Diện
kiến lạt ma Tây Tạng
Lạt
ma Tây Tạng
TT
- Năm 1357, tại một vùng hẻo lánh thuộc cao nguyên Thanh Tạng
cách Tây Ninh - thủ phủ của Thanh Hải - chừng 30km, cậu bé
Tông Khách Ba (Tsong-Kha-Pa) ra đời. Ông chính là người xây
dựng Phật giáo Tây Tạng: sáng lập tông phái Hoàng Mạo (mũ
vàng) - là tông phái của Đạt Lai lạt ma và Ban Thiền lạt
ma ngày nay. Đến Tây Tạng, làm sao có thể bỏ lỡ dịp đến
Tháp Nhĩ tự - nơi sinh của đại sư Tông Khách Ba…
Tháp
Nhĩ tự
Nằm
dựa trên sườn đồi, Tháp Nhĩ tự (lấy từ tên của một
ngọn tháp nằm trong chùa được dát bằng 1 tấn bạc, 3.000
lượng vàng và 3.600 viên mã não) xây dựng lần đầu từ
năm 1379, sau đó được trùng tu, xây dựng thêm và trở thành
một trong sáu chùa lớn nhất của phái Hoàng Mạo (tông phái
Phật giáo phổ biến nhất ở Tây Tạng).
Nơi
đây cũng từng là nơi sống và làm việc của Ban Thiền lạt
ma. (Theo truyền thuyết, Ban Thiền lạt ma là hiện thân của
Phật A di đà, là người đứng đầu trong cuộc sống tinh
thần của người dân Tây Tạng. Đạt Lai lạt ma là hiện
thân của Quán Thế Âm bồ tát, là người đứng đầu Phật
giáo Tây Tạng trong cuộc sống thế tục. Mỗi vị chết đi,
người ta tìm vị tái sinh khác để kế vị).
Lớn
nhất tại Tháp Nhĩ tự là Đại Kinh đường (2.000m2) được
chống bởi 168 cột lớn, tại đây lưu giữ rất nhiều kinh
Phật từ thời nhà Đường đến nay. Kế bên là một dãy
kệ với 1.000 ngăn, mỗi ngăn thờ một vị Phật, đây cũng
chính là nơi thờ các vị Đạt Lai lạt ma và đại sư Tông
Khách Ba.
Một
tòa tháp tại Tháp Nhĩ tự. Năm 1990, một trận động đất
đã phá hủy rất nhiều công trình tại đây. Chính phủ Trung
Quốc đã chi 70 triệu nhân dân tệ cho dự án khôi phục này.
(Theo Lonely Planet)
Các
tháp, đền thờ Tây Tạng thường có năm phần tượng trưng
cho năm yếu tố xây dựng nên vũ trụ.
Phần
dưới cùng tượng trưng cho đất: bền vững, ổn định.
Kế
là hình cầu (hình bán cầu) tượng trưng cho nước: sự luân
chuyển.
Trên
nữa là hình nón cụt tượng trưng cho lửa.
Kế
tiếp là hình đĩa tròn tượng trưng cho gió hay không gian.
Nằm
trên cùng là thức. Thức là một chấm nhỏ chứa đựng tất
cả nhưng không có kích thước cụ thể vì nó là “giao điểm”
của vật chất và tâm linh.
Có
ba tác phẩm nghệ thuật đặc biệt đáng chú ý tại Tháp
Nhĩ tự đó là nghệ thuật tạc tượng bằng bơ (làm từ
sữa con bò yak) cực kỳ sống động, miêu tả lại lúc đức
Phật sinh ra và nghệ thuật vẽ, thêu trên lụa, vải rất
tinh xảo, không bao giờ phai màu theo thời gian.
Dọc
hành lang quanh chùa có rất nhiều pháp luân chung (chuông chuyển
kinh) bằng đồng, gỗ (như một thùng rỗng quay trên một trục
đứng). Những cái chuông không phải để gõ mà để... xoay,
vừa xoay vừa niệm chú: “Om mani padme hum” (úm ma ni bát mê
hồng).
