LUẬN ĐẠI THỪA.
Theo
kinh luận Đại thừa thì Tứ nhiếp pháp giá trị của nó
được nâng cao hơn trong việc thực hành Bồ-tát đạo để
hoàn thành giác hạnh viên mãn cho quả vị Phật của các hàng
Bồ-tát, nên tự thân giá trị của nó phải được đặt
nặng trong việc lợi tha vô điều kiện dành cho cả hai hàng
Bồ-tát xuất gia cùng tại gia. Vì vậy cho nên cũng cùng Tứ
nhiếp pháp nhưng có sự sai khác về phương pháp hành nhân
cũng như kết quả của nó tùy thuộc vào thuộc tính của
Tiểu thừ và Đại thừa: Một đàng thì có điều kiện giới
hạn trong nhân quả, một đàng thì vô điều kiện giới hạn
trong nhân quả. Theo Kinh Ưu-bà-di Tịnh hạnh pháp môn quyển
thượng, đức Đạo sư đã kể về khi Ngài còn làm người
thường thực hành Tứ nhiếp pháp: “… Bố thí, Ái ngữ,
Lợi ích (lợi hành), Đồng sự để nhiếp hóa chúng sanh mỗi
khi có bất cứ chúng sanh nào muốn tìm cầu điều gì Ngài
cũng đáp ứng những yêu cầu của họ mà không làm trái lại
với ý của họ. Nhờ công đức vô điều kiện này mà Ngài
đã tích tụ thiện nghiệp sâu rộng cho đến khi chỉ còn
một đời cuối cùng là “nhứt sinh bổ xứ” trong thời
gian này Ngài thường hưởng nhạc Trời và khi sinh xuống thế
gian này đạt được hai tướng đại nhơn đó là: Tay chân
mền mại, các ngón tay chân liên kết bỡi một màn da mỏng
(man võng). Vì hai tướng này, nếu là người ở tại gia thì
làm Chuyển luân Thánh vương cai trị bốn châu thiên hạ, nếu
là người xuất gia thì đạt dược ngôi vị Pháp vương, khéo
nhiếp phục tất cả vô lượng chúng sanh, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni,
Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, Trời, Rồng, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la,
Ca-lầu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhơn, phi Nhơn v.v… Lúc
bấy giờ đức Đạo sư nói kệ cho các vị Ưu-bà-đi rằng:
“Tu
bố thí, ái ngữ
Hành lợi ích, đồng sự
Thường
dụng Tứ nhiếp pháp
Nhiếp tất cả chúng sanh.
Nhờ
hành thiện nghiệp này
Thường sanh vào Trời Người
Nếu
sinh ở thế gian
Được hai tướng đại nhơn.
Chân
tay đều mền mại
Có màn da liên kết
Thật
cực mỏng vi diệu
Ngoài vàng trong màu hồng.
Vì
nhờ hai tướng này
Tại gia Chuyển luân vương
Nếu
hóa bằng pháp thiện
Tất cả đền hành theo.
Thọ
trì chắc không phạm
Vui vẻ tán Thánh vương
Thi
ân không cầu đáp
Lòng từ trải bôn phương.
Nếu
xa lìa năm dục
Xuất gia được thành Phật
Vì
chúng sanh nói pháp
Người nghe cúi đầu nhận.”
Đây
là Tứ nhiếp pháp mà đức Đạo sư đã từng thực hành trong
quá khứ khi còn làm người trong lúc hành Bồ-tát đạo. Những
kết quả có được trong hiện tại chính là những tác nhân
mà Ngài đã từng hành Bồ-tát đạo trong qua khứ đã thực
hiện qua Tứ nhiếp pháp không điều kiện vì chúng sanh mà
nhiếp hóa đưa họ về chánh đạo như Ngài.
