QUA
NĂM PHONG HỎA ÐÀI VÀ
SA
MẠC QUA-BÍCH (GOBI)
Từ
đây, một mình một ngựa, Ngài Huyền Trang bắt đầu đi vào
sa mạc mênh mông: một bể cát rộng lớn, không biết đâu
là bờ bến, sóng cát nhấp nhô, lỗi lõm, không có lối đi,
chỉ lần theo những đống xương khô cùng phân ngựa, lạc
đà mà tiến bước. Ngựa đi từng bước chậm chạp khó khăn
trong gió cát. Từng hồi, Ngài thấy hiện ra trước mắt mình
hàng trăm ngàn binh mã ở phía chân trời, khi thì tiến lên,
khi thì dừng lại. Những binh lính ấy ăn mặc theo rợ Qua
Bích; lạc đà và ngựa trang bị lộng lẫy, giáo mác sáng
lòa. Trong chốc lát binh đội ấy biến đâu mất cả, rồi
những hình tướng quái dị khác lại hiện lên, nhưng khi đến
gần lại không thấy đâu nữa! Ngài Huyền Trang tưởng mình
đang bị đạo quân của Ma vương khuấy rối. Nhưng không,
đây chỉ là những ảo ảnh của sa mạc, do hơi nóng gây ra.
Trước những cảnh tượng ấy, Ngài không chút sợ hãi, tự
bảo: "Chết ta chẳng sợ, còn sợ cái gì?"
Ði
được tám chục dặm, Ngài trông thấy từ xa tòa phong hỏa
đài thứ nhất hiện ra. Sợ đi giữa ban ngày lộ tông tích,
Ngài ẩn núp ven một cái khe cát, đợi tối mới tiếp tục
đi.
Khi
hoàng hôn xuống, Ngài dò lần đến bên phong hỏa đài, thấy
có một ao nước trong. Ngài xuống ngựa, cúi lấy cái túi
bằng da định múc nước, thì một mũi tên bay qua đầu, và
tiếp theo một mũi tên khác gần trúng đầu gối. Nhận thấy
hành tung mình đã bị bại lộ, Ngài kêu to:
–Xin
đừng bắn tôi! Xin đừng bắn tôi! Tôi là nhà sư ở Tràng
An đến đây.
Nói
xong Ngài dắt ngựa đến bên cửa thành. Bọn lính mở cửa
thành và dẫn Ngài vào hội kiến với quan Hiệu úy là Vương
Tường.
Vương
Tường cũng là một Phật tử. Sau khi xét hỏi xong, biết được
chí nguyện cao cả của Ngài, viên quan này rất lấy làm khâm
phục. Nhưng nhận thấy đường đi khó khăn, Vương Tường
có ý mời Ngài về trụ trì tại một ngôi chùa ở Ðôn Hoàng,
là quê hương của mình. Ngài trả lời:
–Từ
nhỏ, bần tăng đã dốc lòng theo đạo Phật. Trong hai kinh
đô Lạc Dương và Trường An những cao tăng, đại đức không
nề hà khó nhọc để khai thị cho bần tăng nghiên tầm giáo
pháp. Bần tăng đã khổ công tu học đến nay, thật không
dám dối gì Hiệu úy, bần tăng cũng là một danh tăng của
Trung Hoa. Nay để trau dồi thêm trí đức, có lý nào bần tăng
lại đến Ðôn Hoàng để chôn lấp cuộc đời ở một ngôi
chùa nhỏ hay sao?
Sau
khi đã viện lý lẽ vững chắc ấy, Huyền Trang lại tấn
công viên Hiệu úy về mặt tình cảm và gợi lên mối ưu
tư của một Phật tử đối với tiền đồ của Phật giáo
nước nhà:
–Từ
lâu, bần tăng đã xót xa cho sự thiếu sót về kinh điển
và sự phiên dịch kém khuyết của kinh sách Phật giáo nước
nhà. Bần tăng đã nguyện hy sinh thân mạng, không quản ngại
gian nguy để sang Ấn Ðộ thỉnh kinh mà đức Bổn Sư đã
để lại. Ðáng lẽ ngài phải khuyến khích bần tăng mới
phải, có lý nào ngài khuyên bần tăng trở lại nước nhà?