Người
Tây Tạng tin rằng âm thanh hòa cùng với sự vận chuyển của
chuông chuyển kinh sẽ tạo ra một “sức mạnh” huyền bí
cầu chúc bình an, may mắn. Vì thế các bánh xe đó ít khi dừng
lại, bởi các vị lạt ma, chú tiểu, du khách... cứ đi ngang
là quay vì ai chẳng mong những điều tốt lành sẽ đến với
mình và mọi người!
Nếu
như trước các tượng Phật ở các chùa chiền thường đặt
những lư hương để thắp nhang thì chùa Tây Tạng lại đặt
những “chậu” đèn thật lớn được đốt bằng bơ (hoặc
mỡ bò yak). Lễ vật của những người hành hương là một
chút bơ để duy trì ánh lửa cho ngọn đèn mãi mãi không tắt.
Lạt
ma và những người Tây Tạng hành hương
Từ
khá xa trước khi đến Tháp Nhĩ tự tôi đã thấy từng đoàn
người Tây Tạng hành hương áo quần lam lũ, mang theo áo quần
đồ đạc, dắt theo cả gia đình vợ con. Đi vài bước họ
lại chắp tay khỏi đầu, trán, cằm, ngực vái lạy rồi rạp
sát mặt đất rất thành kính. Đây là phương thức cầu nguyện
rất phổ biến của người Tây Tạng: phương thức “ngũ
thể đầu địa” (hai tay, hai chân và trán phải chạm đất).
Hình
ảnh này nhắc người ta nhớ đến vị thánh tăng Hư Vân (1840-1959)
mà theo sách sử cho biết ngài đã thực hiện chuyến hành
trình tam bộ nhất bái (ba bước một lạy) từ Phổ Đà sơn
về Ngũ Đài sơn với đường dài trên 2.500km.
Trong
chương trình Discovery cũng đã từng quay một đoạn phim có
thật về một thanh niên Tây Tạng đi suốt mấy tháng trời
đến núi Thiêng (đỉnh Ngân Sơn trong dãy Himalaya - thế giới
của các vị Phật theo quan niệm của người Tây Tạng), cứ
vài bước lại nằm rạp xuống lạy theo phương thức ngũ
thể đầu địa để cầu siêu cho mẹ.
Đối
với người Tây Tạng, hiện tại chỉ là cuộc sống tạm,
rất phù phiếm. Họ tin vào vòng luân hồi của cuộc đời.
Đến đây, nếu để ý bạn sẽ thấy gần như mỗi người
Tây Tạng đi đâu cũng xoay trên tay bánh xe mani (một ống đồng
xoay trên một trục thẳng đứng) để nhắc nhở rằng cuộc
đời là một vòng miên viễn. Tôn giáo là nền tảng cơ bản
để người Tây Tạng tồn tại.
Chính
vì thế, không có gì ngạc nhiên khi bạn thấy rất nhiều
ông bà già Tây Tạng da nhăn nheo, chống gậy lụm cụm leo
lên từng bậc thang, lần xuống từng góc chùa để được
đảnh lễ, được xoay các pháp luân chung ấy.
Những
người Tây Tạng từ khắp nơi trên cao nguyên Thanh Tạng hành
hương về chùa
Những
ngày đầu đông, gần như rất ít du khách đến đây. Trong
nắng sớm, một vị lạt ma choàng áo đỏ phủ kín đầu đang
lâm râm tụng kinh, thỉnh thoảng lại dùng chiếc dùi mảnh
như cần câu gõ vào cái trống. Ánh nắng tràn qua mái chùa,
phủ lên mình vị lạt ma một vẻ đẹp kỳ ảo! Theo phản
xạ, tôi rút máy ảnh định chụp nhưng chợt rụt lại khi
thấy tấm bảng “no photo, no video”.