Và
cũng theo Đại tập kinh quyển thượng đức Đạo sư
dạy tôn giả Xá-lợi-phất về việc thực hành của các hàng
Bồ-tát về Tứ nhiếp pháp theo thể cách của Ba-la-mật Đại
thừa không cần biết đến kết quả hồi báo của hành động
người thực hành Tứ nhiếp, miễm sao việc làm của họ mang
lại lợi lạc cho chúng sanh và đưa họ về đường chánh
thì làm, còn việc mang lại lợi lạc cho chính bản thân của
người thực hành là như thế nào không để ý đến!
“…
Đối với Bồ-tát Tứ nhiếp cũng không thể tận. Sao gọi
là Bốn? Một là Bố thí, hai là Ái ngữ, ba là Lợi hành,
bốn là Đồng sự.
Sao
gọi là Bố thí? Thí có hai loại: Tài thí và Pháp thí. Sao
gọi là Ái ngữ? đối với người cầu tài và người nghe
pháp phải dùng lời nói như hòa. Sao gọi là Lợi hành? là
đối với người cầu tài và nghe pháp phải tùy theo những
gì họ cầu mà đáp ứng đầ đủ. Sao gọi là Đồng lợi?
là đối với người cầu tài và pháp phải dùng pháp Đại
thừa tự lợi khiến an chỉ họ.
Hơn
nữa, Bố thí có nơi gọi là xả tâm. Ái ngữ, là thực hành
không giới hạn. Lợi hành, cuối cùng không hối hận. Đồng
lợi, hồi hướng về Đại thừa. Hơn nữa, Bố thí là khởi
lòng từ bi, thực hành xả bỏ tư hữu. Ái ngữ, không bỏ
tâm hỷ. Lợi hành, trang nghiêm đại bi làm lợi chúng sanh.
Đồng lợi, đối với trên dưới xả bỏ, phát tâm hồi hướng
Nhất thiết chủng trí.
Hơn
nữa, Bố thí, cầu tài như pháp, hành thí thanh tịnh. Ái ngữ,
dùng từ hòa hướng dẫn, an chỉ vào pháp thiện. Lợi hành,
nói về tự lợi, là để lợi ích mọi người. Đồng lợi,
khiến mọi người phát tâm Nhất thiết trí. Hơn nữa Bố
thí, phải xả cả trong lẫn ngoài. Ái ngữ, công đức trí
tuệ, tâm không tham luyến. Lợi hành, bỏ tự lợi hành lợi
tha. Đồng lợi, xả bỏ địa vị quan trong, tâm không hối
tiếc.
Pháp
thí, như những pháp đã được nghe tất phải diễn nói lại.
Ái ngữ, không vì lợi dưỡng mà nói pháp. Lợi hành, khuyên
bảo người độc tụng, tâm không biết mêt mỏi. Đồng lợi,
nhất thiết trí là tâm được pháp vi diệu, tức là dùng
pháp vi diệu này khích lệ chúng sanh.
Hơn
nữa, pháp thí là nếu có chúng sanh nào mỗi lần nghe pháp,
theo thứ tự vì họ mà nói không sai lầm. Ái ngữ, vì người
nói pháp không từ xa gần. Lợi hành, có người cầu pháp,
nên cung ấp, y phục, đồ ăn thức uống, ngọa cụ, thuốc
men trị bệnh khiến cho họ không thiếu, trước làm cho họ
yên sau đó tùy theo sở cầu của họ mà diễn nói. Đồng
lợi, Khi nào giảng thuyết cho mọi người thì phường phải
khuyên chúng sanh hồi hướng đến quả vị Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác (A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề: anuttara-samyak-saṃbodhi).
Hơn
nữa, Pháp thí, đối với trong những pháp Bố thí thì Pháp
thí là tối thắng, nên dùng pháp thắng này mà vì mọi người
diễn nói. Ái ngữ, thường vì lợi ích chúng sanh mà nói.