"Ngài
bảo là ngài cũng chia sẻ với bần tăng lòng từ bi đối
với chúng sinh đang lặn hụp trong bể sinh tử luân hồi và
sẵn sàng giúp bần tăng để tìm phương thuốc giải thoát
cho nhân loại, thì sao ngài còn buộc bần tăng phải ở lại
hay trở lui về Tràng An? Nếu ngài nhất quyết không cho đi,
thì bần tăng xin nhận hết hình phạt, chứ nhất quyết không
lùi một bước nào về phía đông".
Hiệu
úy Vương Tường vừa đuối lý, vừa cảm động trước ý
chí sắt đá ấy, giữ ngài lại một đêm. Ðến sáng hôm
sau, Vương Tường biếu Ngài nước uống, lương khô và thân
hành tiễn Ngài ra ngoài 10 dặm. Trước khi từ giã, Vương
Tường còn căn dặn:
–Pháp
sư cứ theo đường tắt này mà đi thì sẽ đến tòa phong
hỏa đài thứ tư. Quan Hiệu úy giữ đài là Vương Bá Lung,
là người nhà tôi, tâm địa lương thiện. Pháp sư đến đó,
nói là tôi đưa đến, chắc Bá Lung sẽ giúp đỡ cho pháp
sư.
Hai
người rơi lệ từ giã nhau. Ðến chiều, Huyền Trang đến
được phong hỏa đài thứ tư. Sợ người giữ đồn làm khó
cầm giữ lôi thôi, Ngài định lén lấy trộm nước rồi trốn
đi. Trong khi đang lấy nước, một mũi tên ở đâu bay ngang
đầu, Ngài đành phải kêu lên như lần trước, lính canh dẫn
Ngài đến yết kiến quan Hiệu úy là Vương Bá Lung. Sau khi
nghe Ngài kể sự tự, Vương Bá Lung biếu Ngài một túi da
đựng đầy nước, lương khô, cỏ cho ngựa, và dặn Ngài:
–Quan
Hiệu úy đồn thứ năm tánh khí hung bạo, khó lường được
sự bất trắc, vậy Pháp sư nên tránh đồn thứ năm, đi đường
khác, thẳng đến suối Dã Mã. Từ suối Dã Mã lại đi về
phía Tây là đến Mạc Hạ Duyên Tích. Ðường này dài 800
dặm, tên là Sa Hà (Sông Cát, tức là sa mạc Qua Bích – hay
là Gobi ngày nay). Ðường này rất nguy hiểm, không một giọt
nước, một ngọn cỏ, cát nóng như lửa, Pháp sư phải nên
muôn ngàn lần cẩn thận.
Ngài
Huyền Trang từ biệt Vương Bá Lung, đi vào trong biển cát,
nhắm suối Dã Mã và Mạc Hạ Duyên Tích mà đi. Trừ Ngài
và con ngựa, sự sống chết lịm ở nơi đây: không một bóng
chim, một vết thú, một ngọn cỏ, một giọt nước! Bão cát
rơi xuống như mưa giông, đánh vào mình Ngài và ngựa nghe
rào rào. Từng đám mây cát bay lại, mờ mờ mịt mịt, che
lấp cả chân trời. Ngài đi suốt ngày gần được một trăm
dặm, nhưng không tìm được suối Dã Mã. Thì ra Ngài đã lạc
đường! Ngài mệt nhừ, xuống ngựa, lấy túi nước ra uống.
Nhưng túi nước của Vương Bá Lung mới tặng to nặng quá,
mà Ngài thì đuối sức sau một ngày xông pha trong bão cát,
nên tuột tay, đánh đổ túi nước xuống cát! Thật là một
tai họa lớn lao nhất của người đi qua sa mạc. Mỗi giọt
nước là một giọt máu. Ngài thấy tất cả sinh lực, cuộc
đời, bao nhiêu hy vọng đều bị cái khát khao của sa mạc
hút mất trong nháy mắt theo với túi nước! Ngài buồn rầu,
lên ngựa quay lui, định bụng trở về tòa phong hỏa đài
thứ tư để lấy nước. Ngài theo phương Ðông đi được
10 dặm, bỗng hồi tâm nghĩ lại:
"Ta
đã phát nguyện nếu không đến được Tây Trúc thì không
lui về đông một bước nào. Nay sao ta lại quay lui? Thà đi
sang phương Tây mà chết, còn hơn là quay về hướng Ðông
mà sống".