Hơi
buồn một tí, nhưng ngẫm lại thấy vậy mà hay. Sự tò mò,
muốn ghi dấu một kỷ niệm của các du khách khi chụp hình
hẳn sẽ khuấy động không khí trang nghiêm, tĩnh lặng của
chùa và biết đâu điều đó còn vô tình cắt ngang dòng triền
miên suy tưởng của vị chân tu? Trời lạnh, tuyết bay lất
phất, chúng tôi đứng im lặng, thả hồn vào tiếng trống
gõ nhịp, tiếng tụng kinh rì rầm ê a như một bài nhạc không
có điểm dừng.
Bao
quanh Tháp Nhĩ tự là các cơ sở kinh doanh của người Hán,
là những gian hàng, nhà trọ với giá cao... Cạnh đó có những
“anh lạt ma” (nét mặt khác hẳn với những nét đặc trưng
của người dân Tây Tạng) mặc đồ tu nhưng chân đi giày
hiệu thứ xịn, tay cầm điện thoại di động đời mới.
Thậm chí “anh lạt ma” ngồi tại phòng vé vẫn đánh bài
rất say sưa.
Sau
khi bán vé cho chúng tôi, anh vội vã tiếp tục canh bạc một
cách hào hứng. Họ có thật sự là những lạt ma Tây Tạng?
Nhưng còn có một hình ảnh khác: những người Tây Tạng khốn
khó, áo quần rách bươm lặn lội từ khắp nẻo trên cao nguyên
Thanh Tạng về đây. Từ rất xa, họ đã hướng về phía ngôi
chùa để đảnh lễ rất thành kính.
Dường
như trong mắt họ, dãy ôtô đời mới bóng loáng, bên cạnh
thế giới mua bán ồn ào... - đang chắn ngang trước cổng
chùa tôn nghiêm - không hề tồn tại, chẳng đáng cho họ để
tâm.
Lhasa,
những ngày đầu đông
Diễu
hành, đọc khẩu hiệu trước buổi làm việc tại một siêu
thị ở Lhasa - cách làm phổ biến ở Đài Loan, Hong Kong đã
được đưa lên thành phố của các chư thiên này
TT
- Vào thế kỷ thứ 7, tương truyền chỗ xây đền Đại Chiêu
(một trong những đền nổi tiếng nhất Tây Tạng) ngày nay
chính là một hồ nước bị ma nữ ám. Công chúa Văn Thành
(thời nhà Đường) trong thời gian làm dâu ở xứ Tây Tạng
hiểu phong thủy bèn ném chiếc nhẫn mình hay đeo và cho dê
đổ đất vào hồ để khắc chế yêu nữ.
Theo
tiếng Tây Tạng, dê là “ra” (linh vật của thần hộ pháp
Damcen), đất là “sa”. Từ đó chốn này mang tên Rasa, dần
dần biến thành Lhasa, tên gọi ngày nay của thủ phủ Tây
Tạng.
Các
chư thiên đâu rồi?
Là
nơi cao nhất thế giới so với mực nước biển, độ cao trung
bình từ 4.000m trở lên (trong đó diện tích cao trên 4.500m
chiếm 65%), nơi đây từng được gọi là “nóc nhà thế giới”,
được mệnh danh là “cực thứ ba của Trái đất” nhưng
bây giờ điều đó có lẽ chỉ là quá khứ. Chúng tôi bước
vào Lhasa đã gần 2g sáng. Dù đọc rõ ràng dòng chữ “Welcome
to Lhasa” nhưng tôi vẫn còn ngờ ngợ: đường sá rộng rãi,
nhà ở, khách sạn, xe cộ khá hiện đại. Lẽ nào các chư
thiên lại ở khách sạn, đi ôtô?
8g
sáng. Lhasa giờ này chưa thức dậy. Trời hãy còn mờ mờ
tối, ngoài đường chỉ lác đác vài người đạp xe. Nơi
tôi ở đối diện với tòa nhà China Telecom cao lớn ngạo nghễ,
xung quanh là các khách sạn, hàng quán. Định tìm một quán
ăn của người Tây Tạng để tìm hiểu đặc sản ở đây
nhưng không thấy.