Lợi hành, tùy thuộc vào nghĩa của thuộc tính mà nói chứ
không tùy theo văn tự. Đồng lợi, thường vì để hoàn bị
Phật pháp đầy đủ nên nói.
Hơn
nữa, Bố thí phải đầy đủ Đàn-na Ba-la-mật (dāna-pāramitā).
Ái ngữ, phải đầy đủ Thi-la Ba-la-mật (śīla-pāramitā).
Lợi hành, phải đầy đủ Tỳ-lị-da Ba-la-mật (vīrya-pāramitā).
Đồng lợi, phải đầy đủ Thiền-na Ba-la-mật (dhyāna-pāramitā).
Hơn nữa, Bố thí là mới phát khở Bồ-đề. Ái ngữ, là
tu tập thực hành Bồ-đề. Lợi hành là không thối thất
Bồ-đề. Đồng lợi là Nhấy sinh bổ xứ.
Hơn
nũa, Bố thí là an trụ căn bổn chủng tử Bồ-đề. Ái ngữ,
nuôi lớn mầm thân cành lá Bồ-đề. Lợi hành là từ từ
triển khai ra hoa Bồ-đề. Đồng lợi, tự có khả năng thành
tựu thật quả Bồ-đề. Đó gọi là Bồ-tát nhiếp hóa chúng
sanh không thể tận.”
Qua
kinh Đại Tập cho chúng ta thấy con đường thực hành
Bồ-tát đạo của Bồ-tát phải lần lượt kinh qua Tứ nhiếp
pháp, tùy theo nhu cầu thuộc tính của đối tượng chúng sanh
mà Bồ-tát thực hiện Tứ nhiếp pháp để hoàn thành Giác
hạnh viên mãn của mình khi còn là một Bồ-tát. Giai đoạn
Bồ-tát hành Bồ-tát đạo là thời gian lòng từ phát triển
đến cực độ, tất cả mọi hành vi mọi tạo tác của các
Ngài đều phát sinh từ lòng từ vô hạn nhằm vào nỗi khổ
triền miên của chúng sanh mà nhiếp phục hướng dẫn chỉ
đường trở về chánh đạo giải thoát khổ đau, đó là những
gia vụ đặc biệt của các Ngài. Điều này được thể hiện
qua Luận Đại Trí Độ, được Bồ-tát Long Thọ triển khai
sâu rộng hơn. Theo Luận Đại Trí Độ 65 thì mỗi Một Nhiếp
pháp được phân ra làm hai chủ loại trừ pháp thứ tư: Như
Bố thí thì có tài thí và pháp thí như trong các bản kinh,
nhưng riên về ba nhiếp pháp sau cũng được Ngài phân ra mỗi
nhiếp pháp có hai loại như sau:
“Dùng
hai loại tài thí pháp thí mà nhiếp hộ chúng sanh. Có hai loại
Ái ngữ: Một, Ái ngữ tùy ý. Hai, Tùy theo chỗ ái pháp của
chúng sanh mà nói. Khi Bồ-tát chưa đạt được đạo, khi gần
gũi chúng sanh, Bồ-tát tự phá lòng kiêu mạn của mình, tùy
ý mà nói pháp, hay nếu khi Bồ-tát đã đắc đạo rồi thì
tùy thuộc vào pháp nên độ mà vì chúng sanh nói. Đối với
người giàu có rộng lòng thì nên vì họ khen ngợi bố thí.
Người phước đức nổi tiếng thường hay được lợi vật
từ người khác, nếu vì họ mà khen ngợi việc trì giới,
hủy báng việc phá giới thì tâm họ sẽ không vui thích. Như
vậy phải tùy thuộc vào những thuộc tính của họ mà nói
pháp. Lợi ích cũng có hai loại: Một, vì cái lợi đời này
hay vì cái lợi đời sau mà vì họ nói pháp, vì là pháp đối
trị cuộc sống nên siêng tu tập Lợi sự (hành). Hai, Nngu7o72i
chưa tin dạy khiến họ tin, người phá giới khiến họ giữ
giới, người ít hiểu biết khiến họ biết nhiều, người
không bố thí khiến họ bố thí, người ngu si dạy họ trí
tuệ. Cứ như vậy mà dùng pháp thiện lợi lạc chúng sanh.
