LẬP
NGUYỆN LỚN
Con
người cầu học, cầu hiểu, luôn băn khoăn đi tìm sự thật
như Huyền Trang, không bao giờ chịu ở yên một chỗ. Ngài
thường nói: "Học phải cốt kinh lịch cho xa, nghĩa phải cốt
khai thông cho đến nguồn gốc. Nếu chỉ trông ngóng ở một
nơi thì chẳng bao giờ đạt được huyền áo". Trong thời
gian ở Thành Ðô, Ngài có đi du lịch và tìm học hỏi ở
Xuyên Ðông, Xuyên Tây, nhưng Ngài chưa lấy làm thỏa chí.
Năm 27 tuổi, với một ý chí cầu tiến không bao giờ nguôi,
Ngài yêu cầu anh cho đi các xứ tìm kiếm danh sư ích hữu
để học hỏi, nhưng anh Ngài nặng tình huynh đệ không muốn
người em yêu quý xa mình, lại vì Thành Ðô là nơi giàu có
và yên tĩnh, nên không cho Ngài ra đi, mặc dù đã nhiều lần
Ngài khẩn nài. Huyền Trang đành phải trái lệnh anh, lén kết
bạn với người lái buôn, giong thuyền xuôi sông Trường Giang
qua thác Tam Giáp đi đến Kinh châu. [Thác Tam Giáp thuộc cõi
Huyện Quỳ gồm có ba thác: thác Diêm Dự, thác Cổ Ðường,
thác Vu Sơn, đều là những thác nước hiểm nghèo]
Tại
đây, Ngài vào ở chùa Thiên Hoàng, cùng các Tăng chúng nghiên
cứu giảng bàn Phật pháp. Ðược nửa năm, Ngài lại đi lên
tỉnh Hà Nam. Tại huyện Chương Ðức tỉnh này, có một vị
sư đạo đức cao xa, kiến giải rộng lớn, tên là Tuệ Hữu,
khắp nơi đều kính phục quy ngưỡng. Huyền Trang đến xin
thọ giáo với Tuệ Hữu, nghe vị sư này giảng dạy trong tám
tháng, không chán. Vị sư này lấy làm kinh ngạc cho tinh thần
cầu học của Huyền Trang, đã vỗ tay tán thán: "Ngươi thật
là hiếm có trong đời vậy!".
Huyền
Trang lại qua tỉnh Sơn Ðông, Hồ Bắc, đi gần khắp các tỉnh
phía bắc Trung Quốc, hễ nghe ai có đức hạnh, học hỏi nhiều,
bất luận là tăng hay tục, học thuyết trong hay ngoài đời,
Ngài liền đến thụ giáo.
Nhưng
học vấn càng cao xa, thì nghi vấn lại càng rộng lớn. Nhất
là thời bấy giờ, Phật giáo Trung Hoa chia làm nhiều tông
phái, mỗi tông phái đều có một sắc thái riêng biệt, không
biết dựa vào đâu làm căn bản.
Kinh
dịch thì rất ít, vụng về, thêm vào đấy các danh từ chữ
Phạn thì mỗi người phiên âm mỗi cách, ý nghĩa uyên thâm,
nói được một điều thì bỏ sót đến ba điều. Nếu muốn
chỉnh đốn kinh điển cho đúng với giáo lý, giải quyết
những mối nghi ngờ, hiểu rõ cùng tột ý nghĩa sâu xa, huyền
diệu của đạo thì phải tìm đến nguồn gốc Phật giáo,
nơi phát sinh là Aán Ðộ. Từ đó, Huyền Trang lập nguyện
lớn là làm một cuộc Tây du.
Lúc
bấy giờ Tràng An bắt đầu ổn định, các bậc trí thức,
học giả, các hàng cự phách trong các học phái kéo nhau về
hùng cứ ở Tràng An lập đàn giảng dạy. Năm Huyền Trang
31 tuổi có một vị cao tăng là Ba-pha-mật-đa-na, học trò
của Ngài Giới Hiển ở chùa Na Lan Ðà từ Ấn Ðộ đi đường
bể sang Tràng An. Vị sư này tinh thông kinh điển của Tiểu
thừa lẫn Ðại thừa. Ngài Huyền Trang mừng rỡ đến xin
thỉnh giáo vị này, yêu cầu giải quyết cho những điểm
nghi ngờ từ bấy lâu nay. Nhờ cuộc gặp gỡ ấy, Huyền Trang
thu thập được rất nhiều điều bổ ích. Ngài chắc rằng
ở Ấn Ðộ còn có rất nhiều vị đại đức cao tăng có
thể giải đáp những điều nghi vấn trong kinh Phật. Ý nghĩ
ấy lại càng nung đúc thêm chí nguyện sang Ấn Ðộ của Ngài.