Buổi
sáng, rảo bước khắp một đoạn dài trên Bắc Kinh trung lộ
vẫn chỉ thấy toàn là nhà hàng, quán ăn, quầy lưu niệm
của người Hán. Theo tài liệu gần đây, Tây Tạng là khu
dân cư thuần nhất với 95% dân số là dân tộc Tạng nhưng
có lẽ đó là những số liệu thống kê cũ, chưa được cập
nhật?
Nhưng
rồi chúng tôi cũng tìm thấy một quán trà bơ của người
Tây Tạng. Quán nhỏ nhưng đông, khách tràn ra cả ngoài đường.
Buổi sáng trời lạnh ngắt, uống tách trà bơ (làm từ sữa
bò yak) mùi hơi gây gây nhưng cái hậu ngọt, thơm rất nhẹ
nhàng tự nhiên thấy ấm người hẳn. Chỉ cần 1 tệ (2.000
đồng) là có thể ngồi uống mệt nghỉ. Mỗi bàn để sẵn
một bình trà bơ nóng, uống hết chủ quán lại châm tiếp
bình khác.
Chúng
tôi cũng đến cung điện Potala (chữ potala là phiên âm của
chữ phổ đà la, tức là cung điện của bồ tát), nơi ở,
làm việc ngày xưa của các vị Phật sống của người Tây
Tạng: Đạt Lai lạt ma. Từ chỗ tôi ở đến Potala khoảng
2km, ăn sáng, đi bộ đến cũng vừa lúc nắng lên.
Biểu
tượng thành phố Lhasa - điện Potala - vẫn đẹp như ngàn
năm nay nhưng bước vào trong bạn sẽ hiểu được ngay đó
chỉ còn là cái vỏ không hồn. Lại một vài “anh lạt ma”
ngồi ở góc điện đợi gom tiền của du khách cúng dường,
còn có một vài anh lính mặc quân phục, nai nịt súng ống
hẳn hoi (tuy họ rất lịch sự với du khách). Không tiếc 100
tệ (200.000 đồng) mua vé vào cửa nhưng cái mất mát của
cảm giác thiêng liêng về ngôi đền - kỳ quan thế giới -
thì tôi cứ tiếc mãi.
Đi
bộ lang thang khắp các đường phố Tây Tạng tự nhiên tôi
thấy chán vì các hàng quán, cửa hiệu nhan nhản trên phố
không mấy khác so với nhiều tỉnh, thành khác ở Trung Quốc.
Khác chăng chỉ ở mọi tấm bảng hiệu ngoài phần tiếng
phổ thông khá lớn ở giữa thì phần phía trên có dòng chữ
Tây Tạng nhỏ xíu. Khắp đường phố người ăn xin cũng khá
nhiều.
Lhasa
nhỏ nhưng những cơ quan công quyền, các cơ sở, cơ quan đều
được xây dựng cực kỳ bề thế, đều tọa lạc
tại những con đường đẹp nhất. Có một điều buồn cười
và khá lạ là cứ bước lên taxi thì trả 10 tệ (khoảng 20.000
đồng) và cứ việc đi bất cứ đâu trong thành phố.
Có lẽ do Lhasa quá nhỏ chăng?
Con
đường thế kỷ
Con
đường sắt “xuyên thế kỷ” từ Cách Nhĩ Mộc đến Lhasa
này phải xuyên qua hàng chục trái núi trong điều kiện thời
tiết vô cùng khắc nghiệt
Ngày
nay bất kỳ ai đến khu tự trị hẳn cũng sẽ ngạc nhiên
tột độ trước sự thay đổi không ngờ của bộ mặt
Tây Tạng. Hạ tầng cơ sở tại đây đã được Chính phủ
Trung Quốc đầu tư tối đa.
Với
diện tích 1,2 triệu km2 (gần gấp bốn lần diện tích VN)
nhưng dân số chỉ vài triệu người, vậy mà đường xây
rất rộng rãi, cửa hàng san sát không khác mấy với kiểu
đô thị của Thành Đô (Tứ Xuyên).