Đồng sự, Bồ-tát giáo hóa chúng sanh khiến họ cũng hành
pháp thiệ nhnư mình; Bồ-tát tâm thiện, chúng sanh tâm ác
thường xuyên giáo hóa họ khiến họ cũng giống như pháp
thiện của mình. Đó là Bồ-tát dùng bốn loại nhiếp hóa
chúng sanh khiến cho họ trụ vào mười thiện đạo.”
Qua
nhưng kinh luân mà chúng tôi trích dẫn ở trên, đó chỉ là
một ít bản kinh luận tiêu biểu cho Tứ nhiếp pháp trong nhiều
bản khác nữa, chúng cũng đủ nói lên tinh thần từ bi vị
tha vong thân của các hàng Bồ-tát trong lúc thực hành Bồ-tát
đạo của mình trong đó có cả thời quá khứ của đức Đạo
sư nữa, đã nói lên được tính đặc trưng của pháp môn
tu Tứ nhiếp pháp này dành cho các hàng Bồ-tát dù là ở vào
thời nào trong quá khứ, tương lai hay hiện tại, pháp Tứ
nhiếp được coi như là pháp tu lưỡng lợi cho cả tự và
tha trong việc hoàn thành sứ mệnh giải thoát cao cả của
mỗi chúng ta trong chức năng tự lợi lợi tha thể hiện giáo
pháp đặc trưng của đức Đạo sư qua Từ bi, Trí tuệ và
giải thoát.
Tóm
lại, Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp mà đức Đạo sư
đã dạ cho các hàng đệ tử của mình từ xuất gia cao nhất
là các hàng Bồ-tát cho đến các hàng Thinh văn và các hàng
đệ tử Bồ-tát tại gia cùng các hàng cư sĩ nam nữ tại
gia, trong mỗi chức năng thuộc tính của mình mà theo đó tự
lợi và lợi tha trong việc chuyển vận bánh xe chánh pháp đi
vào giữa thế gian loài người kéo họ trở về với chánh
đạo, đưa chúng sanh hữu tình từ vô minh phiền não trở
về giác ngộ giải thoát, từ khổ đau trở về an vui, từ
sinh tử trở về Niết-bản, từ tà kiến sai lầm trở về
chánh pháp chánh kiến mà đức Đạo sư dành dạy cho các hàng
đệ tử của Ngài, nhất là đối với các hàng Bồ-tát. Bốn
phương pháp này khiến cho các hàng đệ tử Thinh Văn Tiểu
thừa và Bồ-tát Đại thừa sinh khởi lên lòng thân ái, và
lòng từ bi để hướng dẫn chúng sanh hữu tình đi vào Đạo
một cách dễ dàng và nhẹ nhàng nhất về cả hai mặt tinh
thần lẫn vật chất; chúng đáp ứng và thõa mãn được những
nhu cầu tình cảm có được của họ mà diều dắt. Ở đây,
cả hai đều có lợi: một bên hoàn thành hanh nguyện Bồ-tát
của mình, một bên xa lánh được tà kiến vô minh để trở
về với chánh kiến giải thoát. Tuy giữa Tiểu thừa và Đại
thừa qua Tứ nhiếp pháp có những phương pháp sai khác nhau
phát xuất từ từng thuộc tính căn cơ nên việc áp dụng
tu tập cũng theo đó mà có được, nhưng trên đại thể vẫn
mang dấu ấn tự lợi lợi tha trong chức năng hoàn thành việc
tu tập của hành giả theo nhân quả hay duyên khởi mà thôi.
02-11-2008
04:34:55