Lập
tức Ngài quay ngựa nhắm về phương Tây thẳng tiến. Trời
đã tối hẳn. Bốn bề mù mịt; những đốm lửa ma trơi lập
lòe đây đó. Gió bão vẫn chưa ngừng. Trận mưa cát vẫn
tiếp tục xối xuống. Nhưng Huyền Trang lòng vẫn vững vàng
như bàn thạch, không chút sợ hãi, nao núng. Ngài vừa đi vừa
đọc kinh Bát Nhã. Ngài đi suốt bốn đêm năm ngày, một giọt
nước cũng không có ở trong cổ họng. Ban đầu chỉ thấy
môi lưỡi khô khan, sau cảm thấy toàn thân nóng rát, thở
ra hít vào đều đau đớn khó chịu. Mồm khô ruột cháy, đến
mắt cũng khô ráo, không mở ra được. Con ngựa cũng cứng
đờ, không bước nổi. Người và ngựa nằm vật ra trên một
phiến đá. Nhưng mặc dù đã kiệt lực. Ngài không ngớt niệm
danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ-tát. Ngài khấn:
"Lạy
đức Quán Âm! Trong chuyến đi này, con không vì giàu sang chức
tước. Con chỉ đi cầu Pháp, độ sanh. Ngài hãy thương xót
con, như đã thương xót bao nhiêu quần sanh chìm đắm trong
biển khổ, rủ lòng từ bi cứu vớt con ra khỏi bước cùng
này".
Ngài
cầu nguyện như thế cho đến nửa đêm thứ năm. Bỗng một
trận gió mát tê người thổi đến, như một thùng nước
lạnh dội lên toàn thân, Ngài dần dần hồi phục, mắt mở
ra được, con ngựa cũng đứng lên được. Thấy dễ chịu
trong mình, Ngài nằm thiu thiu ngủ. Ðược một chốc, bỗng
Ngài mộng thấy một người cao lớn dị thường, tay nắm
cờ, tay nắm giáo đứng trước mặt Ngài, nạt lớn:
–Tại
sao không mau mau tinh tấn lên đường mà còn nằm ngủ nữa!.
Ngài
vùng đứng dậy, hối hả lên đường. Con ngựa gắng gượng
đi được năm sáu dặm đường, bỗng nó quay sang lối khác,
chạy hăng lên, Ngài không làm sao cản lại được. Biết chắc
con ngựa đã nhận ra đường cũ, Ngài cứ để cho nó đưa
đi. Một chốc, Ngài nhận thấy một khoảnh đất có cỏ xanh
biếc. Giữa đám cỏ ấy có một giòng suối ngọt, trong vắt.
Ngài mừng quá, vội nhảy ùm từ trên mình ngựa xuống khe
nước, người và ngựa uống no nê, chê chán rồi nằm trên
cỏ ngủ suốt một ngày. Hôm sau, Ngài lại tiếp tục đi.
Sau hai ngày nữa, Ngài mới ra khỏi sa mạc Mạc Hạ Duyên Tích
(Qua Bích) và đến địa giới nước Y Ngô.
Tính
ra Ngài đã đi qua tám trăm dặm trên sa mạc Qua Bích (Gobi).
Vào
nước Y Ngô, Ngài Huyền Trang đến trọ ở một ngôi chùa
cổ. Trong chùa có ba vị sư Trung Hoa. Vị già nhất, nghe tin
Ngài đến, không kịp đắp y, chạy chân không ra đón Ngài,
nghẹn ngào nói giọng đầy nước mắt:
–Nào
ngờ ở chốn này mà còn gặp được người cố hương".
Huyền
Trang cũng không cầm được lệ.