Đặc
biệt là cầu đường, thậm chí cả những nơi hẻo lánh hầu
như chỉ có khách hành hương đi lại, đường sá, cầu cống
cũng rất thuận tiện, chưa kể những công trình bệnh viện,
trường học…
Mới
đây Chính phủ Trung Quốc đã sử dụng hơn 12 triệu USD để
thiết lập 70 đài phát thanh tại Tây Tạng nhằm thúc đẩy
việc phát triển kinh tế, duy trì sự ổn định xã hội tại
đây. Tuy nhiên, đáng kể nhất chính là tuyến đường sắt
nối liền từ Cách Nhĩ Mộc (tỉnh Thanh Hải) đến Lhasa (Tây
Tạng) với tổng số tiền do Chính phủ Trung Quốc đầu tư
lên tới 7 tỉ USD.
Đáng
nói là chính công trình này, từ những năm 1990 khi được
Chính phủ Trung Quốc mời nghiên cứu thực hiện, sau một
thời gian điều nghiên thực địa, các chuyên gia hàng đầu
của châu Âu đã lắc đầu từ chối vì cho đó là chuyện
không tưởng khi phải đào hầm xuyên qua hàng chục trái núi
trong điều kiện khí hậu, tự nhiên quá khắc nghiệt.
Thật
ra sự quyết tâm của Chính phủ Trung Quốc trong việc đầu
tư cho Tây Tạng cũng vì vị trí chiến lược về kinh tế,
quốc phòng của nơi này: phía nam sát dãy Himalaya và tiếp
giáp lãnh thổ với các nước Nepal, Bhutan, Ấn Độ, Myanmar,
Sikkim... Phía tây giáp với khu vực Kashmir.
Trong
tương lai Tây Tạng có khả năng trở thành con đường thông
thương giao lưu giữa Trung Quốc với các nước Nam Á. Những
ngày cuối năm 2004, tuyến đường sắt Thanh - Tạng nối tỉnh
Thanh Hải với Tây Tạng, dài 1.118km, có độ cao 4.000m trở
lên, nơi cao nhất tới 5.072m đã hoàn thành được hơn 2/3.
Các trục đường quốc lộ quan trọng đến Tây Tạng từ
Tứ Xuyên, Vân Nam và Tân Cương cũng đã được lên kế hoạch.
Theo
dự kiến, tuyến đường sắt Thanh Hải - Tây Tạng sẽ hoàn
thành vào năm 2007. Khi đó những thị trấn, đô thị sẽ mọc
lên dọc tuyến xe lửa... Bất giác thấy lòng mình nghĩ vẩn
vơ: những người Tây Tạng “nhút nhát”, sống khép kín
có lẽ không phù hợp với sự văn minh, họ sẽ đi đâu? Về
bên kia những dãy núi phủ đầy băng giá chăng?
Nằm
lạy theo phương thức ngũ thể của người Tây Tạng trước
cửa đền Đại Chiêu
Đêm
đầu tiên về đến nhà sau gần ba tuần lang thang trên 15.000km
với đủ mọi phương tiện: xe buýt, tàu lửa, tàu cánh ngầm,
máy bay và cả… đi bộ, lẽ ra phải ngủ ngon nhưng tôi cứ
trằn trọc.
Tôi
đốt chút cỏ hương mang về từ Tây Tạng. Mùi hương hơi
gắt, nồng khá “khó chịu” đối với tôi từ những ngày
đầu đến cao nguyên Thanh Tạng nay cứ đẩy tôi về với
những kỷ niệm chưa kịp phủ lớp bụi thời gian.
Trong
làn khói mỏng như hiện ra hình ảnh những dãy núi phủ đầy
tuyết trắng; đoàn người Tây Tạng hành hương tay xoay bánh
xe luân hồi miệng rì rầm đọc kinh ê a như một giai điệu
bất tận; vị lạt ma tụng kinh trong nắng sớm những ngày
đầu đông và cả tiếng trống tụng kinh vẫn gõ nhịp đều
đặn, khoan thai giữa thế giới xô bồ trần tục…
Hồn
tôi e gửi về Tây Tạng mất rồi!
NGUYỄN
TẬP