Nhưng
đường sang Aán Ðộ đâu phải dễ dàng! Ðường dài vạn
dặm, muôn trùng hiểm trở, phải qua sa mạc Qua Bích (Gobi)
là một biển cát mênh mông, ban ngày nóng như lửa, ban đêm
lạnh như tuyết, phải vượt qua Hy-mã-lạp-sơn là dãy núi
cao nhất thế giới, tuyết phủ quanh năm, phải trèo bao nhiêu
đèo, lội bao nhiêu suối, vượt bao nhiêu sông! Ðó là chướng
ngại của thiên nhiên. Còn chướng ngại của người đời
cũng không phải là ít: nào tiếp xúc với bao nhiêu sắc tộc
dân khác nhau, ngôn ngữ bất đồng, tập quán sai khác, nào
phải đối phó với bọn cướp núi, cướp sông, bọn đầu
trâu mặt ngựa. Thêm vào đấy, một trở ngại lớn nhất
là sự cấm đoán của triều đình. Trong lúc mới dựng nghiệp
đế, nhà Ðường nhất thiết không cho một thường dân nào
ra khỏi nước về phía Tây là nơi có nhiều giống dân chưa
được bình định.
Nhưng
chí nguyện của Huyền Trang đã quyết, thì không một trở
lực gì có thể cản ngăn được, dù là trở lực của thiên
nhiên hay của người đời. Nhiều người biết ý định Tây
du của Ngài, hết sức cản ngăn, viện bao nhiêu điều khó
khăn trở ngại, Ngài trả lời:
Xưa
đức Pháp Hiển, Trí Nghiêm đều là kẻ sĩ một đời mà
còn hay đi cầu Pháp, để làm lợi cho quần sanh, lẽ nào lại
không ai nối theo được cao tích ấy mà để tuyệt mất thanh
phong đi? Ðã là người đại trượng phu thì phải nên theo
đòi cho kịp những gương sáng ấy.
Ngài
thường tự bảo, ở đời nếu chỉ biết trọng sinh mệnh
mà coi khinh sự nghiệp, thì sự nghiệp tất sẽ không ra gì,
mà sinh mệnh rồi cũng sẽ nát với cỏ cây. Một đời không
có chí lớn, cứ quanh đi quẩn lại, lo sợ ngó trước dòm
sau, rốt cuộc cũng thành ra một đời hư sinh vô bổ.
Do
những ý nghĩ đúng đắn, vững chắc như vậy, Ngài lại càng
củng cố thêm chí nguyện rộng lớn của mình.
Một
mặt, Ngài kết bạn với những nhà sư cùng một chí nguyện,
dâng biểu lên Ðường Thái Tông xin cho xuất ngoại để du
học, một mặt Ngài chuyên tâm học tập tiếng nói và văn
tự các nước Tây Vức và Ấn Ðộ. Lại biết trước đường
đi sẽ muôn vàn khó khăn hiểm trở, Ngài tập chịu đựng
gian khổ, thức khuya, dậy sớm, bớt ăn, bỏ ngủ, dãi nắng,
dầm sương, làm tấc cả mọi thứ khó nhọc khổ sở để
thử xem lòng mình có chịu đựng được không. Tuy đã nhận
thấy sự kiên gan, trì chí của mình vững bền như sắt đá,
Ngài vẫn không quên sự hỗ trợ lớn lao của chư Phật và
Bồ-tát. Ðêm đêm Ngài quỳ trước bàn Phật, ngước lên
nhìn tượng đức Như Lai, thành kính nguyện cầu sự gia hộ
cho cuộc Tây du của mình được thành tựu.
Một
đêm, vào năm 629, Ngài nằm mộng thấy núi Tu-di cao chót vót
nổi lên giữa bể mênh mông. Ngài nhảy xuống biển, không
ngại ngùng sóng to gió lớn, quyết tâm bơi cho tới chân núi.
Bỗng một tòa sen nổi lên dưới chân Ngài, và đưa Ngài đến
chân núi. Nhưng ngọn núi này quá hiểm trở, khó có thể trèo
lên được. Bỗng một luồng gió lạ nổi dậy, đưa Ngài
bay bổng lên tận ngọn núi. Một chân trời mênh mông hiện
ra dưới chân Ngài, bao nhiêu đất nước, xứ sở đều hiện
rõ ra trước mắt, làm Ngài sảng khoái vô cùng. Ngài sực
thức dậy và càng thêm tin tưởng ở sự thành tựu của nguyện
vọng mình.
Nhưng
đợi mãi, vẫn không thấy giấy tờ gì của triều đình đặc
cách cho xuất ngoại, mấy người bạn của Ngài đã nản chí
thối lui. Ngài cũng không thể đợi thêm được nữa, nhất
quyết phải ra đi. Năm Trinh Quán thứ ba đời Ðường Thái
Tôn (629), miền phụ cận kinh đô Tràng An gặp phải tai nạn
mưa đá mất mùa, dân chúng đói khó, nhà vua mới hạ lệnh
cho dân chúng tản mác ra các miền phong phú mà mưu sống. Ngài
thừa cơ hội đó, đi về phía Tây.
Năm
ấy Ngài đã 34 tuổi.